SKKN rèn phát âm tiếng việt cho học sinh lớp 1 dân tộc mông - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“RÈN PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC
MÔNG”


2

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn chuyên đề
Trường Tiểu học có vị trí, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp giáo dục. Là nơi tổ chức các hoạt động giáo dục tạo tính tự giác
trong quá trình phát triển của trẻ. Là công trình văn hoá giáo dục bền vững,
nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ. Học sinh Tiểu học là những chủ nhân
tương lai của đất nước, mà bậc Tiểu học là những viên gạch đầu tiên đặt
nền móng để các em bước vào ngưỡng cửa của tương lai. Các kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết và tính toán là các kỹ năng cơ bản của bậc Tiểu học cần
đạt được.
Để kết quả dạy và học có chất lượng cao đối với môn Tiếng Việt,
việc đầu tiên là phải giúp học sinh Tiểu học biết đọc, nói, viết đúng tiếng
Việt từ bậc Tiểu học nhất là đối với học sinh dân tộc thiểu số. Trong đó
nói, đọc tiếng Việt (tiếng phổ thông) là kỹ năng quan trọng nhất: đọc, nói
tiếng Việt có ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học, đọc, nói tiếng Việt trở thành một
đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học; đọc, nói tiếng Việt là
công cụ để học tập các môn học, đọc, nói tiếng Việt tạo ra hứng thú và
động cơ học tập, nó là khả năng không thể thiếu của con người thời đại
công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. chính vì vậy trường học có nhiệm
vụ dạy đọc, nói tiếng Việt cho học sinh nhất là học sinh dân tộc thiểu số
một cách có kế hoạch, có hệ thống. Đây là vấn đề mà các nhà quản lý giáo
dục và các thầy, cô giáo trăn trở trong nhiều năm qua với mong muốn tìm

4

PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Cơ sở tâm sinh lí, đặc điểm tâm lí học sinh Tiểu học
Học sinh Tiểu học, con người với cấu tạo đầy đủ các bộ phận của
một cơ thể đang phát triển. Trong đó, cơ quan phát âm, ngôn ngữ phát triển
mạnh, phù hợp với sự tiếp nhận và thực hiện dễ dàng các hoạt động mới
theo chức năng của chúng: chức năng phát âm-tập đọc.
Khả năng nhận thức, tư duy, tưởng tượng, tình cảm, trí nhớ và nhân
cách học sinh đang được hình thành, tiềm tàng khả năng phát triển và đang
phát triển.
Học sinh Tiểu học hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, hiếu động, tò
mò, thích hoạt động, thích khám phá, thường độc lập, tự lực làm việc
theo hứng thú của mình.
Thầy cô là hình tượng mẫu mực nhất được trẻ tôn sùng nhất, mọi
điều trẻ đều nhất nhất nghe theo, sự phát triển nhân cách của học sinh Tiểu
học phụ thuộc phần lớn vào quá trình dạy học và giáo dục của thầy, cô
trong nhà trường.
Rèn phát âm cho học sinh Tiểu học bước đầu đem đến sự vận động
khoa học cho não bộ và các cơ quan phát âm, ngôn ngữ đem đến những
tinh hoa văn hoá, văn học nghệ thuật trong tâm hồn trẻ, rèn kĩ năng đọc,
hiểu, cảm thụ văn học, rèn luyện tình cảm đạo đức, ý chí, ý thức, hành
động đúng cho trẻ, phát triển khả năng học tập các môn học khác là điều
kiện phát triển toàn diện cho học sinh Tiểu học trong giai đoạn hiện nay.
Nhân cách học sinh Tiểu học phát triển đúng đắn hay lệch lạc phụ
thuộc vào quá trình giáo dục của người thầy mà trong đó phương tiện chủ
yếu là nghe, nói, đọc, viết có được trong quá trình học tập. Dạy đọc đặc
biệt là chú trọng việc rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc
Mông, đòi hỏi người thầy phải phát âm chuẩn và có phương pháp dạy học

Âm chính

Âm cuối

2

3

4

* Thành phần ở vị trí 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm.
* Thành phần ở vị trí 2 là do âm đệm, đó là nguyên âm trong chữ viết,
được thể hiện bằng chữ o chẳng hạn (Loan); bằng chữ u (Xuân)…
* Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm. Âm
chính là hạt nhân của âm tiết.
* Thành phần ở vị trí 4 là âm cuối, do các phụ âm bán nguyên âm (i,
y, u, o) đảm nhiệm.
* Các thành phần ở vị trí 2, 3, 4 ghép lại với nhau thành một bộ phận
gọi là phần vần. Âm bao giờ cũng phải có âm chính và thanh điệu, vị trí
còn lại có thể có hoặc không.
- Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc: Bậc thứ nhất bao gồm các
thành tố của thành phần vần.
Âm tiết

Bậc 1: Thanh điệu

Bậc 2:

Âm đầu


ra bị cản ở chỗ nào đó trong bộ máy phát âm, phụ âm còn lại bị cản trở ở
môi; có loại bị cản ở răng; có loại bị cản ở lưỡi; có loại bị cản ở thanh hầu.
Về phương thức phát âm người ta chia âm phụ thành:
- Phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: b, d, t,
s, k, m, p, ng.
- Phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s, z, l, x, y, h.
- Phụ âm vang: Hơi thoát ra đầu lưỡi và bên lưỡi: m, n, nh.
- Phụ âm ồn: Hơi thoát ra đường miệng có tiếng ồn: b, d, t, k, p, f, v, x,
z, y, h.
- Phụ âm hữu thanh, vô thanh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây
thanh có rung hay không rung người ta chia ra:
+ Phụ âm hữu thanh: Dây thanh rung (d, v, y).
+ Phụ âm vô thanh: Dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h).
- Về vị trí cấu âm ta phân phụ âm thành:
+ Phụ âm môi: p, b, m, f, v,
+ Phụ âm lưỡi: d, t, s, z, l, n


7

+ Phụ âm hầu: h
Trong các âm lưỡi sự đối lập nhau giữa đầu lưỡi hẹp: r, t, s, z, l, n; đầu
lưỡi quật: đ, a.
Phần vần là do thành phần của âm đệm, âm chính, âm cuối ghép với
nhau thành một bộ phận gọi là phần vần.
Ví dụ: Âm tiết Loan:
O là âm đệm
A là âm chính
N là âm cuối
Oan là phần vần.


động dạy học sáng tạo của người thầy Tiểu học. Rèn phát âm phải tinh tế,
sáng tạo, hiệu quả nhưng phải gần gũi với thực tế cuộc sống của các em
chính là đã nghiên cứu vận dụng tốt những thành tựu của ngôn ngữ văn
học để chuyển thành văn bản viết tiếng Việt đúng, chính xác.
3. Cơ sở giáo dục và phát triển
Rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc Mông là một
phần thực hành trong các giờ học (đặc biệt là dạy học Tiếng Việt).
Nhiệm vụ quan trọng của nó là hình thành năng lực đọc, nói cho học
sinh. Năng lực đó thể hiện ở 4 yêu cầu: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý
thức (đọc hiểu) và đọc hay (đọc diễn cảm), nói đúng chuẩn. Cần phải
hiểu kĩ năng đọc, nói có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau.
Đầu tiên là giải mã chữ - âm tiếng Việt một cách sơ bộ, đọc, nói
đúng âm, vần, tiếng, từ tiếp theo đọc, nói là phải hiểu được nghĩa của từ,
tìm được các từ, câu “chìa khoá” (chốt, trọng yếu) trong bài, biết tóm tắt
nội dung của đoạn. Với những bài văn biết phát hiện ra yếu tố “văn” và
đánh giá được giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Như vậy, biết
đọc tiếng Việt đồng nghĩa với kĩ năng làm việc với văn bản tiếng Việt,
chiếm lĩnh được văn bản tiếng Việt ở các tầng bậc khác nhau. Người giáo
viên dạy cho học sinh học nói thông qua một số hoạt động kể lại, hỏi-đáp,
đối thoại...; học đọc thông qua các hoạt động luyện tập, phát âm, đọc theo
người lớn, đọc theo tranh có sự hướng dẫn của người lớn,...
II. Thực trạng của vấn đề
1. Thực trạng của việc rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh dân
tộc thiểu số nói chung
Rèn phát âm tiếng Việt là nhiệm vụ rất quan trọng đối với giáo viên
Tiểu học. Do đó, vấn đề dạy rèn phát âm tiếng Việt hiện nay đang được
quan tâm, chú trọng. Có nhiều chuyên đề, phương pháp đặt ra nhằm nâng
cao chất lượng phát âm tiếng Việt, chất lượng đọc cho sinh lớp 1.
Đối với học sinh dân tộc thiểu số, tiếng Việt không phải là

1

TH Hô Be xã Phúc Khoa

45

02

08

20

15

2

Tiểu học xã Hố Mít

41

00

07

15

19

- Sau khi tiến hành khảo sát thực trạng, tổ chức hội thảo, trao đổi,
thảo luận với các giáo viên chủ nhiệm và BGH thống nhất đưa ra một số

lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước
chân các em đến trường.
Thứ hai học sinh Tiểu học dân tộc Mông học tiếng Việt là học ngôn
ngữ thứ hai. Mặc dù học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối
với các em, trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng
Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong
đời sống các em là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt
cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên, bản năng.
Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người địa phương chỉ
sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến
thức về tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ
thường trực trong họ. Chính vì thế, mỗi lần các cán bộ xã, huyện về chủ trì
một cuộc họp nào đó ở làng, bản, họ phát biểu bằng tiếng Việt rất khó
khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng vào trong đời
sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời
trường, rời lớp. Dần dà các em không thể sử dụng tiếng Việt, quên ngay
những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ đó, đã khiến cho các em
thụ động, thiếu linh hoạt khi ở môi trường giao tiếp lớn hơn, vượt khỏi môi
trường cộng đồng dân cư nhỏ hẹp.
Thứ ba mặc cảm của học sinh dân tộc Mông khi đến trường học tiếng
Việt. Tiếp xúc, quan sát học sinh dân tộc Mông tại hai đơn vị trường, tôi
nhận thấy rằng, các em học sinh ở đây đã biết ý thức về nguồn gốc của
mình. Cái nghèo luôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khốn cùng cần
hiểu sâu sắc về nguồn gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân.
Nghèo đã giúp con người ta vươn lên nhưng nghèo cũng làm cho con
người luôn mặc cảm, tự ti, bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Mặc cảm số
phận đã khiến con người không thể thoát khỏi những thiếu thốn vật chất,
không thể vươn xa hơn không gian sống hiện tại. Những học sinh tiểu học
người dân tộc Mông ở đó ít có sự hồn nhiên của trẻ thơ, không chỉ có
"ngày hai buổi đến trường", các em còn phải miệt mài trên nương rẫy trỉa

- Một số giáo viên khi dạy học còn lạm dụng việc sử dụng tiếng dân
tộc Mông quá nhiều, không đúng cách, không đảm bảo việc dạy tiếng Việt
cho học sinh dân tộc.
* Nguyên nhân về phía gia đình và Ban đại diện cha mẹ học sinh
Ít quan tâm đến việc học tập và sử dụng giao tiếp bằng tiếng phổ
thông cho các em ở tại gia đình và trong cộng đồng, do công tác tuyên
truyền về lĩnh vực này chưa sâu rộng trong Ban đại diện cha mẹ học sinh
và phụ huynh học sinh. Do thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ của người dân
địa phương, bản thân các bậc phụ huynh cũng sai những lỗi đó (đặc trưng
dân tộc).
* Nguyên nhân về công tác chỉ đạo của Ban giám hiệu
- Ở các đơn vị trường việc chọn tuyển được giáo viên có năng lực
chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình trong việc rèn, dạy học sinh
lớp 1 còn gặp không ít khó khăn. Có những giáo viên có chuyên môn vững
vàng, có lòng nhiệt tình trăn trở với lớp học nhưng lại thiếu đi kinh nghiệm
dạy, rèn các kĩ năng cho học sinh…
- Các trường đều xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện chuyên môn
chưa phù hợp theo nhiệm vụ được giao trong từng năm học.
- Ban Giám hiệu các trường đã tạo điều kiện cho giáo viên giao lưu,
dự giờ, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của các đơn vị Tiểu học
tiên tiến trong huyện xong một số giáo viên chưa thực sự nhiệt tình, chưa
tự giác, chủ động trong việc tự đi dự giờ học hỏi kinh nghiệm và phương
pháp giảng dạy.


12

- Chất lượng đọc tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số còn
chưa cao, nhất là chất lượng đọc của học sinh dân tộc Mông.
- Giáo viên tuyển mới nhiều nên chưa có nhiều kinh nghiệm

hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn kết hợp với đánh giá xếp loại giáo viên
nghiêm túc một lần/tháng. Tập trung thực hiện tốt việc đổi mới phương
pháp dạy học, ứng dụng CNTT, vận dụng kiểm tra, đánh giá xếp loại học
sinh theo đúng Thông tư 32/2009 của Bộ Giáo dục Đào tạo.


13

- Tổ chức phát động và thực hiện tốt các cuộc vận động và các
phong trào thi đua do ngành, cấp trên phát động. Đặc biệt là phong trào
xây dựng môi trường thân thiện, học sinh tích cực gắn với việc xây
dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 nhất là các phong
trào thi đua đổi mới phương pháp giảng dạy, thi giáo viên dạy giỏi các
cấp nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
- Lập kế hoạch phân công dạy phù hợp, Ban Giám hiệu phải phân
công được những thầy cô có kinh nghiệm, tâm huyết theo dạy lớp 1. Có
thể nói phải vừa dạy vừa dỗ các em từ những cái sơ giản ban đầu đến
những kiến thức cơ bản của môn học.
- Tổ chức Hội nghị phụ huynh học sinh có đại biểu của chính
quyền địa phương và cấp trên tới dự, có giáo viên nòng cốt để bàn biện
pháp rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số. Đây là
nhiệm vụ hết sức quan trọng không riêng chỉ của nhà trường mà của cả
cộng đồng.
- Tích cực tổ chức sinh hoạt chuyên đề, hội thảo theo trường, theo
cụm trường để tìm biện pháp khắc phục tình trạng học sinh phát âm
(đọc, nói) tiếng Việt sai, ngọng như hiện nay. Tiếp tục tạo điều kiện
cho giáo viên đi học hỏi chuyên môn ở các trường khác.
2. Đối với Tổ trưởng tổ chuyên môn
- Sau khi nhận được danh sách học sinh đọc yếu, đọc sai tiếng Việt
của giáo viên báo cáo cần khẩn trương tổng hợp và báo cáo nhà trường.

chất tư duy. Để phát triển tư duy gắn liền với phát triển ngôn ngữ cho
học sinh, trong dạy học Tiếng Việt, người giáo viên cần chú ý các yêu
cầu cụ thể:
- Trong mọi giờ học đều phải chú ý rèn các thao tác tư duy. Đó là các
thao tác phân tích, so sánh, khái quát, tổng hợp... Đồng thời phải chú ý rèn
luyện cho các em phẩm chất tư duy nhanh, chính xác và tích cực...
- Phải làm cho HS thông hiểu được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ.
- Phải tạo điều kiện cho học sinh nắm được nội dung các vấn đề cần
nói và viết trong môi trường giao tiếp cụ thể và biết thể hiện nội dung này
bằng các phương tiện ngôn ngữ.
* Nguyên tắc thứ hai: Nguyên tắc giao tiếp ( nguyên tắc phát triển lời nói)
Hướng vào hoạt động giao tiếp là nguyên tắc đặc trưng của việc
dạy học Tiếng Việt. Để hình thành các kĩ năng và kĩ xảo ngôn ngữ, học
sinh phải được hoạt động trong các môi trường giao tiếp cụ thể, đặc
biệt là môi trường văn hoá ứng xử. Chỉ có trong các môi trường giao
tiếp, môi trường văn hoá ứng xử, học sinh mới hiểu lời nói của người
khác, đồng thời vận dụng ngôn ngữ sáng tạo để người khác hiểu được
tư tưởng và tình cảm của các em. Bởi lẽ, ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ
với văn hóa của một dân tộc, nhất là văn hóa ứng xử. Thông qua các bài
tập thực hành đơn giản như giới thiệu về bản thân, gia đình, lớp học,
bạn bè ... theo mục đích nhất định, học sinh được luyện tập về các kĩ
năng ứng xử trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
Nguyên tắc này yêu cầu
- Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy hoạt động giao
tiếp làm mục đích, tức là hướng vào hình thành các kĩ năng nghe, nói, đọc,
viết cho học sinh.


15


hoàn thiện lời nói dạng viết. Lời nói dạng viết là điều kiện để lời nói dạng
nói phát triển. Do vậy, dạy học Tiếng Việt ở tiểu học phải chú ý rèn luyện
cả hai dạng lời nói trên.
* Nguyên tắc thứ năm: Nguyên tắc tích hợp:
Mục tiêu môn Tiếng Việt ở tiểu học có tính chất phức hợp thể hiện ở
chỗ môn Tiếng Việt vừa hình thành cho học sinh các kĩ năng sử dụng
Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói), vừa cung cấp tri thức (gồm tri thức về


16

Tiếng Việt và tri thức về khoa học tự nhiên và xã hội). Cho nên dạy Tiếng
Việt ở tiểu học phải bảo đảm nguyên tắc tích hợp.
Chương trình dạy Tiếng Việt ở tiểu học có các dạng tích hợp sau:
- Tích hợp trong nội bộ môn Tiếng Việt. Đó là sự kết hợp dạy các kĩ
năng đọc, viết, nghe, nói trong từng bài học với dạy các tri thức đơn giản về
tiếng Việt.
- Tích hợp nội dung các môn học khác vào môn Tiếng Việt thể
hiện ở: Ngữ liệu dùng trong các bài học đã góp phần cung cấp các tri
thức về tự nhiên và xã hội cho học sinh. Đồng thời, bài học của các
môn học khác cũng có ngữ liệu để dạy Tiếng Việt và được coi là những
tình huống để rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt. Thông qua các bài
học, thông qua việc thảo luận trong nhóm, trong lớp về nội dung những
bài học ấy, học sinh được mở rộng vốn từ, học được cách diễn đạt bằng
tiếng Việt và các quy tắc sử dụng tiếng Việt theo các phong cách chức
năng khác nhau. Học sinh có nhiều cơ hội để ứng xử bằng tiếng Việt
thích hợp với các ngữ cảnh khác nhau.
* Nguyên tắc thứ sáu: Nguyên tắc kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn
hoá và văn học
Về bản chất, kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hoá và văn học là

đã đạt được nhiều thành tựu ở nước ngoài phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Theo nguyên tắc này, việc dạy học Tiếng Việt phải thể hiện tinh thần
chung là hướng vào việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh. Hoạt
động học tập Tiếng Việt của học sinh được hiểu là hoạt động giao tiếp,
hoạt động trí tuệ được thể hiện ra bên ngoài bằng các hành động cụ thể có
thể quan sát được, lượng hoá được (ví dụ, hoạt động tìm tòi phát hiện kiến
thức, thảo luận, tranh luận, trò chơi học tập...).
- Về hoạt động của học sinh trong giờ học theo phương pháp mới:
+ Hoạt động giao tiếp (đặc thù của môn Tiếng Việt).
+ Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết ... (như các
môn học khác).
Các hình thức tổ chức dạy học: Học sinh làm việc độc lập, theo
nhóm, theo lớp.
- Về hoạt động của giáo viên trong giờ học theo phương pháp mới:
+ Giao việc cho học sinh :
Cho học sinh trình bày yêu cầu của câu hỏi.
Cho học sinh làm mẫu một phần bài tập.
Cho học sinh tóm tắt nhiệm vụ học tập, dặn dò học sinh thực hiện bài tập.
+ Kiểm tra học sinh:
Xem học sinh có làm việc không.
Xem học sinh có hiểu công việc phải làm không.
Trả lời thắc mắc của học sinh.
+ Tổ chức báo cáo kết quả làm việc của học sinh: báo cáo với giáo viên,
trong nhóm, trước lớp (bằng miệng, bảng con, phiếu học tập, bằng giấy...).
+ Tổ chức cho học sinh đánh giá kết quả học tập của mình và của
bạn. Hình thức đánh giá có thể là: cá nhân, trong nhóm, trước lớp (giáo
viên khen, chê, cho điểm...).
Các nguyên tắc dạy học này được vận dụng dạy học môn Tiếng Việt
trong trường tiểu học, tuy nhiên khi vận dụng người giáo viên phải biết vận


(theo tiếng Hà Nội chuẩn) trước khi lên lớp.
- Lập kế hoạch bài dạy phải chu đáo, nội dung phải rõ ràng chi tiết,
hình thức tổ chức phải linh hoạt, phù hợp với mọi đối tượng học sinh. Đối
với mỗi bài phải có đồ dùng và thiết bị để minh họa bài dạy sao cho sinh
động dễ hiểu với học sinh nhất là các đồ dùng nhằm giải nghĩa từ tiếng
Việt bằng đồ vật.
- Trước khi soạn bài cần đọc kỹ bài nội dung giảng dạy, chuẩn bị các
trang thiết bị, đồ dùng dạy học xong mới tiến hành lên phương án giảng
dạy có như vậy những đồ dùng mới được sử dụng phù hợp có hiệu quả
trong tiết dạy. Đồ dùng phải rõ ràng, dễ quan sát, phù hợp với nội dung bài,
đảm bảo thẩm mĩ để thu hút học sinh, tránh gây phản cảm dẫn đến mất tác
dụng trong việc sử dụng đồ dùng và còn mất thời gian của tiết dạy.


19

3.2. Khâu lên lớp của giáo viên
- Giáo viên phải có tác phong sư phạm tốt, luôn thân thiện quan tâm,
gần gũi, giúp đỡ học sinh.
- Tạo nhóm học tập bằng cách phân công học sinh đọc khá, đọc giỏi
giúp đỡ học sinh đọc yếu, hay đọc sai. Tổ chức thi đua giữa các cá nhân
học sinh, giữa các tổ, nhóm, kịp thời động viên tuyên dương khi học sinh
có tiến bộ. Tích cực tổ chức hoạt động nhóm trong lớp để học sinh được
tăng cường trao đổi, giao tiếp bằng tiếng Việt tại lớp học.
- Trong giảng dạy giáo viên chú ý việc sử dụng song ngữ phải đúng
mục tiêu giảng dạy, việc quá lạm dụng sử dụng tiếng dân tộc Mông trong
tiết dạy vô tình tiết dạy tiếng Việt thành tiết dạy tiếng Mông. Giáo viên chỉ
có thể sử dụng tiếng Mông để giải nghĩa từ tiếng Việt trong khi giảng dạy
nhằm giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của từ tiếng Việt đó.
- Giáo viên cần chú ý đến việc sử dụng đồ dùng trong tiết dạy: Sử

mũi, dây thanh rung) hoặc (phụ âm t thì luồng hơi ra đằng mũi còn phụ âm
th thì luồng hơi sẽ ra theo miệng) Học sinh quan sát khẩu hình và thực
hành theo, giáo viên quan sát, phát hiện kết hợp sửa sai kịp thời. Phải
luyện phát âm thật kỹ nhiều lần, đúng mới thôi. Chú ý hướng dẫn học
sinh cách lấy hơi, nhấn giọng.
+ Đối với các vần học sinh phát âm sai như vần: eo/oe, ưu/ươu,
eng/anh/em, ua/ươ, êch/êc,…thì giáo viên cho học sinh phân tích kỹ
cấu tạo, đánh vần, đọc trơn thạo từng vần rồi mới so sánh sự giống và
khác nhau giữa các vần đã học, so sánh rồi rút ra cách đọc (ví dụ cụ thể
trong các bài mẫu dưới đây). Điểm mấu chốt ta có thể cho học sinh
dùng thẻ để tạo từ, dùng đồ dùng trực quan để giải nghĩa từ kết hợp với
sự hỗ trợ có hiệu quả của tiếng mẹ đẻ. Học sinh nắm vững cấu tạo vần,
tiếng, hiểu nghĩa từ kết hợp quan sát khẩu hình, luyện dần sẽ đọc đúng.
+ Tương tự, các em đọc còn nhầm lẫn chủ yếu giữa thanh ngã và
thanh sắc. Ví dụ: suy nghĩ/suy nghí; nghĩ kĩ/ nghí kí…Thì giáo viên cho
học sinh nắm vững cấu tạo, cách phát âm từng dấu, dùng thẻ tạo từ, nắm
nghĩa của từ qua đồ dùng trực quan hoặc bằng hành động trực tiếp để từ đó
phát âm đúng và tự sửa sai các dấu thanh.
Ví dụ:
ki

k + i = ki



kị

- Trong khi học sinh đọc, nói (phát âm) tiếng Việt giáo viên phải
quan sát từng em, phát hiện chỗ các em đọc sai để kịp thời sửa ngay và
hướng dẫn các em đọc theo tốc độ quy định, không quá chậm hoặc quá

- Học sinh khá giỏi đọc trơn được cả bài.
- Học sinh yếu đọc đánh vần cả bài
- Luyện nói từ 2-4 câu theo chủ đề: Đồng ruộng.
- Giáo dục học sinh có ý thức học bài
II. Đồ dùng dạy học .
* Giáo viên: - Tranh (Hoặc vật thật) quả chuông, con đường.
* Học sinh: Bộ đồ dùng Tiếng việt thực hành
* Dự kiến hình thức tổ chức: Cá nhân, dãy, lớp
III. Các hoạt động dạy và học.
Tiết 1
A. Kiểm tra bài cũ.

- Học sinh đọc bài eng, iêng

- Nhận xét cho điểm

- Viết bảng con, bảng lớp: xà
beng, củ riềng

B. Bài mới:
1. Giới thiệu bài- ghi bảng
2. Dạy vần: * uông.
a.Nhận diện vần.

- Học sinh đọc uông cá nhân, cả
lớp.

- Hướng dẫn học sinh đọc trơn vần
uông: Giáo viên đọc mẫu, khi đọc vần - Học sinh quan sát giáo viên làm
uông luồng hơi thoát ra tự do không bị mẫu sau đó thực hiện theo: học

- Đọc cá nhân, nhóm, lớp.
*Vần ương (tương tự vần uông)
- uông : uô + ng

- So sánh uông, ương

- Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện - ương: ươ + ng
đọc tổng hợp
- Học sinh đọc cá nhân, nhóm, lớp.
b. Từ ứng dụng
- Học sinh đọc thầm
- Giáo viên ghi bảng từ ứng dụng:
rau muống
luống cày

nhà trường
nương rẫy

- 3 học sinh đọc, tìm tiếng mới và
phân tích.
- Luyện đọc cá nhân, nhóm, lớp.

- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc - Học sinh đọc trơn các từ cá nhân,
trơn các từ và giải nghĩa từ (một số từ nhóm, lớp
giáo viên có thể sử dụng tiếng dân tộc
Mông để giải nghĩa
- Hướng dẫn học sinh phân tích tiếng
mới và luyện đọc, khi luyện đọc giáo
viên lưu ý hướng dẫn kỹ các tiếng ,từ
có chứa vần uông, ương so sánh kỹ về


- Hướng dẫn học sinh quan sát tranh
- Tìm và phân tích tiếng mới
nêu câu ứng dụng
- Luyện đọc cá nhân, nhóm, lớp.
- Hướng dẫn học sinh luyện đọc
- Sửa sai phát âm cho học sinh sửa
như phần hướng dẫn vần, tiếng.

- Học sinh quan sát tranh nêu chủ
- Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu đề: đồng ruộng
chủ đề luyện nói
- Cảnh cấy, cầy trên đồng ruộng
b. Luyện nói:

- Treo tranh và hỏi

- Bác nông dân

- Tranh vẽ gì ?

- Gieo mạ, tát nước, làm cỏ.

- Những ai trồng lúa, ngô, khoai, sắn.

- Học sinh trả lời

- Ngoài ra bác nông dân còn làm - Học sinh nghe và tự sửa câu cho
những gì ?
nhau.

- Nhận xét giờ học
- Về nhà đọc bài và chuẩn bị bài sau
........................................................................................................................
........................................................................................................................
_________________________*****_______________________
Tiết 13-14: Tập đọc

Bài 7: LŨY TRE

A. Mục đích yêu cầu:
- Học sinh:
+ Đọc trơn cả bài, phát âm được tiếng, từ khó trong bài.
+ Ôn vần : iêng, yêng
+ Hiểu được nội dung của bài.
+ Học thuộc lòng bài thơ.
B. Đồ dùng:
-Tranh minh hoạ bài học, viết sẵn bài lên bảng.
C. Hoạt động dạy học:
TG

Hoạt động dạy

Hoạt động học

TIẾT 1
5’

I. Bài cũ:
2 học sinh lên bảng đọc bài và trả
- Đọc bài" Hồ Gươm và trả lời câu

Học sinh theo câu (nối tiếp) cho
móc vó vào kéo khi đánh cá). Với
các từ mà học sinh dễ lẫn giáo viên đến hết bài.
cần phân tích kỹ cách đọc, đọc mẫu
để học sinh quan sát khẩu hình và
luyện tập theo, giáo viên quan sát và
sửa chữa tỉ mỉ)
+ Giải thích từ khó:

+ Luyện đọc câu. (Khi học sinh
đọc câu nếu học sinh độc sai từ,
tiếng nào thì giáo viên cho học sinh
dừng lại hướng dẫn cách đọc và
chỉnh sửa luôn)
+ Luyện đọc theo khổ thơ.

Học sinh đọc theo khổ thơ.

Theo dõi sửa sai, nhận xét.

1 học sinh đọc lại toàn bài.

+ Đọc toàn bài.

Nhận xét
Cả lớp đọc đồng thanh toàn bài.

Nhận xét.
3. Ôn vần iêng yêng
13’


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status