SKKN xây dựng hệ thống bài tập rèn kỹ năng quan sát tìm ý trong văn miêu tả cho học sinh lớp 2,3 - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KỸ NĂNG QUAN SÁT
TÌM Ý TRONG VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2, 3”

1


A, MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua các phân môn khác nhau:
học vần, tập đọc, tập viết, chính tả, luyện từ và câu, kể chuyện, tập làm văn. Phân môn
Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học Tiếng Việt xét trên hai phương diện:
- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các
phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng. Để làm
được một bài làm văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện cả bốn kĩ năng: đọc,
nghe, nói, viết, phải vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt. Trong quá trình vận dụng này,
các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần .
- Phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản (nói,
viết). Nhờ vậy tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần,
từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao
tiếp, tư duy, học tập. Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã góp phần hiện thực hóa
mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng
tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học.
Ở Tiểu học phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng từ óc quan
sát tới trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết được tới khả năng nhào nặn các
vật liệu có thực trong đời sống để xây dựng nhân vật, xây dựng cốt truyện. Khả năng tư
duy logic của học sinh cũng được phát triển trong quá trình học các kiểu bài có phong
cách nghệ thuật, việc phân tích đề, lập dàn ý…giúp cho khả năng phân tích, tổng hợp,
phân loại, lựa chọn… của trẻ được rèn luyện để trở nên sắc bén hơn. Ở Tiểu học, học sinh


2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
2.1. Mục đích nghiên cứu.
Đưa ra hệ thống bài tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý trong văn miêu tả cho học sinh
lớp 2-3.
Hệ thống bài tập phải đúng đắn, hợp lý về tính khoa học, sư phạm, phù hợp với mục
tiêu dạy học văn miêu tả ở tiểu học, bổ trợ đắc lực cho các bài tập dạy văn miêu tả trong
sách giáo khoa lớp 2-3, có tính khả thi, đạt hiệu quả cao.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận và thực tiễn làm cơ sở để xây dựng bài tập giúp học
sinh lớp 2-3 có kỹ năng quan sát, tìm ý.
- Tìm hiểu và đánh giá những bài tập có nội dung dạy văn miêu tả (mức độ sơ giản)
ở lớp 2-3 trong quan hệ với nhiệm vụ chuẩn bị cho sự tiếp nối kiến thức và kĩ năng trong
nội dung dạy văn miêu tả ở các lớp 4-5.
- Xây dựng hệ thống bài tập giúp cho học sinh lớp 2-3 rèn kĩ năng quan sát, tìm ý.
- Tổ chức dạy thực nghiệm các bài tập làm văn làm rèn kĩ năng quan sát tìm ý trong
văn miêu tả cho học sinh lớp 2,3 nhằm kiểm tra tính khả thi của bài tập đưa ra.

3


3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Việt ở Tiểu học, trọng tâm là phân môn
Tập làm văn.
- Thực tế dạy và học các bài tập ở sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2-3 có liên quan
đến nội dung rèn kĩ năng quan sát, tìm ý dạy văn miêu tả ở lớp 2-3.
- Các bài tập nói và viết (quan sát hoặc tả ngắn) của học sinh tiểu học.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
4.1. Phương pháp thống kê – phân loại.
4.2. Phương pháp phân tích.

thực tế (bởi các bài tập Tiếng Việt thường là các tình huống trong thực tiễn).
Việc giải bài tập của học sinh là một phương tiện kiểm tra rất tốt. Qua việc làm bài
tập, học sinh có thể tự kiểm tra xem mình đã nắm vững lí thuyết chưa. Cũng qua việc làm
bài tập của học sinh, giáo viên sẽ nhận được tín hiệu phản hồi về việc lĩnh hội của học
sinh, từ đó điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình.

5


Việc giải bài tập đòi hỏi học sinh làm việc độc lập, phát huy tính sáng tạo, phát triển
tư duy, đồng thời rèn luyện ở các em tính cẩn thận, chu đáo, bền bỉ…
Để học sinh lớp 2-3 bước đầu có những ý niệm, những kĩ năng sơ giản về văn miêu
tả, học sinh phải được làm các loại bài tập cùng kiểu, cùng mục đích làm quen với văn
miêu tả. Việc thực hiện các bài tập đó được lặp đi lặp lại tới chừng mực nào đó thì kĩ
năng mới dần hình thành.
Mặt khác, phương pháp dạy học mới là hướng tới xác lập một quá trình dạy học để
tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình dạy học. Điều này có nghĩa là trong giờ học,
cách dạy học thầy giảng, trò ghi phải chuyển thành thầy tổ chức việc làm, trò thực hiện
thi công. Do vậy, hệ thống bài tập hiện nay không chỉ là thực hành mà đó còn là con
đường, là cách thức mà thông qua đó, học sinh sẽ tự tìm kiếm tri thức, hình thành kĩ
năng. Chẳng hạn chỉ có thể tổ chức cho học sinh quan sát tìm ý và kiểm soát, điều chỉnh
kết quả quan sát tìm ý của các em thông qua các câu hỏi, bài tập hướng dẫn quan sát.
Chẳng hạn, để học sinh bước đầu có thói quen quan sát cảnh từ bao quát đến cụ thể, giáo
viên phải có câu hỏi, bài tập định hướng.
Ví dụ: Bài Quan sát tranh – trả lời câu hỏi.
a) Tranh vẽ cảnh gì?
b) Sóng biển như thế nào?
c) Trên mặt biển có những gì?
d) Trên bầu trời có những gì?
(Tiếng Việt 2, tập một, trang 67)

- Bài tập trả lời câu hỏi.
- Bài tập quan sát tranh và trả lời câu hỏi
- Quan sát tranh (hoặc vật thật) để miêu tả
- Bài tập đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi
- Bài tập sắp xếp lại thứ tự các câu văn cho trước
- Lập dàn ý theo đề bài
- Nói hoặc viết đoạn văn dựa vào các câu hỏi gợi ý
v.v…
c) Xét theo kĩ năng làm văn được rèn luyện (kĩ năng sản sinh văn bản), hệ thống bài tập
được chia thành:
- Bài tập rèn kĩ năng xác định yêu cầu của đề bài.
- Bài tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý.
- Bài tập rèn kĩ năng sắp xếp ý (lập dàn ý)
- Bài tập rèn kĩ năng sửa chữa, hoàn chỉnh đoạn văn, bài văn

7


d) Xét theo dạng lời nói được rèn luyện, có thể chia thành:
- Bài tập rèn kĩ năng nói
- Bài tập rèn kĩ năng viết
v.v…
Ở bài viết này, tôi chỉ xem xét các bài tập giúp học sinh quan sát –tìm ý văn miêu
tả trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2-3 và xây dựng một số bài tập bổ trợ theo mạch
các kĩ năng quan sát, tìm ý làm văn miêu tả cần được rèn luyện cho học sinh.
1.2. Đặc điểm nhận thức, khả năng ghi nhớ và đặc điểm tư duy của học sinh lớp 2-3
và kỹ năng quan sát, tìm ý khi làm văn miêu tả.
1.2.1. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 2-3.
Như bất kì một hệ thống bài tập nào khác, bài tập giúp học sinh lớp 2-3 làm quen với
quan sát, tìm ý trong văn miêu tả cũng phải dựa vào đặc điểm hoạt động nhận thức của

2. CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG QUAN SÁT, TÌM Ý
TRONG VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2-3.
2.1. Những yêu cầu về kĩ năng làm văn miêu tả ở lớp 2,3.
Ở lớp 2, yêu cầu về kĩ năng miêu tả chỉ ở mức độ tả ngắn (3 đến 5 câu) xoay quanh
các đề tài gần gũi:
- Tả ngắn, giới thiệu về người thân (ông, bà, bố mẹ, thầy cô giáo…)
- Tả ngắn về một con vật gần gũi như con chim, con gà, con chó, con mèo.
- Tả cảnh (theo tranh) qua các câu hỏi.
Lên lớp 3, kĩ năng miêu tả mà học sinh cần đạt ở mức độ cao hơn. Học sinh phải viết
được một đoạn văn (5-7 câu), nhiều nhất là 10 câu tả ngắn về người thân trong gia đình,
trường lớp, quê hương, lễ hội, hoạt động thể thao – văn nghệ. Yêu cầu kĩ năng làm văn
miêu tả ở lớp 2-3 ở mức đơn giản nhằm chuẩn bị cho lớp 4-5 các em sẽ được trang bị và
rèn luyện các kĩ năng làm văn miêu tả một cách đầy đủ.
Nhiệm vụ dạy học văn miêu tả cho học sinh tiểu học được chương trình đề ra theo
hai mức độ lớp 2-3 và lớp 4-5 với những yêu cầu cụ thể. Lớp 2-3 chuẩn bị các kĩ năng bộ
phận và ở mức độ đơn giản, làm tiền đề cho lớp 4-5. Lớp 4-5 học sinh sẽ học kiến thức,
được rèn luyện kĩ năng làm văn miêu tả một cách có hệ thống và bài bản.
Tuy nhiên, để học sinh lớp 2-3 được chuẩn bị tốt về kĩ năng làm văn miêu tả, các em
phải thường xuyên thực hành luyện tập. Chính vì vậy, xây dựng các bài tập bổ trợ giúp
học sinh lớp 2-3 làm quen với văn miêu tả là việc làm cần thiết.
2.2. Các bài tập giúp học sinh làm quen với văn miêu tả trong sách giáo khoa Tiếng
Việt lớp 2-3.
a. Bài tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý.
a1) Bài tập quan sát tranh – trả lời câu hỏi:
a2) Bài tập đọc văn bản – trả lời câu hỏi.
9


b. Bài tập rèn kĩ năng sắp xếp ý, trình tự tả.
b1) Bài tập sắp xếp ý


10


bài tập rèn các giác quan được sử dụng trong quan sát chưa được chú ý (cả hai lớp 2 và 3
chỉ có một bài).
(3) Việc sắp xếp các bài tập rèn kỹ năng quan sát, tìm ý cũng chưa thể hiện rõ được
tính hệ thống. Ví dụ như trước khi tổ chức cho học sinh làm bài tập quan sát tranh – trả
lời câu hỏi, cần tổ chức cho học sinh làm bài tập nhận diện các giác quan được sử dụng
trong quan sát. Bởi lẽ việc tìm ý và lựa chọn ý bao giờ cũng được hình thành từ các thao
tác nhìn, nghe, xem tranh…
(4) Một số bài tập có câu hỏi chưa thật phù hợp với trình tự quan sát.
Ví dụ như: Bài tập trang 67, SGKTV2, tập một:
(5) Sách giáo khoa lớp 2 và 3 đều chưa có những bài tập quan sát vật thật.
Tuy hệ thống bài tập cho các kĩ năng tập rèn kĩ năng quan sát, tìm ý trong văn miêu
tả ở sách giáo khoa lớp 2-3 còn một số hạn chế nhưng ta cũng không thể phủ nhận rằng
bài tập này đều có giá trị cả về mặt khoa học và sư phạm, đảm bảo cho việc thực hiện
mục tiêu giáo dục. Còn có những điểm chưa thật hoàn chỉnh trong hệ thống bài tập rèn kĩ
năng quan sát, tìm ý trong văn miêu tả ở sách giáo khoa lớp 2-3 của phân môn Tập làm
văn, qua thực tế dạy học, tôi nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ giúp học sinh
lớp 2 và 3 rèn kĩ năng quan sát, tìm ý trong văn miêu tả được trình bày ở chương II.
CHƯƠNG II. XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG QUAN SÁT,
TÌM Ý TRONG VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 2-3.
1. Cơ sở xây dựng bài tập.
Các nhà tâm lí học cho rằng quan sát không chỉ là nhìn phải được hiểu là tổng thể
hoạt động của các giác quan bao gồm: nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy… “Quan sát là
hình thức cao nhất của tri giác”.
Đối với học sinh tiểu học, vốn sống, vốn hiểu biết của các em còn nghèo nàn, các em
đang trong quá trình khám phá, ưa quan sát, thích nhận xét, tìm hiểu thế giới xung quanh.
Qua quan sát, các em sẽ phát hiện ra đặc điểm riêng của từng đối tượng để chuẩn bị cho

c) Mặt bàn hình chữ nhật.
d) Trên mặt bàn vẽ hình cậu bé.

12


Bài 2. Quan sát tranh và trả lời câu hỏi
a) Tranh vẽ quả gì?
b) Quả có hình gì?
c) Màu sắc của quả ra sao?
d) Cuống nó như thế nào?
e) Khi bổ ra, ruột của nó có màu gì?
* Đáp án tham khảo.
a) Tranh vẽ quả cam.
b) Quả cam có hình tròn.
c) Quả cam khi chín có màu vàng.
d) Cuống của quả cam nhỏ và màu xanh đậm.
e) Khi bổ quả cam ra ta thấy ruột nó màu vàng nhạt.
Bài 3. Quan sát tranh và trả lời
câu hỏi:
a) Tranh vẽ hoa gì?
b) Bông hoa có hình dáng và màu
sắc
như thế nào?
c) Cánh hoa màu gì?
d) Nhụy hoa có màu gì?
* Đáp án tham khảo
a) Tranh vẽ hoa cúc.
b) Hoa cúc có hình tròn và màu vàng đậm.
c) Cánh hoa mỏng xếp xen kẽ nhau.


Bài 6. Quan sát tranh và trả
lời câu hỏi:
a) Tranh vẽ con gì?
b) Những bộ phận nào của
con vật làm em chú ý?
c) Bộ lông của nó có màu gì?
d) Mào nó như thế nào?
e) Nó thường làm gì vào mỗi
buổi sáng?

* Đáp án tham khảo
a) Tranh vẽ con gà trống.
b) Những bộ phận của gà trống làm em chú ý là: bộ lông, cái mào.
c) Mào gà đỏ chót, sần sùi, giống bông hoa mào gà.
d) Gà thường gáy vào mỗi buổi sáng sớm.
Bài 7. Quan sát tranh và trả lời câu hỏi:

15


a) Tranh vẽ ai?
b) Người đó thường làm ở
đâu?
c) Dáng chú thế nào?
d) Trên đầu chú đội mũ màu
gì?
e) Chú mặc quần áo màu gì?
g)Vai chú đeo đồ vật gì?
h) Hãy kể tên công việc mà

Bài tập nhận diện.
Bài 1. Đọc đoạn văn sau:

17


Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước
mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lưng
chú lấp lánh. Bốn cái cánh mỏng như
giấy bóng. Cái đầu tròn và hai con
mắt long lanh như thủy tinh. Thân
chú nhỏ và thon vàng như màu vàng
của nắng mùa thu. Chú đậu trên một
cành lộc vừng ngả dài trên mặt hồ.
Bốn cánh khẽ rung rung như còn
đang phân vân.

a) Em hãy tìm từ ngữ chỉ đặc điểm từng bộ phận chú chuồn chuồn nước và ghi vào bảng
dưới đây:
Các bộ phận

Đặc điểm

Đôi mắt
Cái đầu
Bốn cánh
Thân chú
b) Tác giả đã quan sát những bộ phận của chuồn chuồn nước bằng giác quan nào
(nhìn hay nghe)?
* Đáp án tham khảo

khóa kêu: tanh tách.
b) Để nhìn thấy ổ khóa của cặp được làm bằng sắt mạ kền sáng loáng, người viết đã
quan sát bằng mắt (thị giác).
- Để nhìn thấy ổ kháo mới, mặt khóa sáng lấp lánh, người viết đã quan sát bằng mắt
(thị giác).
- Để nghe thấy tiếng kêu “tanh tách” của khóa khi mở ra mở vào, người viết đã lắng
nghe bằng tai (thính giác).
Bài 3. Đọc đoạn văn sau:

19


Trong các loại quả em thích nhất là quả chuối. Quả chuối dáng cong cong, màu
vàng xuộm trông thật thích mắt. Bóc lượt vỏ đi, ruột chuối màu trắng ngà hiện ra mới
hấp dẫn làm sao! Cắn nhẹ một miếng, ta thấy vị ngọt mát lan tỏa.
Em hãy viết tên các giác quan được tác giả dùng để quan sát vào chỗ chấm trong
mỗi ô sau:
Để nhận ra hình dáng của quả
chuối tác giả quan sát
bằng:…………………….

Để nhận ra màu của ruột chuối
tác giả đã quan sát bằng:
……………………

Để nhận ra màu vỏ chuối tác giả
quan sát bằng:………….

Để biết chuối có vị ngọt tác giả
quan sát bằng: ……….

- Hoa mận: tàn
- Bầu trời: thêm xanh
- Nắng: vàng rực rỡ

21


- Cây: đâm chồi, nảy lộc
- Vườn cây: đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy
- Hoa bưởi: nồng nàn
- Hoa nhãn: ngọt
- Hoa cau: thoảng qua
- Chim chích chòe: nhanh nhảu
- Khướu: lắm điều
- Chim cu: gáy trầm ngâm
b) Tác giả sử dụng các giác quan:
Mắt (thị giác) để phát hiện ra hoa mận: tàn; trời: thêm xanh; nắng: vàng rực rỡ; cây:
đâm chồi, nảy lộc; vườn cây: đầy tiếng chim và bóng chim bay nhảy; chích chòe: nhanh
nhảu; chào mào: đỏm dáng. Tai (thính giác) lắng nghe thấy: khướu: lắm điều; chim cu:
gáy trầm ngâm. Xúc giác (mũi) hoa bưởi: nồng nàn; Vị giác (lưỡi): hoa nhãn: ngọt.
Bài 5. Đọc đoạn văn sau:
Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh mùa đông.
Lúa nặng trĩu bông, ngả đàu vào nhau, thoang thoảng hương thơm. Từng cơn gió nhẹ
làm cả biển vàng rung rinh như gợn sóng. Đàn chim gáy ở đâu bay về gù vang cánh
đồng, như hòa nhịp với tiếng hát trên các thửa ruộng. Các tổ lao động đang thoăn thoắt
đưa tay hái, xén ngang từng bụi lúa…
(Theo Trúc Mai)
a) Tìm những từ tả màu sắc của cánh đồng lúa chín.
b) Ngoài màu sắc (nhìn thấy), đứng ở cánh đồng lúa chín, tác giả còn ngửi thấy mùi
gì và nghe thấy âm thanh như thế nào?

sương tom tóp, lúc đầu còn loáng thoáng, dần dần tiếng tũng toãng xôn xao quanh mạn
thuyền.
(Lê Lựu)
a) Đoạn văn tả cảnh gì?
b) Tác giả chọn tả những sự vật nào trong cảnh đó?
c) Để thấy được đặc điểm của từng sự vật, tác giả đã sử dụng giác quan nào để quan
sát?
* Đáp án tham khảo:
a) Đoạn văn tả cảnh đêm khuya.
b) Trong cảnh đêm khuya tác giả tả gió, sương, bầy cá dưới ao.
c) Để thấy được đặc điểm từng sự vật, tác giả dùng mắt (thị giác): thấy sương đêm,
thấy bầy cá dưới ao. Ngoài ra, tác giả dùng tai (thính giác): nghe thấy tiếng gió: im lặng,
tiếng cá đớp mồi: tom tóp, tũng tẵng, xôn xao.

23


Bài 8. Em chọn câu trả lời nào dưới đây:
Để phát hiện ra đặc điểm từng sự vật, ta thường sử dụng:
a) Mắt ( thị giác)
b) Tai (thính giác)
c) Mũi ( khứu giác)
d) Lưỡi ( vị giác)
e) Kết hợp tất cả các giác quan trên
- Câu trả lời em chọn: ……………………………………………………..
* Đáp án tham khảo
Để phát hiện ra đặc điểm sự vật, ta thường kết hợp nhiều giác quan để quan sát.
Bài tập vận dụng
Bài 1. Em hãy sử dụng thị giác (mắt) để quan sát một số đồ vật trong ở nhà hoặc ở
lớp và ghi các đặc điểm nổi bật của chúng vào các cột phù hợp trong bảng dưới đây.

1

Cái bàn học

2

Cái chổi quét
nhà

Hình dáng
hình
nhật

chữ

Chất liệu

Màu sắc

Công dụng

làm bàng gỗ

màu cánh dán

ngồi học,
làm việc

màu vàng


bằng
màu ghi
gỗ/vải

màu trắng

lkẻ
để quần áo

Bài 2: Em hãy vận dụng các giác quan để quan sát hình dáng và các hoạt động của
con mèo nhà em (nhà hàng xóm), ghi kết quả quan sát theo gợi ý sau: (chú ý sử dụng các
từ chỉ đặc điểm, màu sắc).
Đầu:……………………
Ria………………………
…..
……………..mép:……………
Bộ lông :………..………

Mũi:……………………
Tiếng kêu:……..………
Lúc bắt chuột:
Lúc được ăn:
………………
………………

* Đáp án tham khảo:
- Đầu: tròn
- Ria mép: cứng
- Bộ lông: đen tuyền/ vàng nhạt/ màu xám tro
- Mũi: ươn ướt, đỏ hồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status