Sáng kiến kinh nghiệm SKKN biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở trường tiểu học - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CNTT VÀO GIẢNG DẠY Ở
TRƢỜNG TIỂU HỌC”


PHỤ LỤC
STT

NỘI DUNG

TRANG

PHẦN THỨ NHẤT: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I

Đặt vấn đề

1

1

Lí do chọn đề tài

2

2

Ý nghĩa, tác dụng của giải pháp mới


2

Cơ sở thực tiễn

14

3

Các biện pháp tiến hành- thời gian tạo ra giải pháp

16

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

I

Mục tiêu chung

17

II

Các biện pháp thực hiện

17

III

Kết quả



51
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

1

Ban giám hiệu

BGH

2

Cán bộ giáo viên

CBGV

3

Cán bộ quản lí

CBQL

4


Nghiên cứu khoa học

NCKH

10

Phó Hiệu trưởng

PHT

11

Phương pháp dạy học

PPDH

12

Thiết bị dạy học

TBDH

13

Tổ trưởng chuyên môn

TTCM

14


án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian để đặt các câu hỏi gợi mở, tạo điều kiện
cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học. Những khả năng mới mẻ, ưu việt này
của CNTT và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc,
cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả cách ra quyết định của con người.
Mục tiêu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản
chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao
chứ không đơn thuần chỉ là “ Thầy đọc- trò chép; thầy giảng- trò nghe; thậm chí “
thầy giảng- trò ngủ gật” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo


điều kiện để chủ động lĩnh hội kiến thức, sắp xếp hợp lí quá trình tự học tập, tự rèn
luyện của bản thân mình.
Mục đích của việc ứng dụng CNTT vào nhà trường nói chung và trường Tiểu
học nói riêng là sử dụng CNTT như một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo các
nhà trường nâng cao chất lượng công tác quản lí, giúp các thầy giáo, cô giáo nâng cao
chất lượng dạy học và các em học sinh được học ra học, góp phần rèn luyện cho học
sinh (HS) một số phẩm chất của người lao động thời kì CNH-HĐH.
Có thể khẳng định: Đã đến lúc việc ứng dụng CNTT trong nhà trường nói chung,
trường Tiểu học nói riêng cần được quan tâm đúng mức hơn và cần được quản lí chặt
chẽ, hiệu quả hơn.
Vậy người Hiệu trưởng trường Tiểu học cần phải làm gì để đưa CNTT vào trong
nhà trường và quản lí việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của nhà trường nói chung,
trong hoạt động dạy học nói riêng? Bản thân tôi đã thực sự tâm huyết, trách nhiệm và
đã cùng tập thể lãnh đạo nhà trường từng bước quản lí tốt việc ứng dụng CNTT vào
việc giảng dạy, đảm bảo đúng thực chất, có chất lượng và đạt năng suất lao động cao.
1. Lí do chọn đề tài SKKN:
Thứ nhất: Xuất phát từ xu thế hội nhập và toàn cầu hoá. Việc tiếp nhận những công
nghệ mới trong đó CNTT là yếu tố khách quan và tất yếu để khẳng định sự hưng thịnh
của một quốc gia. Giáo dục không nằm ngoài quy luật đó, việc ứng dụng CNTT trong
giáo dục thể hiện sự lớn mạnh về khoa học, về công nghệ, về kinh tế… của một đất nước.

Kiến thức, hiểu biết và kĩ năng của GV đều do cá nhân tự học hỏi, nhiều thuật ngữ , kĩ
thuật máy tính còn chưa nắm bắt đầy đủ, có những GV còn chưa biết thao tác mở-tắt máy
tính, lại rất hạn chế về ngoại ngữ - tiếng Anh- thậm chí có nhiều GV không biết
( vì trước đây ở trường phổ thông mới chỉ được học tiếng Nga) làm cho việc sử dụng
máy vi tính gặp rất nhiều khó khăn. Đội ngũ học sinh chủ yếu là con nông dân, đời sống
kinh tế còn khó khăn, rất ít gia đình học sinh và cả giáo viên có máy tính. Cơ sở vật chất,
trang thiết bị phục vụ cho dạy học nói chung, phục vụ cho việc ứng dụng CNTT còn
nhiều hạn chế và rất khiêm tốn ( Năm học 2008-2009 nhà trường mới có 02 máy tính
thanh lí do Công ty Việt Hưng chuyển cho để sử dụng). Các thiết bị đi kèm thiếu đồng bộ,
lỗi thời ( do quá cũ, không có thiết bị thay thế),…
Mặt khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi. Sự áp
đặt vẫn chưa thể một sớm một chiều xóa được trong một bộ phận giáo viên. Việc dạy học
có ứng dụng CNTT còn quá mới mẻ với giáo viên. Điếu đó làm cho CNTT, mặc dù đã
đưa được vào quá trình dạy học mà vẫn chưa thể phát huy tính tích cực và hiệu quả của
nó. Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kĩ và hiểu đúng dẫn
đến việc ứng dụng không đúng lúc, không đúng chỗ, nhiều khi còn bị lạm dụng. Việc
đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng. Kết quả đánh giá giờ giảng ứng
dụng CNTT đôi khi còn là sự cảm tính. Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực
hiện triệt để và chưa có chiều sâu, sử dụng không thường xuyên, chưa có kĩ năng khai


thác nguồn tư liệu theo địa chỉ. Khả năng trình chiếu bài giảng trên máy tính chưa tốt làm
cho chất lượng bài giảng chưa đạt hiệu quả như mong muốn, chất lượng giáo dục chưa
được nâng cao.Việc ứng dụng CNTT trong dạy học trở thành nhu cầu cấp bách, không
thể thiếu trong việc đổi mới phương pháp của giáo viên trong mỗi nhà trường.
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, xuất phát từ yêu cầu khách
quan và tính cấp thiết về bài toán Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Tiểu
học, tôi đã nghiên cứu và tổ chức thực hiện thành công SKKN : “Biện pháp Quản lí ứng
dụng CNTT trong giảng dạy ở trường Tiểu học ”
2.Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới.

cách chủ động, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng phản xạ nhanh và chính xác. Trong các
giờ dạy có ứng dụng CNTT của GV, học sinh có hứng thú hơn trong học tập, kết quả học
tập tốt hơn. Các em tích cực tham gia có hiệu quả cao các cuộc thi qua mạng do nhà
trường phát động theo sự chỉ đạo của ngành.
3.Phạm vi nghiên cứu của SKKN.
3.1 Nơi tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm: Trường Tiểu học Xuân Quan – xã Xuân
Quan- huyện Văn Giang- tỉnh Hưng Yên.
3.2: Đối tƣợng SKKN tiến hành nghiên cứu: Giáo viên.
3.3 : Lĩnh vực khoa học nghiên cứu: Quản lí.
3.4: Mục đích của SKKN: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện
pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; tăng tính hiệu quả và đẩy
mạnh ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở trường Tiểu học.
3.5: Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học.
- Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học ở trường TH Xuân Quan trong
05 năm học ( từ năm học 2009-2010 đến nay)
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về CNTT và ứng dụng CNTT trong dạy học.
4.2. Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT vào dạy học ở trường Tiểu học. 4.3. Đề xuất
một số biện pháp quản lý của phòng GD&ĐT nhằm nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT
vào dạy học ở trường Tiểu học.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, mô hình hoá… các tài liệu, các văn bản có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu như sách, tài liệu về giáo dục, về quản lý giáo dục, về CNTT
và ứng dụng CNTT ; chủ trương đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật
của nhà nước, các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở GD&ĐT Hưng Yên, của


Phòng GD&ĐT Văn Giang về CNTT và quản lý việc ứng dụng CNTT nhằm xây dựng cơ

học trong đó có ứng dụng CNTT không nhằm ngoài mục đích thực hiện tốt các nhiệm vụ
dạy học.


1.1.2. Phƣơng tiện kỹ thuật dạy học
Để việc dạy học đạt hiệu quả cao, trong quá trình dạy học người giáo viên và học
sinh phải sử dụng các phương tiện dạy học mà ta vẫn gọi là thiết bị dạy học. Việc đổi mới
phương pháp dạy học cũng bao gồm việc đổi mới các thiết bị - phương tiện dạy học, đổi
mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách dạy, cách quản lý việc sử dụng các phương tiện dạy
học sao cho hoạt động này trở thành thói quen thường xuyên trong từng tiết lên lớp của
giáo viên.
Trên thực tế trong dạy học sử dụng nhiều loại thiết bị dạy học, phương tiện kỹ thuật
dạy học khác nhau và được phân loại như sau:
a) Thiết bị đơn giản: Các dụng cụ dạy học học thông thường: tranh ảnh, đồ dùng
dạy học, mô hình vật mẫu, đồ chơi giáo dục mầm non…
b) Thiết bị hiện đại có giá trị kinh tế cao: Các thiết bị phục vụ dạy học và đồ dùng
dạy học hiện đại, máy móc thực hành, dụng cụ thí nghiệm, máy chiếu, máy vi tính, máy soi
vật thể, hệ thống nghe nhìn, máy in, máy photo coppy…
Do có nhiều ưu điểm nổi trội, trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và do
khoa học công nghệ ngày càng phát triển mà các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại
ngày càng được phát triển. Quản lý tốt các phương tiện kỹ thuật dạy học sẽ có tác động
tích cực đối với việc nâng cao chất lượng dạy học.
1.2. CNTT và ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong trƣờng TH.
1.2.1. Thông tin- Công nghệ thông tin.
a.Thông tin:
Thông tin là một khái niệm trừu tượng mô tả các yếu tố đem lại hiểu biết, nhận thức
cho con người cũng như các sinh vật khác. Thông tin tồn tại khách quan, dưới nhiều dạng
khác nhau, xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, có thể được tạo ra, truyền đi, lưu trữ và
chọn lọc. Khi tiếp nhận thông tin, con người thường phải xử lí nó để tạo ra những thông tin
mới và tạo ra những phản ứng nhất định. Trong lĩnh vực quản lí, các thông tin mới là các

xã hội như vậy, thông tin đã trở thành một loại hàng hóa cực kỳ quan trọng. Máy vi tính
và những vấn đề liên quan đã đóng một vai trò chủ yếu trong việc lưu trữ và truyền tải
thông tin và tri thức. Thực tế này yêu cầu các nhà trường phải đưa các kỹ năng công nghệ
vào trong chương trình giảng dạy của mình. Một trường học mà không có CNTT là một
nhà trường không quan tâm gì tới các sự kiện đang xảy ra trong xã hội trong thời đại
ngày nay.
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bao gồm hai lĩnh vực : ứng dụng CNTT trong
quản lý và ứng dụng CNTT trong giảng dạy ( Phạm vi đề tài là ứng dụng CNTT vào
giảng dạy ở trường TH). Thực tiễn việc ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay đã trở
nên phổ biến. Điều kiện CSVC, hạ tầng CNTT - viễn thông đang thay đổi một cách
nhanh chóng là một cơ hội rất lớn cho một phương pháp giáo dục hiện đại, một nền giáo
dục tiên tiến với vai trò nòng cốt của CNTT. Nó đòi hỏi công tác quản lý giáo dục phải có
những giải pháp thích hợp để phát huy hết những lợi thế mà CNTT mang lại cho việc dạy
và học trong nhà trường


1.3. Quản lý ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong trƣờng TH
1.3.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước và ngành GD&ĐT
Nhân loại đang bước vào một thời đại mới, thời đại mà thông tin, tri thức trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp, thời đại của xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức được
hình thành trên cơ sở phát triển và ứng dụng rộng rãi CNTT&TT. Cuộc cách mạng thông
tin cùng với quá trình toàn cầu hóa đang ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời
sống kinh tế - xã hội, đưa con người chuyển nhanh từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông
tin, từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, ở đó năng lực cạnh tranh phụ thuộc chủ
yếu vào năng lực sáng tạo, thu thập, lưu trữ, xử lý và trao đổi thông tin..
Trong xu thế biến động mạnh mẽ của cuộc cách mạng thông tin, Đảng, Chính phủ,
Bộ GD&ĐT và cấp cơ sở đã có nhiều văn bản chỉ đạo và xác định CNTT là một trong
các động lực quan trọng nhất của sự phát triển. Cụ thể:
- Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và
phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đã chỉ ra rằng “Ứng dụng và phát triển

những lý do chủ yếu sau đây:
Một là: Những yếu tố cơ bản của CNTT và kỹ năng sử dụng máy vi tính là các bộ
phận không thể thiếu của học vấn phổ thông, đáp ứng những yêu cầu của KH - CN trong
kỷ nguyên thông tin, nền kinh tế tri thức
Hai là: Những yếu tố của CNTT còn có thể góp phần phát triển con người.
Ba là: Máy vi tính, với tư cách là một công cụ của CNTT một tiến bộ của KH-CN
cũng cần được sử dụng trong quá trình dạy học để cải tiến phương pháp dạy học nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục.
Bốn là: CNTT đã đem đến một tài nguyên giáo dục cho tất cả mọi người, làm cho
vai trò, vị trí của giáo viên thay đổi, người học có thể phát huy tính tích cực tự truy cập
vào nguồn tài nguyên học tập vô cùng phong phú trên mạng Internet với những tiêu chí
mới: học mọi lúc, học mọi nơi,…rất dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả.
Năm là: CNTT làm thay đổi quá trình dạy học với nhiều hình thức phong phú. Mối
giao lưu, tương tác giữa người dạy và người học đặc biệt là giữa người học và máy tính.
Thông tin đã trở thành tương tác hai chiều với nhiều kênh truyền thông là kênh chữ, kênh
hình, động hình, âm thanh, màu sắc mà đỉnh cao là các sản phẩm E-learning.
1.3.3. Quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy
Việc ứng dụng CNTT vào quản lý dạy học là công việc, là nhiệm vụ của các nhà
quản lý giáo dục nói chung và của mỗi nhà quản lý các cơ sở giáo dục đào tạo nói riêng.
Quản lý là lãnh đạo, chỉ đạo, điều khiển một tổ chức bằng cách vạch ra mục tiêu cho tổ
chức đồng thời tìm kiếm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức sao cho tổ chức
ấy đạt được mục tiêu đề ra.
Mục đích phát triển giáo dục nước ta hiện nay là phải nâng cao chất lượng giáo
dục. Một trong những vấn đề trăn trở của ngành giáo dục là: làm thế nào để CNTT thực sự
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục? Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học là một
trong những lời giải của bài toán nâng cao chất lượng GD&ĐT. Các biện pháp quản lý ứng


dụng CNTT trong hoạt động giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định
để nâng cao chất lượng giáo dục ở trường TH.

tài nguyên mạng và các PPDH có ứng dụng CNTT.
Biện pháp 5 : Tăng cường các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật tin học,
hiện đại hóa trang thiết bị.
Biện pháp 6 : Kiểm tra và đánh giá việc bảo quản, sử dụng CNTT ở trường Tiểu
học.
2.2: Thời gian: Từ năm học 2009-2010 đến nay.


Trên cơ sở lý luận về quản lý nhà trường và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy
học đồng thời từ thực trạng quản lý, tôi đã thực hiện có hiệu quả trong 5 năm qua, nay xin
đề xuất: Biện pháp Quản lý ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở trƣờng Tiểu học.


PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CNTT VÀO GIẢNG DẠY Ở
TRƢỜNG TIỂU HỌC
I. MỤC TIÊU CHUNG
Sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp quản lí ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở
trường Tiểu học có nhiệm vụ: Xuất phát từ thực trạng ứng dụng và Quản lí ứng dụng
CNTT trong giảng dạy ở trường Tiểu học để đề ra các biện pháp quản lí hiệu quả hoạt
động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng dạy học nói riêng.
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Trên cơ sở kế thừa và phát triển những biện pháp mà nhà trường đã thực hiện đồng
thời với việc nghiên cứu và vận dụng những kiến thức lý luận liên quan như đã phân tích
nêu trên, tôi xin đề xuất những biện pháp quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học trong
trường TH như sau :
1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, lợi ích của việc ứng dụng
CNTT vào giảng dạy.
1.1. Mục đích, ý nghĩa

đoạn, nóng vội duy ý chí trong việc ứng dụng CNTT trong đổi mới giáo dục.
Khuyến khích động viên giáo viên chủ động tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ về
CNTT, tạo điều kiện cho các thầy cô giáo cao tuổi tiếp cận CNTT, kích thích niềm say mê
tìm tòi CNTT, coi đó là tấm gương sáng cho lớp trẻ.
1.3. Tổ chức thực hiện
Trước tiên là lãnh đạo nhà trường cần tìm hiểu và nhận thức đúng đắn các chủ
chương, chính sách của Đảng, của Nhà nước của Bộ GD&ĐT, của UBND, Sở GD&ĐT
Hưng Yên; UBND, phòng GD & ĐT Văn Giang về CNTT trong lĩnh vực hoạt động giáo
dục. Lãnh đạo nhà trường phải là người tiên phong, đi đầu trong việc ứng dụng các tiện
ích của CNTT thông tin đem lại, tạo ra phong trào và là tấm gương sáng cho cán bộ, giáo
viên trong nhà trường noi theo.
Bằng nhiều hình thức, quán triệt trong Ban giám hiệu, Chi ủy Đảng, Công đoàn,
Đoàn thanh niên và các tổ chức khác trong nhà trường. Cung cấp, tuyên truyền các văn
bản chỉ đạo của cấp trên về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong nhà trường. Xây dựng
các kế hoạch, ra các văn bản, quyết định có tính chất chiến lược lâu dài, kết hợp triển
khai theo từng mảng công việc, giao trách nhiệm cho các CBQL và các tổ chức khác
trong nhà trường thực hiện các nhiệm vụ về ứng dụng CNTT. Tạo sự đồng thuận, nhất trí
trong Ban giám hiệu và các tổ chức khác trong nhà trường. Để công tác tuyên truyền đạt
hiệu quả cần thực hiện tốt các bước sau:
Một là: Tìm hiểu đánh giá mức độ nhận thức và hiểu biết của CBQL và giáo viên
trong nhà trường.


Hai là: Đề xuất những nội dung tuyên truyền, quán triệt các văn bản, Chỉ thị, Nghị
quyết về giáo dục về ứng dụng CNTT trong quản lý dạy học hiện hành để nâng cao nhận
thức cho CBQL, giáo viên.
Ba là: Xây dựng kế hoạch tuyên truyền phù hợp với các thành phần đối tượng. Quy
định cụ thể trách nhiệm của từng thành viên trong hệ thống cùng thực hiện mục tiêu.
Cung cấp và bổ sung hệ thống văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết và các chế định hiện hành về
ứng dụng CNTT trong giáo dục. Soạn thảo những nội dung cần tuyên truyền,quán triệt

HT, PHT, các TTCM, TPCM tăng cường công tác kiểm tra, dự giờ thăm lớp, xếp
loại giáo viên nhất là các bài dạy, tiết dạy có ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp
dạy học.
Tạo mọi điều kiện cho cán bộ, giáo viên đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ về
chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực CNTT( Năm học 2008-2009 nhà trường chi 100%
kinh phí học tập chứng chỉ Tin học A, B, C cho CBGV-NV. Từ năm học 2009- 2010 trở
đi chi 50% )
Tham mưu, huy động mọi nguồn lực để trang bị, mua sắm thêm về cơ sở vật chất,
máy tính, mạng máy tính cho nhà trường.
1.4. Điều kiện thực hiện
* Đối với cán bộ quản lý:
Lãnh đạo nhà trường phải hiểu rõ xu thế phát triển tất yếu của thời đại đó là sự phát
triển mạnh mẽ của Khoa học - Công nghệ. Từ đó có sự nhất trí đồng thuận trong lãnh đạo
nhà trường về đường lối, chủ trương của ngành về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động
dạy học. Đi sâu đi sát hiểu rõ thực tế trong tình hình phát triển kinh tế, văn hóa chính trị
của địa phương; điều kiện thực tiễn của nhà trường trong sự biến đổi của xã hội. Điều
kiện về năng lực quản lý và trình độ CNTT của cán bộ quản lý. Cần phải chủ động trau
dồi kiến thức tin học, nâng cao trình độ CNTT.
* Đối với giáo viên:
Nghiêm túc trong việc thực hiện đường lối chủ trương chung của lãnh đạo nhà
trường. Chủ động đổi mới tư duy, nhận thức được vai trò của CNTT trong giai đoạn hiện
nay. Biết cách sử dụng CNTT một cách phù hợp trong giờ dạy, đổi mới phương pháp dạy
học. Tự bản thân mỗi giáo viên phải có trách nhiệm nghề nghiệp, thấy được vai trò, tác
dụng của CNTT trong việc nâng cao chất lượng để từ đó có kế hoạch tự bồi dưỡng nâng
cao trình độ chuyên môn nói chung và CNTT nói riêng.
2. Biện pháp 2: Lập kế hoạch cho việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào giảng dạy trong
nhà trường.
2.1. Mục đích, ý nghĩa
Quản lý việc ứng dụng CNTT vào dạy học chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố
luôn biến động, từ những yếu tố bên trong như trình độ và năng lực của đội ngũ CBGV,

2.3. Tổ chức thực hiện
Phải xác định các mục tiêu, các bước đi cụ thể về ứng dụng CNTT vào dạy học cho
từng giai đoạn, từng học kỳ, từng năm học.
Xây dựng kế hoạch về khai thác và sử dụng kinh phí đầu tư : không chỉ dừng ở
việc đầu tư trang thiết bị, mà cần chú trọng hơn trong kế hoạch kinh phí cho bảo trì, bảo
dưỡng; mua phần mềm; lắp đặt và khai thác đường truyền Internet, xây dựng cơ sở dữ
liệu điện tử phục vụ dạy học và quản lý...
- Xây dựng kế hoạch về con người : Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ
cho đội ngũ hiện nay, có kế hoạch bồi dưỡng chuyên sâu các kỹ năng soạn thảo văn bản


trên máy tính để thiết kế giáo án, sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học, kỹ năng khai thác và
sử dụng thông tin trên mạng, kỹ năng tổ chức dạy học bằng trình chiếu,....
Trong kế hoạch cần chỉ rõ Ai chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, chỉ đạo hoạt
động, kiểm tra theo kế hoạch đã đề ra? Hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học có liên
quan chặt chẽ với các hoạt động chuyên môn khác nên công việc này cần giao cụ thể cho
PHT hoặc TTCM, hoặc GV có trình độ, kĩ năng về CNTT và có kinh nghiệm trong chỉ
đạo đổi mới dạy học đối với giáo viên. Điều này hết sức quan trọng giúp cho các hoạt
động quản lý được triển khai một cách có hiệu quả.
3. Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch tạo nguồn nhân lực có chất lượng về CNTT cho
nhà trường.
3.1. Mục đích, ý nghĩa
Điều kiện kinh tế xã hội thay đổi cùng với sự tiến bộ về khoa học công nghệ đã tạo
ra môi trường mới cho giáo dục. Môi trường mới vừa tạo điều kiện vừa bắt buộc chúng ta
phải đổi mới phương pháp dạy học. Ngày nay, kiến thức, kĩ năng về CNTT là một trong
những văn hóa thiết yếu, cần thiết cho cuộc sống và công việc. Việc nước ta gia nhập
WTO đòi hỏi ngành giáo dục đào tạo ra những con người không chỉ đáp ứng nhu cầu về
đào tạo nguồn nhân lực mà còn phải đáp ứng nhu cầu về nhân lực trình độ cao của thế giới
đang bước vào nền kinh tế tri thức – công dân toàn cầu.
Đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về CNTT cho cán bộ, giáo viên (tạo nguồn nhân

Xây dựng kế hoạch cử cán bộ, giáo viên đi học chứng chỉ để nâng cao trình độ
chuyên môn về Tin học, GV không đi học các lớp cấp chứng chỉ thì chỉ cần có kĩ năng sử
dụng, ứng dụng ( Qua kiểm tra, sát hạch tay nghề hàng năm do nhà trường tổ chức. Năm
học 2012-2013 và 2013- 2014 nhà trường tổ chức kiểm tra, đánh giá cho điểm và đưa
vào kết quả thi đua), đồng thời mời các chuyên gia và giáo viên giảng dạy có kinh
nghiệm, hướng dẫn trực tiếp, thuyết trình bằng máy chiếu, thảo luận, hỏi đáp, thực hành
tại trường 3 lần cho 100% CBGV-NV
Hàng năm, luân phiên tổ chức bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng sử dụng CNTT cho
giáo viên cốt cán để sử dụng được máy vi tính, phần mềm ứng dụng vào giảng dạy, công
tác. Từ những giáo viên mạng lưới này sẽ tự bồi dưỡng cho những giáo viên khác trong
trường về những kiến thức cơ bản của tin học để có khả năng sử dụng tốt máy vi tính trong
công tác “Học thầy không tày học bạn”. Qua kinh nghiệm cho thấy một cách học tập nhanh
nhất của Tin học đó là học tập kinh nghiệm, qua “truyền tay” và chỉ bảo trực tiếp qua máy
tính ngay từ tổ, nhóm chuyên môn.
Bồi dưỡng kiến thức về tin học cho cán bộ lãnh đạo, giáo viên và nhân viên có đủ
trình độ để sử dụng, khai thác tốt các thiết bị CNTT trong quản lý nhà trường. Tin học
hoá trong công tác quản lý nhân sự, sổ điểm, trao đổi thông tin trong trường qua Email,…
Thực hiện việc bồi dưỡng ngắn ngày, trực tiếp cho giáo viên có những kiến thức và kỹ
năng cần thiết để ứng dụng các thiết bị và phần mềm nhằm đổi mới nội dung giảng dạy, đổi
mới phương pháp, đổi mới đánh giá, vận dụng phương tiện CNTT vào tự học, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ.


Nhà trường tổ chức những cuộc phát động phong trào thi đua học tập, bồi dưỡng,
ứng dụng CNTT trong hoạt động của toàn trường đặc biệt trong các kỳ hội giảng, kỷ
niệm ngày 20/11, 8/3, ... để phát động phong trào sử dụng, ứng dụng, học tập lẫn nhau về
kiến thức CNTT.
Thành lập ban CNTT trong nhà trường do Hiệu trưởng hoặc uỷ quyền cho một
đồng chí Phó hiệu trưởng làm trưởng ban để theo dõi, giúp đỡ các cán bộ, giáo viên, tích
hợp và triển khai các hoạt động về ứng dụng CNTT trong nhà trường, coi tiêu chí ứng

phương thức cách làm việc và dạy học.
Hai là: Đa dạng hoá, hiện đại hoá cách thức quản lý và dạy học trong nhà trường.
Ba là: Tăng cường khai thác Internet để thu thập, sử dụng các thông tin phục vụ
chuyên môn, nghiệp vụ.
Bốn là: Tăng cường công tác quản lý theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế phát
triển và hội nhập..
Năm là: Học tập kinh nghiệm của các trường đã ứng dụng thành công CNTT trong
đổi mới nội dung, phương pháp dạy học.
4.2. Nội dung- Biện pháp
Nhà trường cần đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong giáo dục theo hướng tin học
hoá quản lý giáo dục và sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc
đổi mới phương pháp quản lý và dạy học như:
Thứ nhất: Triển khai chương trình quản lý nhân sự, hệ thống thông tin quản lý
giáo dục trong nhà trường.
Thứ hai: Tin học hoá công tác quản lý tài chính, ngân sách nhà nước.
Thứ ba: Khai thác tốt các phần mềm quản lý đang thực hiện trong nhà trường theo
sự chỉ đạo của ngành: Phần mềm phổ cập, vermis, Emis…
Thứ tƣ: Trong dạy và học, chỉ đạo, khuyến khích giáo viên tăng cường khai thác,
sử dụng có hiệu quả các phần mềm như: phần mềm mô tả, mô phỏng, minh hoạ, chứng
minh, vẽ hình học, ... để đổi mới nội dung và phương pháp dạy học.
Thứ năm: Sử dụng tốt các phần mềm thiết kế bài dạy như: phần mềm Microsoft
PowerPoint, Microsoft Frontpage, HTML, Violet, Macromedia Flash, ...
Thứ sáu: Thông báo thông tin điện tử (Website) của Phòng, Sở và địa chỉ Email
chung của nhà trường để CBGV-NV nắm bắt các thông tin, hoạt động của ngành, của nhà
trường nhanh chóng và chính xác. Các kế hoạch năm học, kế hoạch theo học kì, tháng,
tuần của nhà trường, Liên đội và các đoàn thể đều được gửi vào hộp thư điện tử của nhà
trường, tạo được thói quen cho GV cập nhật thông tin qua thư điện tử. Biện pháp này
giúp cho công tác chỉ đạo kịp thời, hiệu quả, tiết kiệm thời gian, văn phòng phẩm đồng
thời giúp cho GV từng bước nâng cao kĩ năng sử dụng, khai thác qua mạng Internet. GV
nào không cập nhật sẽ không nắm bắt được kế hoạch cho nên đó cũng là điều kiện buộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status