skkn áp dụng công nghệ dạy học dự án vào bài giảng lịch sử - Pdf 40

Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

SỞ GD&ĐT BÌNH DƢƠNG
TRƢỜNG THPT DĨ AN
TỔ SỬ-ĐỊA-GIÁO DỤC CÔNG DÂN
ĐT : 0.650.733.521 – 0.650.730.554

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Năm
học
2008 - 2009



Người thực hiện : Nguyễn Chí Thuận
Giáo viên Trường THPT Dĩ An
ĐT : 0.913.141.152

1


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

LỜI CÁM ƠN
Xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh,
Phòng GD Trung học – GD Thường xuyên Sở GD&ĐT Bình Dương, Ban

9. Kết cấu của đề tài...................................................................................... 18

NỘI DUNG
Phần I. Nêu thực trạng của vấn đề
1. Thuận lợi khi thực hiện đề tài ................................................................... 19
2. Khó khăn khi thực hiện đề tài ................................................................... 20

Phần II. Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
1. PP làm việc theo nhóm.......................................................................... 21
Ưu điểm
Mục tiêu cần đạt
Các bước tiến hành
Có hai dạng nhóm làm việc
3


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

Điều kiện để đạt hiệu quả
Hướng dẫn HS đóng vai trò GV
Bước chuyển tiếp nhanh
Tìm sự hưởng ứng của HS
Giáo án đề nghị cho tiết day học dự án
2. Vài nét về áp dụng công nghệ trong dạy học ..................................... 35
Các hình thức sử dụng CNTT trong dạy học
Sử dụng các bài giảng điện tử trong giảng dạy
Sử dụng internet trong tìm kiếm thông tin trực tuyến
Trao đổi chuyên môn, chia sẻ tài nguyên trên các mạng xã hội

học 2007-2008 tôi tiếp tục thực hiện đề tài “Ứng dụng CNTT&TT kết hợp sách
bài tập để đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT” bước đầu đã
đạt được một số kết quả và tích luỹ được một số kinh nghiệm trong quá trình
tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) bộ môn lịch sử (LS) của mình ở
đơn vị trường THPT Dĩ An.
Kết quả bước đầu đã làm thay đổi tồn bộ cách nghĩ và cách soạn giảng
mà tôi đã được học ở trường ĐHSP trước đây. Sự thay đổi PPDH cũng đã tạo
hứng thú trong HS nhiều hơn trong tiết học LS của tôi, bởi vì trong một tiết dạy
tôi đã cung cấp cho các em nhiều hình ảnh, sơ đồ, biểu mẩu… và giới thiệu cho
các em biết những điều mới lạ hơn trong SGK, cung cấp cho các em những
kiến thức mới, tầm nhìn mới hơn về việc học lịch sử.
Trong dịp hè 2008 tôi được tham dự lớp tập huấn giảng dạy theo phương
pháp mới do Sở GD-ĐT Bình Dương phối hợp cùng sự tài trợ của Microsoft
Việt Nam. Sau khi dự lớp tập huấn nầy tôi có thêm được thông tin bổ ích về
việc đầu tư công nghệ ứng dụng vào dạy và học với tên gọi là “Dạy học theo dự
án”. Cách dạy nầy giống như phương pháp thuyết trình mà tôi đã được học
trước đây ở trường ĐHSP, tuy nhiên cái mới là cách dạy nầy được áp dụng ở
5


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

Mĩ và các nước tiên tiến châu Âu. Trong một tiết dạy, HS được làm chủ lớp
học, tự tìm tòi và khám phá theo nội dung bài học đã được GV hướng dẫn cho
HS. Tiết học không quá máy móc bắt buộc HS phải ghi chép hết nội dung bài
học có trong SGK như cách làm hiện nay của các trường phổ thông ở Việt
Nam. Đầu năm học tôi được nghe phổ biến chủ đề của năm học 2008-2009 là
“Năm học đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng trường học thân



Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

Đối với các trường vùng sâu, vùng xa, không thể rải cáp Internet và nếu
có điện, cần lên phương án kết nối khác (có thể là qua vệ tinh). Viettel cam kết
hỗ trợ cung cấp miễn phí qua sóng điện thoại di động và cần thời gian thử
nghiệm vì địa hình các vùng này rất khó khăn. Chúng tôi cũng đã đề nghị
Viettel tài trợ miễn phí kết nối Internet cho một số điểm tỉnh như Điện Biên,
Lai Châu, Hà Giang…
Năm học 2007-2008, Cục CNTT đã hướng dẫn và hỗ trợ miễn phí cho
các trường ĐH, CĐ, các sở, các trường phổ thông tạo hệ thống email. Bước
vào năm học mới này, mục tiêu đặt ra là đến ngày 31/10/2008, tất cả các cơ sở
giáo dục và đào tạo hồn tất công việc này.
Trong năm vừa qua, Cục CNTT đã xây dựng và cung cấp hệ thống
email @moet.edu.vn đến tất cả các cơ sở giáo dục để giao dịch văn bản điện
tử. Chúng tôi đề nghị lãnh đạo Sở GDĐT các tỉnh, thành phố hằng ngày khai
thác hệ thống email này và đôn đốc các phòng ban sử dụng để nhận thông tin
văn bản từ Bộ một cách nhanh chóng.
Cho đến nay, giáo viên các trường đang chủ yếu soạn bài trình chiếu
powerpoint và một số phần mềm dạy học. Vẫn còn có sự nhầm lẫn khá lớn
giữa khái niệm về giáo án điện tử với bài trình chiếu, bài giảng điện tử, giữa
thiết bị dạy học với phần mềm.
Năm học ứng dụng CNTT sẽ tạo ra bước ngoặt mới về việc làm bài
giảng điện tử theo công nghệ e-Learning. Trong những năm qua, Cục CNTT
đã xây dựng website e-Learning http://el.edu.net.vn để tuyên truyền phổ cập
công nghệ, nghiên cứu thử nghiệm và tuyển chọn các phần mềm e-Learning
thích hợp, đã Việt hố phần mềm mã nguồn mở Moodle và đến nay đã có

(Dân trí) - Cục Khảo thí và Kiểm định chất lƣợng, Bộ GD-ĐT yêu
cầu các đơn vị đổi mới ra đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kỳ, theo hƣớng
kiểm tra kiến thức cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của ngƣời học,
hạn chế lối học tủ, học vẹt, ghi nhớ máy móc.
Theo đó, các trường tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường
xuyên, định kỳ. Phối hợp có hiệu quả giữa các hình thức kiểm tra vấn đáp, tự
luận và trắc nghiệm khách quan. Trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng
đáp ứng yêu cầu đối với chương trình của từng cấp học.
Đặc biệt, các trường phải có biện pháp quản lý tích cực, chủ động trong
dạy và học, nghiêm túc trong kiểm tra, đánh giá để phản ánh đúng chất lượng
dạy và học, thực hiện thành công nhiệm vụ năm học theo tinh thần cuộc vận
động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục;
nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp”.
Các trường có kế hoạch tổ chức việc ôn tập bồi dưỡng nâng cao kiến
thức cho người học, cần chú ý đối tượng có học lực yếu, đối tượng chưa tốt
nghiệp ở các kỳ thi trước; khắc phục tình trạng học sinh “ngồi nhầm lớp”; kiên
quyết không để học sinh chưa đủ trình độ lớp 12 dự thi tốt nghiệp trung học
phổ thông.
Bộ yêu cầu các Sở GD-ĐT rà sốt, lựa chọn trong số cán bộ, giáo viên
những người có năng lực chuyên môn để tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ biên
soạn, biên tập đề thi để từng bước xây dựng ngân hàng câu hỏi thi phục vụ cho
việc ra đề kiểm tra. (Hồng Hạnh)
Đổi mới kiểm tra, đánh giá: Góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục
Bấy lâu nay, học sinh thường “ngán” học các môn xã hội. Vậy, làm thế nào
để các em yêu thích các môn học này?
Đây là điều các nhà làm giáo dục luôn trăn trở. Ngày 3-3 vừa qua, Sở GDĐT Bình Dương đã có buổi hội thảo, nhằm mổ xẻ việc đổi mới kiểm tra đánh
giá, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn ngữ văn, lịch sử, địa lý,
giáo dục công dân.
8


Nỗ lực đổi mới
Đổi mới chương trình và sách giáo khoa trong đó có đổi mới phương pháp
dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá. Cô Tuyết Lan, giáo viên dạy ngữ văn
trường THPT chuyên Hùng Vương chia sẻ: Thời gian qua, tổ văn chúng tôi đã
có nhiều cố gắng tiến hành từng bước việc áp dụng đổi mới công tác kiểm tra,
đánh giá học sinh, đồng thời góp phần thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học
bộ môn. Đối với kiểm tra miệng, chúng tôi không nhất thiết phải kiểm tra đầu
mỗi tiết học. Vì như thế vừa mất thời quan, vừa mang tính công thức thủ tục và
đặt học sinh vào tình thế căng thẳng, bắt buộc học để đối phó. Thay vào đó,
giáo viên có thể linh hoạt về thời gian và hình thức kiểm tra. Cụ thể như, trong
quá trình giảng bài mới, khi cần liên hệ đến kiến thức của bài học các tiết
trước, giáo viên nêu câu hỏi, sau đó gọi học sinh phát biểu, giáo viên nhận xét
và cho điểm. Nội dung kiểm tra, không chỉ kiểm tra bài tiết học trước, mà giáo
viên có thể kết hợp vừa kiểm tra bài cũ, vừa kiểm tra phần chuẩn bị bài mới.
Trong quá trình dạy, có những câu hỏi cần học sinh tư duy trả lời, nếu các em
trả lời đúng, giáo viên vẫn cho điểm.
Trong khi đó, các giáo viên ở trường THCS Chu Văn An (TX.TDM) kiểm
tra 15 phút, vừa kiểm tra nội dung vừa kết hợp thực hành, vận dụng vào viết
9


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

đoạn văn với vấn đề mang tính xã hội được mọi người quan tâm, như: vấn đề
môi trường, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh... Giáo viên
còn cho điểm học sinh tham gia trả lời những câu hỏi nâng cao để khuyến
khích học sinh; cho điểm những bài sưu tầm, tranh ảnh phục vụ cho tiết học.
Kiểm tra học kỳ có trắc nghiệm từ 3-4 điểm, tùy theo khối lớp, đề ra có ma

nguyên nhân, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm LS trong quá trình dạy học LS.
10


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

Qua ba năm giảng dạy SGK mới, về hình thức trình bày, cách thể hiện
nguồn kiến thức trong mối quan hệ giữa kênh hình và kênh chữ đã tạo điều
kiện cho GV có thể tiến hành đổi mới PPDH LS.
Từ công tác bồi dưỡng thay sách lớp 10, 11, 12 việc đổi mới PPDH LS
ở trường THPT đã trở thành một yêu cầu cấp bách của GV LS, vì không chỉ để
đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn LS ở trường THPT mà còn góp
phần làm thế nào để thay đổi nhận thức của xã hội về vị trí, tầm quan trọng của
bộ môn LS đối với việc GD thế hệ trẻ.
Việt Nam đang bước vào hội nhập quốc tế và khu vực cho nên càng đòi
hỏi cấp bách việc GD phải đổi mới và nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu
trên. Trước tiên và quan trọng hơn cả là việc DHLS phải phấn đấu vươn tới
chuẩn chung về chương trình đào tạo, về mô hình quản lý, đặc biệt là phải đạt
chuẩn về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo. Nhiều
chuyên gia GD cho rằng tìm được lời giải cho vấn đề nầy cũng có nghĩa là tìm
được hướng cải cách chương trình, thay SGK, cũng chính là mục đích tìm ra
một hướng di cho phù hợp tình hình hiện nay của đơn vị.
Đề tài “Áp dụng công nghệ dạy học dự án vào bài giảng lịch sử” nhằm
giải quyết vấn đề cấp bách của GV bộ môn LS và của công tác DHLS mà xã
hội đang quan tâm hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Bộ môn LS ở trường THPT có ưu thế đặc biệt trong việc phát triển con
người tồn diện vừa có tri thức khoa học, có tư tưởng đạo đức đúng đắn, đậm đà

tình cảm đúng đắn và phát triển tồn diện con người các em. Không giúp HS
nắm vững kiến thức LS thì không thực hiện được mục tiêu môn học.
Thành tựu của CNTT đã và đang được ứng dụng rộng khắp trong nhiều
lĩnh vực, nhiều hoạt động, trong đó có HĐ DHLS. Đây là một trong các điều
kiện quan trọng để đối mới PPDH; là nhân tố đảm bảo cho HĐ DHLS đạt hiệu
quả; là cơ sở quan trọng để hình thành những phẩm chất và năng lực, hình
thành nhân cách người GV trong thời đại mới - thời đại của khoa học kĩ thuật.
5. Mức độ nghiên cứu đề tài
Năm học 2008-2009 là năm học thứ ba trường THPT áp dụng chương
trình SGK mới cho HS THPT trong lộ trình cải cách GD. Vì thế đề tài “Áp
dụng công nghệ dạy học dự án qua bài giảng lịch sử” là đề tài bản thân tôi tiếp
tục nghiên cứu thực hiện nhân cơ hội được dự lớp tập huấn chương trình Dạy
12


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

học theo dự án do Sở GD&ĐT Bình Dương kết hợp Microsoft Việt Nam tổ
chức trong hè 2008 vùa qua.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài nầy, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn
trong vấn đề lớn : Áp dụng công nghệ dạy học dự ánqua bài giảng lịch sử ở
trường THPT
6. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : “Áp dụng công nghệ dạy học dự án qua bài giảng
lịch sử”.
+ Khách thể nghiên cứu : Môn lịch sử ở trường THPT.
+ Phạm vi nghiên cứu : Áp dụng công nghệ dạy học dự án trong một tiết dạy
lịch sử lớp 10 ban cơ bản.

đại ngày nay, công nghệ không phải là bộ phận trang trí, mà ngược lại, nó đóng
vai trò quan trọng trong bất kì quy trình giảng dạy nào. Tuy nhiên, phí tổn cho
nó cũng là một vấn đề quan trọng. Máy vi tính nói riêng là một mặt hàng đắc
tiền, GV và HS ngày cần có nó nhiều hơn. Trong vòng một thập kỷ vừa qua,
chi phí bỏ ra để trang bị cho các trường khối phổ thông tại Mĩ tăng gấp ba lần
trước đó, cho đến nay, chi phí đó đã lên đến hơn 6 tỉ USD. Với thực tế này,
những nhà hoạch định ở cấp quốc gia và địa phương đang đặt ra một câu hỏi có
thể dự đốn trước : Liệu tiêu tốn một số tiền khổng lồ để đầu tư cho công nghệ
như vậy có thể làm thay đổi quá trình và kết quả học tập của HS hay không ?
Câu trả lời có được từ các công trình nghiên cứu cũng không mấy bất
ngờ. Tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các trường học hiện nay
đang sử dụng hàng loạt công nghệ theo các cách khác nhau và cho các mục
đích khác nhau. Giữa các GV trong ngành có sự chênh lệch lớn về vốn kiến
thức và kĩ năng, cũng như khả năng tổ chức để lên kế hoạch và thực hiện áp
dụng công nghệ một cách tồn diện và theo định hướng nhằm đạt được kết quả
như đã định. Thông thường các trường đều có những phương pháp riêng để
đánh giá về mức độ ảnh hưởng của công nghệ tới hiệu quả dạy và học cả trong
trường hợp chúng được sử dụng đúng và sử dụng mục đich. (Nếu không đạt
được hiệu quả như mong muốn thì đó là do công nghệ hay do HS tiếp xúc và
sử dụng công nghệ còn ít). Tại những nơi công nghệ được sử dụng như một
công cụ hỗ trợ phương pháp giảng dạy đạt tiêu chuẩn về cách tư duy phức tạp
và giải quyết vấn đề, cùng với các phương pháp phù hợp để đánh giá sự tiến bộ
của HS, thì hiệu quả thu được mới thực sự gây ấn tượng.

14


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

15


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

những thành tựu đạt được từ một vài phép phân tích cao cấp trong khoảng thời
gian từ năm 1895 đến 2000 lại cho thấy việc sử dụng phần mềm công nghệ vào
rèn luyện và thực hành đem lại cho HS những tiến bộ vượt bậc. Và kết quả đó
đã ủng hộ việc sử dụng máy vi tính hỗ trợ giảng dạy từ cấp trước tiểu học cho
tới cấp GD cao hơn. Một vài nghiên cứu còn tranh luận rằng việc đào tạo các
kĩ năng về sử dụng CNTT còn mang lại hiệu quả về kinh tế, bởi nó chỉ đòi hỏi
đào tạo GV ở mức tối thiểu và thường vẫn có thể được thực hiện ở các công
nghệ ở mức độ thấp.
Máy vi tính là các công cụ giúp giải quyết vấn đề, phát triển về mặt
nhận thức và tƣ duy : Tuy nhiên chỉ là thiển cận nếu chỉ sử dụng máy vi tính
như là trợ giúp nâng cao các kĩ năng cơ bản. Sức mạnh của công nghệ được thể
hiện rõ ràng nhất khi cả HS và GV có thể tận dụng được các chức năng tinh vi
và đa dạng của nó để hỗ trợ tư duy nâng cao và khái niệm hố. Ví dụ như các
ứng dụng đa dạng có thể thể hiện các chức năng thực tiễn của các khái niệm
tốn học, hoặc cung cấp các công cụ phục vụ nghiên cứu, phân tích dữ liệu và
viết báo cáo.
Việc khai thác sử dụng công nghệ theo các cách này được minh hoạ sâu
sắc và rõ nét nhất thông qua hình thức tổ chức lớp học trong quá trình thực
hiện các dự án – đó là khi các nhóm HS phải tiếp xúc với thực tiễn, các vấn đề
phức tạp như ảnh hưởng của mưa axit đối với nguồn nước hay tham gia bảo vệ
các lồi vật bị đe doạ ở các khu vực. Trong quá trình này, HS phải học và áp
dụng đa dạng các nguyên tắc, kiến thức thuộc nhiều môn học khác nhau từ tốn
học, văn học cho tới các nghiên cứu xã hội, khoa học và nghệ thuật. Các nhóm

biến đổi hệ thống GD bởi nó có xu hướng đánh giá lại vai trò của GV và HS và
sự tín nhiệm đối với PPDH cũ. Mỗi GV trở thành người hướng dẫn và cộng tác
viên (với HS và các GV khác) không còn đơn thuần là người truyền đạt kiến
thức. Và HS dựa trên các đề án sẽ tự học, tự tìm hiểu, phải tự quản lí và có
trách nhiệm đối với chất lượng học tập của mình. Như vậy HS sẽ tự xây dựng
nên vốn tri thức của mình chứ không chỉ đơn thuần chỉ nghe và tiếp nhận.
Những thay đổi cũng chính là mục tiêu mà cải cách GD hướng tới, trong đó
nhằm chuyển đổi PP học tập truyền thống và mở rộng không gian học tập ra
ngồi phạm vi lớp học.
+ Đối với cấp lãnh đạo cơ sở
Năm học 2008-2009 Sở GD-ĐT Bình Dương tiếp tục đầu tư kinh phí
xây dựng CSVC trường học , mua sắm TBDH trang bị cho các trường, tổ chức
17


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

cuộc thi giải thưởng “Võ Minh Đức” cho tất cả các trường tham dự, tổ chức
các lớp bồi dưỡng tin học và thi tin học chứng chỉ A cho CBGV tồn ngành, tổ
chức các buổi giới thiệu các phần mềm ứng dụng CNTT vào việc đổi mới
PPDH để chuẩn bị bước vào năm học mới “Năm học công nghệ thông tin”.
Cấp đơn vị trƣờng học :
Kiến thức và trình độ của GV là yếu tố then chốt để đạt được thành
công, vì vậy công tác đào tạo GV sẽ chiếm phần lớn trong ngân sách phát triển
công nghệ (theo quy tắc 30/70). Trong công tác đào tạo GV, người ta đã nhận
thấy một mô hình đạt hiệu quả cao đó là tạo lớp học mẫu trong đó GV sẽ trực
tiếp tiếp thu sáng kiến và PPDH mới của những đồng nghiệp có kĩ năng tốt về
công nghệ và thường xuyên áp dụng công nghệ vào bài giảng.

sinh vào các trường đại học, cao đẳng đạt tỉ lệ khá cao.
Năm học 2008-2009 điểm tuyển sinh vào lớp 10 của trường THPT Dĩ
An cao nhất huyện, các em được BGH quan tâm nhắc nhở động viên kịp thời
về việc học tập nên tinh thần học tập và đạo đức của các em rất tốt, đa số HS
chăm ngoan, lễ phép, vâng lời thầy cô, chấp hành nội quy nhà trường.
Công tác GVCN, công tác giám thị được BGH có kế hoạch chỉ đạo
thường xuyên gặp gỡ trao đổi với phụ huynh khi có vấn đề liên quan đến HS.
Hàng tuần và cuối đợt thi đua BGH kết hợp các đồn thể đã sơ kết đánh giá
khen thưởng, kịp thời động viên nêu gương tốt hoặc nhắc nhở kịp thời những
HS vi phạm nội quy nhà trường.
Đơn vị được Sở GD&ĐT Bình Dương trang bị đầy đủ các TBDH và
phương tiện nghe nhìn có đầy đủ cán bộ chuyên trách sẵn sàng giúp đỡ GV
trong các tiết giảng dạy khi cần sử dụng dụng cụ trực quan dạy học.
1.3. Ƣu điểm khi thực hiện đề tài SKKN
GV có thể sử dụng các hình ảnh, tư liệu, sự kiện LS từ các nguồn phim
ảnh đa dạng từ internet, băng ghi hình, tranh ảnh trong sách báo mà không phải
mang theo đồ dùng DH cồng kềnh khi lên lớp.
Các tư liệu LS được chuyển thể thành phim theo chủ đề bài học được
các đài truyền hình trong cả nước đưa lên màn ảnh và phổ biến rộng rãi trên
19


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

phương tiện thông tin đại chúng, GV có thể tìm từ trên mạng internet để phục
vụ minh họa cho bài giảng sinh động hơn.
GV có thể trình chiếu các sơ đồ, bài tập nhóm, các câu hỏi trắc nghiệm
khách quan khi kiểm tra bài cũ hay kết thúc bài học để HS tiện theo dõi. Việc

trước khi GV đi đến kết luận cuối cùng.
1.1. Phƣơng pháp làm việc theo nhóm có những ƣu điểm:
+ Làm việc theo nhóm là một cách học cho phép tất cả các thành viên trong
nhóm giải quyết một cam kết làm việc được mô tả rõ ràng, không được GV
dẫn dắt trực tiếp mà chỉ nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ và phân công công việc
trong nhóm nhỏ.
Phương pháp này thích hợp cho việc trao đổi trong nhóm, đưa ra những cách
thức giải quyết đầy tính sáng tạo; kích thích sự hợp tác của tất cả các thành
viên trong nhóm cùng tham gia vào việc giải quyết một vấn đề.
+ Làm việc theo nhóm thỏa mãn nhu cầu học tập cá nhân, phù hợp với việc
học hướng tới người học; khuyến khích sự độc lập tự chủ, người học có thể
đưa ra những giải pháp, cách biểu đạt riêng cho vấn đề nào đó. Nếu trong
phương pháp thuyết trình, người học chỉ có thể trao đổi với nhau được rất ít thì
trong làm việc theo nhóm các thành viên tham gia có cơ hội đưa ra quan điểm
của mình đối với chủ đề thảo luận, mặt khác ở đó cũng đòi hỏi tăng cường tư
duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm.
+ Trong khi thực hiện phương pháp làm việc theo nhóm, GV đóng vai trò là
người chuyển giao kiến thức và hiểu biết, chuẩn bị, tổ chức, theo dõi việc thực
hiện và đánh giá tổng kết kết quả làm việc của các nhóm. Như vậy công việc
của GV trong làm việc theo nhóm không bao giờ là thừa, trái lại đó là một sự

21


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

cần thiết để giúp cho các nhóm đạt được kết quả trong việc tìm ra những giải
pháp, câu trả lời cho vấn đề được đưa ra.

Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

- Các nhóm tiến hành làm việc theo nhóm
- GV tham gia quản lý và định hướng làm việc cùng các nhóm, hỗ trợ cho các
nhóm khi cần thiết.
Bước 4:Đại diện các nhóm trình bày kết quả làm việc của nhóm. Các nhóm
khác đóng góp ý kiến và tham gia tranh luận.
Bước 5: GV tổng kết và rút ra kết luận về đề tài đã đưa ra.
1.4. Có 2 dạng nhóm làm việc
+ Nhóm đồng việc: Tất cả các nhóm đều cùng một chủ đề ( chung một công
việc ) mà vấn đề hay nhiệm vụ đó có thể được giải quyết theo nhiều cách thức
khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề khác nhau.
+ Làm việc nhóm theo vị trí công việc: được áp dụng khi một nhiệm vụ
chung cần thực hiện có thể phân ra thành nhiều nhiệm vụ nhỏ mà các giải pháp
của chúng được tập hợp chung lại sau khi kết thúc làm việc theo nhóm. Hình
thức này đòi hỏi GV phải chuẩn bị nhiều hơn để đáp ứng cho các nhóm có
những phần việc riêng cụ thể khác nhau.
1.5. Cần lƣu ý một số điều kiện để thực hiện phƣơng pháp làm việc theo
nhóm đạt hiệu quả
+ Chủ đề thích hợp cho làm việc theo nhóm. Người tham dự cần có những
kiến thức cơ sở về đề tài làm việc. Nếu các thành viên tham dự thực sự chưa có
kiến thức, hiểu biết trước về đề tài làm việc thì GV cần bồi dưỡng đầu vào
thông qua một buổi thuyết trình hoặc cung cấp những tài liệu, thông tin về đề
tài.
+ Có đủ điều kiện, phương tiện làm việc cho các nhóm (phòng, các thiết bị,
dụng cụ cần thiết cho buổi làm việc theo nhóm)
+ Các thành viên phải nắm vững nhiệm vụ trong làm việc theo nhóm và tiến
trình, lịch làm việc.Việc giao nhiệm vụ của GV phải rõ ràng, cụ thể và chặt

một cách rõ ràng, 95% giảng dạy cho HS khác”.
Do đó, dạy là cách hiệu quả nhất để học. Khi HS được yêu cầu học một cái gì
đó để chuẩn bị giảng dạy cho HS khác, các em thường làm việc nghiêm túc
hơn với phần bài học của mình. Đây là một điểm mạnh của kĩ năng “đóng vai
trò GV” trong tổ chức nhóm học tập.
Kĩ năng này gồm hai phần :
(1) Tất cả HS đều được đọc tài liệu và chuẩn bị kiến thức để dạy nội dung
đó cho HS khác.
(2) HS được chia thành từng nhóm. GV nói trước lớp : “Các em có 10 phút
để dạy phần bài học đó cho các bạn trong lớp. Các bạn phải giả vờ rằng
mình chưa tự đọc hay học tài liệu này.
Những điều cần lưu ý để thực hiện kĩ năng này :
 Sử dụng kĩ năng này mỗi tiết học để giúp HS học những bài học
trong SGK một cách cẩn thận.

24


Trường THPT Dĩ An

Nguyễn Chí Thuận

 Chỉ phân mỗi HS trong mỗi nhóm thực hiện vai trò của GV trong
1 tiết học cụ thể. Mặc dù các em không phải là GV nhưng GV
cũng nên bảo HS viết ra những gì HS hiểu biết về bài đọc để dạy.
 Thay vì thông báo trước cho HS ai sẽ thực hiện vai trò GV trong
mỗi nhóm, GV nên dùng cách bóc phiếu để lựa chon một cách
ngẫu nhiên HS nào trong nhóm sẽ dạy.
 Kết thúc hay bắt đầu mỗi tiết học GV nên sử dụng bài kiểm tra
nhỏ về những gì HS mới vừa học do các bạn đóng vai trò GV dạy

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status