SKKN sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp dạy học luyện từ và câu nhằm bồi dưỡng tư duy cho hoc sinh lớp 4 - Pdf 40

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Năng lực tư duy là điều kiện cần và đủ để khám phá và lĩnh hội tri thức.
Ngày nay, khi nền kinh tế tri thức tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của lực
lượng sản xuất thì việc rèn luyện tư duy của mỗi người lại càng hết sức cần thiết.
Trong nền kinh tế ấy, tri thức trở thành quyền lực, trở thành chìa khoá mở cửa
tương lai. Không có những năng lực, phẩm chất của tư duy, con người không có
khả năng nắm bắt tri thức, lĩnh hội tri thức và cũng không có khả năng vận dụng
tri thức.
Làm thế nào để phát triển tư duy cho người học một cách hiệu quả? Đó là
câu hỏi đặt ra không chỉ cho ngành Giáo dục mà cho toàn xã hội.
Trong thực tế, phát triển tư duy cho người học là mục tiêu quan trọng của
các chương trình dạy học. Để đạt được mục tiêu đó, chương trình thường cấu trúc
theo hướng đồng tâm và phát triển; Phương pháp dạy học hướng vào người học
nhằm tôn trọng lợi ích, quyền lợi, sáng tạo cá nhân của họ. Nhờ đó, tư duy của
người học sẽ được hình thành và phát triển trong môi trường, điều kiện tốt nhất.
“Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Mác). Ngôn ngữ và tư duy
luôn có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ. Thực tế cho thấy trẻ em có kỹ năng
giao tiếp bằng ngôn ngữ thì những năng lực, phẩm chất tư duy của các em cũng
được thể hiện rõ. Ngược lại, trẻ em không có ngôn ngữ hoặc khả năng ngôn ngữ
kém thì năng lực tư duy cũng hạn chế. Tuy vậy, cần nhận thức rằng, ngôn ngữ và
tư duy thống nhất chứ không đồng nhất.
Mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy cho thấy môn Tiếng Việt
có nhiều lợi thế trong việc rèn luyện và phát triển tư duy cho học sinh. Chính vì
vậy, mục tiêu cơ bản của việc dạy học Tiếng Việt là hình thành và phát triển năng
lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cho học sinh. Điều đó cũng có nghĩa là hình
thành và phát triển điều kiện cần thiết, quan trọng để phát triển tư duy.
Mặt khác, Tiểu học là cấp học đầu tiên đặt cơ sở cho việc hình thành và phát
triển nhân cách con người, đặt nền tảng cho giáo dục phổ thông và các cấp học





- Nghiên cứu về bồi dưỡng học sinh giỏi về mảng bồi dưỡng tư duy.
- Nghiên cứu về thực trạng bồi dưỡng tư duy cho học sinh lớp 4 qua phân
môn Luyện từ và câu.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm bồi dưỡng tư duy cho hoc sinh lớp 4 qua
phân môn Luyện từ và câu.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Học sinh lớp 4.
- Phân môn Luyện từ và câu.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Để thực hiện đề tài này thì trong nhóm này tôi chọn phương pháp chính là:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp các lý thuyết.
- Phương pháp mô hình hóa.
Ngoài ra, tôi còn sử dụng thêm phương pháp: đọc sách và nghiên cứu tài
liệu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tôi chọn phương pháp chính là:
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp thực nghiệm khoa học.
Bên cạnh đó tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.
7.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp thống kê, lập bảng số liệu.
8. Đóng góp mới của đề tài
Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng tư duy cho
học sinh Tiểu học.
Về mặt thực tiễn: Đưa ra một số phương pháp dạy Luyện từ và câu nhằm

hoạt động thực tiễn, từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa các giới hạn của nhận
thức cảm tính.
Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu tư duy là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức
là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Nó dùng suy nghĩ hay
tái tạo suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một việc nào đó.
Theo cách hiểu đơn giản nhất, tư duy là một loạt những hoạt động của bộ
não diễn ra khi có sự kích thích. Những kích thích này nhận được thông qua bất kì
giác quan nào trong năm giác quan: xúc giác, thị giác, thính giác, khứu giác hay vị
giác.
Tóm lại, có thể hiểu tư duy là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức
bậc cao ở con người. Cơ sở sinh lý của tư duy là sự hoạt động của vỏ đại não. Hoạt
động tư duy đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ. Mục tiêu của tư duy là tìm ra các
triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong các tình huống
hoạt động của con người.
1.1.1.2. Đặc điểm của tư duy
Tư duy mà con người là chủ thể chỉ nảy sinh khi gặp tình huống “có vấn
đề”. Tuy nhiên vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành
nhiệm vụ cá nhân (cái gì đã biết, cái gì cần tìm kiếm), đồng thời nằm trong
ngưỡng hiểu biết của cá nhân và là nhu cầu động cơ tìm kiếm của cá nhân. Tiếp
theo, tư duy luôn phản ánh cái bản chất nhất chung cho nhiều sự vật hợp thành
một nhóm, một loại, một phạm trù, đồng thời trừu xuất khỏi những sự vật đó
những cái cụ thể, cá biệt. Ngoài ra, tư duy luôn phản ánh gián tiếp hiện thực.
Trong tư duy, có sự thoát khỏi những kinh nghiệm cảm tính. Cuối cùng, ngôn ngữ
có vai trò cố định lại các kết quả của tư duy và nhờ đó làm khách quan hóa chúng
cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy.
1.1.1.3. Các giai đoạn của tư duy


K.K.Platonôv sơ đồ hóa các giai đoạn của một hành động (quá trình) tư
duy.

- So sánh - tương tự: là thao tác tư duy nhằm “xác định sự giống nhau và
khác nhau giữa các sự vật hiện tượng của hiện thực”. Nhờ so sánh người ta có thể
tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. Ngoài ra còn
tìm thấy những dấu hiệu bản chất và không bản chất thứ yếu của chúng.
- Trừu tượng hoá: trừu tượng hoá là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những
mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu, và chỉ giữ lại những
yếu tố đặc trưng, bản chất của đối tượng nhận thức.
- Khái quát hoá: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác
nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ
chung, bản chất của sự vật, hiện tượng. Kết quả của khái quát hoá là cho ra một
đặc tính chung của hàng loạt các đối tượng cùng loại hay tạo nên nhận thức mới
dưới hình thức khái niệm, định luật, quy tắc.
Tóm lại, các thao tác tư duy cơ bản được xem như quy luật bên trong của
mỗi hành động tư duy. Trong thực tế tư duy, các thao tác đan chéo vào nhau mà
không theo trình tự máy móc. Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ tư duy, điều kiện
tư duy, không phải mọi hành động tư duy cũng nhất thiết phải thực hiện tất cả các
thao tác trên.
1.1.2. Phân môn Luyện từ và câu lớp 4
1.1.2.1. Mục đích dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4:
a) Hình thành và phát triển kỹ năng tiếng Việt:
- Thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử
dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường
hoạt động của lứa tuổi. Sách giáo khoa tiếng Việt 4 tiếp tục lấy nguyên tắc giao
tiếp làm định hướng cơ bản. Việc rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt thông qua
tất cả các phân môn Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu.
Phân môn luyện từ và câu được học từ lớp 2, song đến lớp 4 mới có những
tiết học dành riêng để trang bị kiến thức cho học sinh. Các em được mở rộng, hệ
thống hoá vốn từ, được trang bị kiến thức sơ giản về từ, câu, kỹ năng dùng từ đặt
câu, sử dụng dấu câu Việt để học tốt các phân môn tiếng


Trung thực – Tự trọng (tuần 5, 6)


Ước mơ (tuần 9)
Ýchí – Nghị lực (tuần 12, 13)
Đồ chơi – Trò chơi (tuần 15; 16)
+ HK II: 10 tiết
Tài năng (tuần 19)
Sức khoẻ (tuần 20)
Cái đẹp (tuần 22, 23)
Dũng cảm (tuần 25, 26)
Du lịch – Thám hiểm (tuần 29, 30)
Lạc quan – Yêu đời (tuần 33, 34)
- Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống thông qua các bài tập. Tìm từ ngữ
theo chủ điểm. Tìm hiểu nắm nghĩa của từ; Phân loại từ ngữ. Tìm hiểu nghĩa của
thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm; luyện sử dụng từ ngữ.
* Tiếng, cấu tạo từ: (5 tiết)
- Cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ
+ Cấu tạo của tiếng tuần 1: 2 tiết
+ Từ đơn và từ phức tuần 3: 1 tiết
+ Từ ghép và từ láy tuần 4: 2 tiết
- Các dạng bài tập: Nhận diện và phân tích cấu tạo của tiếng, từ; Phân loại
từ theo cấu tạo; Tìm từ theo kiểu cấu tạo; Luyện sử dụng từ.
* Từ loại: (9 tiết)
- Cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo từ loại của tiếng Việt.
+ Danh từ (tuần 5, 6, 7, 8: 5 tiết gồm cả cách viết danh từ riêng)
+ Động từ (tuần 9 và 11: 2 tiết)
+ Tính từ (tuần 11 và 12: 2 tiết)
- Các dạng bài tập: Nhận diện từ theo loại; Luyện viết danh từ riêng; Tìm và
phân loại từ theo từ loại; Luyện sử dụng từ.

kiến thức.
b) Luyện tập và mở rộng vốn từ:
- Giáo viên cho học sinh nhắc lại một số kiến thức có liên quan, rồi tổ chức
cho học sinh làm các bài tập theo các hình thức trao đổi nhóm, thi đua giữa các
nhóm, cá nhân. Cần lưu ý các vấn đề sau:


+ Hướng dẫn HS tìm hiểu kĩ yêu cầu của bài tập.
+ Chữa mẫu cho học sinh một phần hoặc 1 bài để hướng dẫn cách làm.
+ Hướng dẫn học sinh làm vào vở ( bảng con, bảng phụ, bảng nháp…)
+ Hướng dẫn HS nêu kết quả, chữa bài tậpvà tự kiểm tra kết quả luyện tập.
1.1.3. Cơ sở tâm lí học
1.1.3.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học
Hệ thần kinh của học sinh Tiểu học đang trong thời kì phát triển mạnh. Đến
chín, mười tuổi hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó
sẽ được giữ lại trong suốt cuộc đời. Trong thời kì này các em sẽ có những đặc
điểm tâm lý như khả năng kìm hãm (khả năng ức chế) của hệ thần kinh còn yếu,
dễ bị kích thích. Tri giác mang tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi tiết, mang
tính không chủ động, gắn với hành động và với hoạt động thực tiễn. Tuy vậy trẻ
cũng bắt đầu có khả năng phân tích, tách dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng
cụ thể.
Trí nhớ tuy đã phát triển nhưng còn chịu nhiều tác động từ hứng thú và các
hình mẫu tác động mạnh. Nhiều học sinh còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý
nghĩa mà có khuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc.
Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển phong phú. Càng về những
năm cuối cấp học, tưởng tượng của các em càng gần hiện thực hơn. Điều này
chứng tỏ học sinh cuối cấp Tiểu học đã biết tưởng tượng sáng tạo, một trong
những yếu tố cơ bản, cần thiết của tư duy.
1.1.3.2. Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học
Trong Tâm lý học nhận thức, Piaget đã đưa ra thuyết hoạt động hóa nhằm

nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ.
Như vậy, theo thời gian, hoạt động tư duy của học sinh Tiểu học có nhiều
biến đổi cơ bản. Sự thay đổi mối quan hệ giữa tư duy hình tượng, trực quan cụ thể
sang tư duy trừu tượng, khái quát chiếm ưu thế và là đặc điểm mới, nổi bật về hoạt
động tư duy của học sinh cuối cấp Tiểu học.
1.1.3.2. Lý Luận dạy học:
Trong lứa tuổi Tiểu học, học sinh có rất ít vốn từ, mỗi môn học cung cấp
cho học sinh thêm một số từ để làm công cụ học tập cũng như trong giao tiếp. Tất
cả các môn học và các phân môn Tiếng Việt đều có vai trò to lớn trong việc dạy


từ. Chúng mở rộng sự hiểu biết về thế giới, con người, góp phần làm giàu vốn từ
cho học sinh. Nguồn cơ bản của dạy Luyện từ và câu được xem là kinh nghiệm
sống của cá nhân học sinh và những quan sát thiên nhiên, con người của các em.
Dạy Luyện từ và câu phải gắn với đời sống, gắn với việc làm giàu những biểu
tượng tư duy, bằng con đường quan sát trực tiếp và thông qua những mẫu lời nói.
Tiết học Luyện từ và câu góp phần rèn luyện và phát triển kỹ năng sử dụng
ngôn ngữ một cách thành thạo, góp phần phát triển kỹ năng giao tiếp và sử dụng
văn bản sau này.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình dạy học chúng ta thường quan tâm đến 3 vấn đề quan trọng
đó là sách giáo khoa và các tài liệu khác, trình độ giáo viên, trình độ học sinh.
Sách giáo khoa có chức năng giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những
tri thức tiếp thu được trên lớp, phát triển năng lực trí tuệ và có tác dụng giáo dục
học sinh đồng thời giúp giáo viên xác định nội dung kiến thức và lựa chọn phương
pháp, phương tiện dạy học, tổ chức công tác dạy học của mình. Vì vậy, mỗi giáo
viên cần phải tìm hiểu nghiên cứu để có hiểu biết về chương trình.
1.2.1. Về phía giáo viên
Trước đây được đào tạo chuyên ngành với nhiều hình thức trình độ đào tạo
khác nhau, có sự chênh lệch nhau về kiến thức, kỹ năng. Không ít giáo viên gặp

trôi chảy những cảm nhận của mình. Nhưng nếu giáo viên tổ chức không linh hoạt
các hình thức, phương pháp dạy học thì học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ
động, các em sẽ không có điều kiện để thỏa sức sáng tạo, nâng cao trình độ hiểu
biết và khả năng tư duy thấp.

CHƢƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU NHẰM
BỒI DƢỠNG TƢ DUY CHO HỌC SINH LỚP 4
2.1. Quy trình dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4:


Các bước lên lớp của một tiết dạy Luyện từ và câu giữ một vị trí quan trọng,
với nội dung kiến thức mỗi bài khác nhau, song lại tương đương nhau và “đồng
dạng”. nên có quy trình chung là :
2.1.1. Kiểm tra bài cũ:
Giáo viên yêu cầu học sinh giải được các bài tập ở nhà hoặc nêu ngắn gọn
những điều đã học ở tiết trước, cho ví dụ minh hoạ.
2.1.2. Dạy bài mới:
- Giới thiệu bài: + Có thể giới thiệu gián tiếp (như liên hệ với bài cũ)
+ Giới thiệu trực tiếp.
- Hướng dẫn học sinh luyện tập: Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện
từng bài tập trong sách giáo khoa theo một trình tự chung là:
+ Đọc và xác định yêu cầu của bài tập.
+ Học sinh giải một phần bài tập làm mẫu.
+ Học sinh làm bài tập theo hướng dẫn của giáo viên.
+ Tổ chức trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ vào kiến
thức.
2.1.3. Củng cố, dặn dò:
Giáo viên chốt lại những kiến thức, kỹ năng cần nắm vững ở bài luyện tập,
nêu yêu cầu thực hành, luyện tập ở nhà.
2.2. Các biện pháp dạy Luyện từ và câu nhằm bồi dƣỡng tƣ duy cho

bồi dưỡng tư duy cho học sinh lớp 4.
2.2.1. Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu:
- Việc phân tích ngữ liệu giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập và
thực hành tốt nhằm rút ra kiến thức.
* Ví dụ : Khi dạy bài "Động từ" ( tuần 9), ở phần nhận xét sau khi cho học
sinh: đọc kĩ, thảo luận theo cặp tìm các từ chỉ hoạt động của người, các từ chỉ
trạng thái của vật, rồi trình bày kết quả trước lớp. Giáo viên sẽ chốt lại: Các từ nêu
trên là động từ. Vậy động từ là gì? Học sinh trả lời – giáo viên khẳng định và ghi
bảng. (Động từ là từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật )
2.2.2. Dạy nội dung mở rộng và hệ thống hoá vốn từ:


- Từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá trong phân môn Luyện từ và câu ở
lớp 4 bao gồm các từ thuần Việt, Hán Việt, thành ngữ, tục ngữ phù hợp với chủ
điểm của từng đơn vị học. Để học sinh hiểu nghĩa và biết dùng từ ngữ, thành ngữ,
tục ngữ... thuộc các chủ điểm. Giáo viên cần gợi ý cho học sinh liên tưởng, so sánh
hoặc tra từ điển để tìm hiểu nghĩa. Với những từ ngữ trừu tượng, ít gần gũi với học
sinh, cần đưa chúng vào văn cảnh cụ thể để làm rõ nghĩa.
- Giáo viên cần làm cho học sinh hiểu rõ tên chủ điểm. Từ đó, học sinh có
cơ sở tìm thêm các từ khác theo chủ điểm đã cho.
* Ví dụ: Khi dạy bài - Mở rộng vốn từ: Trung thực - Tự trọng.
Bài tập 4: Có thể dùng thành ngữ, tục ngữ nào dưới đây để nói về tính trung
thực hoặc lòng tự trọng:
- Thẳng như ruột ngựa.
- Giấy rách phải giữ lấy lề.
- Thuốc đắng giã tật.
- Cây ngay không sợ chết đứng.
- Đói cho sạch rách cho thơm.
- Cho học sinh thảo luận nhóm 4, đọc kĩ nội dung bài tập, xác định yêu cầu,
trao đổi tìm hiểu nghĩa của từng thành ngữ, tục ngữ (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng).

âm hay vần hoặc lặp hoàn toàn cả âm lẫn vần. (Ví dụ: Từ "luôn luôn", "rì rào"). Vì
vậy "bờ bãi" là từ ghép không phải từ láy mặc dù phần âm đầu giống nhau.
- Trong kiến thức về từ loại, phần danh từ học sinh rất khó khăn trong việc
nhận diện danh từ chỉ khái niệm, danh từ chỉ đơn vị. Vì vậy, khi dạy phần này giáo
viên cần đưa ba dấu hiệu để giúp học sinh nhận diện danh từ chỉ khái niệm là :
- Những từ chỉ sự vật có thể cảm nhận bằng trí óc như: đạo đức, kinh
nghiệm... Những từ được chuyển hoá từ động từ hoặc tính từ khi ghép với các từ
"sự", "cuộc", "lòng", ... như: lòng kiên nhẫn, sự hi sinh, ...
- Thường là từ gốc Hán như: Truyền thống, Tổ quốc...
- Đối với việc giúp học sinh phân tích và nhận diện danh từ chỉ đơn vị với
các tiểu loại danh từ khác, cần chỉ cho học sinh thấy rằng các từ chỉ đơn vị như:
cái, con, tấm, dãy, cơn, ... có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng là: một, hai, các,


vài, lũy, ... trong khi đó không phải từ chỉ sự vật nào cũng có thể kết hợp được với
từ chỉ số lượng.
- Các danh từ chỉ sự vật nếu không thể biểu thị một sự vật đơn thể như: bàn,
ghế, áo, người... mà biểu thị các sự vật tồn tại thành tổng thể như: nước, mưa, quần
áo... thì không thể kết hợp với từ chỉ số lượng. Giáo viên có thể cung cấp cho học
sinh một số danh từ chỉ loại thường gặp như:
Danh từ chỉ loại đi với vật thể: cái, con, cây, quả, người... (người thợ, cây
bàng, con khỉ...) ông, bà, ... ( ông bác sĩ, bà kĩ sư...)
Danh từ chỉ loại đi với danh từ chất thể (vải, nước, nhôm, đồng): cục, thanh,
tấm, giọt, hạt... (Ví dụ như: tấm vải, giọt nước...) Danh từ chỉ loại đi với danh từ
chỉ hiện tượng: cơn, làn, trận... (cơn mưa, trận bão...)
- Khi dạy kiến thức sơ giản về câu, học sinh dễ nhầm lẫn vị ngữ trong câu
kể ai thế nào? Là động từ chứ không phải là tính từ. Các em thường có xu hướng
xác định mọi câu kể có động từ thuộc câu kể Ai làm gì? Các em quen với động từ
là từ chỉ hành động bởi khái niệm "trạng thái", "tình thái" chưa được hình thành
hoặc hình thành chưa rõ ràng. Vì vậy, khi dạy học, giáo viên kết hợp miêu tả bằng

được bài tập này, HS đồng thời phải hiểu rõ nghĩa của các thành ngữ (việc hiểu
nghĩa, giải nghĩa thành ngữ là một yêu cầu khó đối với HS tiểu học vì hầu hết các
thành ngữ, tục ngữ nói chung đều mang nghĩa suy ra, nghĩa bóng và các tầng bậc ý
nghĩa rất sâu sắc. Nó mang tính trừu tượng cao). Với dạng bài tập đặt câu với từ
cho trước đã đòi hỏi khả năng tư duy sáng tạo khi giải quyết thì việc đặt câu với
thành ngữ cho trước còn khó hơn nhiều. Vì vừa phải đảm bảo về mặt cấu tạo câu,
cấu trúc ngữ pháp vừa phải đảm bảo câu phản ánh một ý nghĩa khái quát và sâu
sắc. Để giải quyết được bài này vừa đòi hỏi sự vững chắc về kiến thức vừa đòi hỏi
sự mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt của tư duy. Sự kết hợp này sẽ giúp phát triển
tính thuần thục trong tư duy của HS.
Tóm lại, trong quá trình hướng dẫn học sinh giải quyết những bài tập mở đòi hỏi sự vững chắc của kiến thức kết hợp với sự mềm dẻo của tư duy khi giải
quyết, giáo viên cần ý thức tận dụng tối đa lợi thế của dạng bài này kết hợp với các
kĩ thuật, biện pháp như đã trình bày để phát triển tính thuần thục của tư duy sáng
tạo cho học sinh
2.2.4. Dạy học sinh tích luỹ kiến thức:


- Học tiếng Việt, sử dụng tiếng Việt cũng như con người bước vào cuộc đời
đều phải mang theo mình những hành trang cần thiết, đó là những kinh nghiệm,
những bài học về cuộc sống, những hiểu biết về thế giới xung quanh.
- Muốn học tốt môn Tiếng Việt, giáo viên cần cho học sinh hiểu tầm quan
trọng của việc tích luỹ kiến thức
* Ví dụ: Khi dạy bài " Mở rộng vốn từ: Dũng cảm" (tuần 26 )
Bài tập 1: Tìm những từ ngữ cùng nghĩa và trái nghĩa với từ " dũng cảm",
các em có thể dùng "Từ điển tiếng Việt " của mình để thi đua tìm được nhiều từ
cùng với các bạn hoặc các em sẽ ghi chép thêm những từ ngữ của các bạn tìm
được mà trong sổ mình chưa có.
- Từ cùng nghĩa: quả cảm, gan dạ, gan góc, anh dũng...
- Từ trái nghĩa: nhát gan, nhút nhát, hèn nhát, bạc nhược...


Các biện pháp phát triển tư duy cho học sinh được vận dụng trong phân môn
Luyện từ và câu ở Tiểu học được đưa vào trong bài dạy. Tức là giáo viên sẽ vận


dụng tư tưởng của biện pháp phát triển tư duy vào việc thiết kế giáo án lên lớp của
mình. Nội dung thực nghiệm sẽ bao gồm:
+ Các tiết kiểm tra đầu vào, đầu ra và tiết kiểm tra vào thời gian giữa đợt
thực nghiệm được thiết kế theo định hướng kiểm tra một số yếu tố của tư duy của
học sinh.
+ Dạy Luyện từ và câu theo tư tưởng của các biện pháp phát triển một số
yếu tố của tư duy cho học sinh đã được xây dựng.
3.1.3. Đối tượng thực nghiệm
Các em học sinh lớp 4.
3.2. Một số giáo án thực nghiệm
Bài 1: LUYỆN TỪ VÀ CÂU:
THÊM TRẠNG NGỮ CHỈ THỜI GIAN CHO CÂU
(TIẾT 63, TUẦN 32, LỚP 4)
I. MỤC TIÊU
- Hiểu được tác dụng và đặc điểm của trạng ngữ chỉ thời gian trong câu (trả
lời câu hỏi Bao giờ? Khi nào? Mấy giờ? ). Xác định được trạng ngữ chỉ thời gian
trong câu, thêm trạng ngữ chỉ thời gian phù hợp với câu cho trước. Giúp học sinh
sử dụng, diễn đạt câu, lời nói của mình một mạch lạc, rõ ràng, độc đáo.
- Rèn luyện kĩ năng vận dụng linh hoạt các thao tác tư duy cơ bản. Phát triển
một số yếu tố của tư duy cho học sinh (thông qua bài tập “mở”: viết thêm các
trạng ngữ chỉ thời gian vào những câu thích hợp nhằm làm cho ý của câu thêm rõ
ràng, đoạn văn được mạch lạc; thông qua phân tích tính logic của câu về mặt ý
nghĩa, về đối tượng, về không gian, thời gian diễn ra sự việc trong câu, và thông
qua viết được các câu độc đáo cả về ngôn từ, cấu trúc và ý nghĩa).
- Rèn luyện ý thức chủ động, tích cực học tập.
II. CHUẨN BỊ

- giáo viên nhận xét, cho điểm.
2. Bài mới:
2.1. Giới thiệu bài.
Giáo viên giới thiệu bài và ghi
tên bài.
Mục đích: Nhấn mạnh trách
nhiệm của học sinh đối với nhiệm vụ
học tập.

+1 học sinh đọc yêu cầu 1. Cả lớp

2.2. Hướng dẫn học sinh làm bài đọc thầm lại.
tập
I. Phần nhận xét
1. Tìm trạng ngữ trong câu.
- Gọi học sinh đọc đề bài
Câu hỏi nhằm hướng dẫn học
sinh xác định trạng ngữ trong phần 1
như sau: “Muốn tìm trạng ngữ trong câu

+ Từng cặp học sinh trao đổi, trả


ta làm như thế nào” và câu hỏi: “Trạng lời câu hỏi. 2 học sinh phát biểu ý kiến.
ngữ vừa tìm được bổ sung ý nghĩa gì
cho câu?”.

(học sinh sẽ phải phân tích cấu
tạo câu: tìm chủ ngữ, vị ngữ trong câu


- Gọi học sinh đọc đề bài
- Yêu cầu học sinh tự làm bài;
- Gọi học sinh chữa bài:
Chẳng hạn:
- Hôm nay (hôm qua, ngày mai,
sáng nay …) trường em làm lễ khai
giảng năm học mới.
- Ngay sau buổi học (ngay trong



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status