SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHỐI HỢP MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC VỚI PHƢƠNG
PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƢ DUY TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
6"
-1-
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Luật sửa đổi bổ sung Luật Giáo dục nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2009 ban hành ngày 04 tháng 12 năm 2009 trong Chƣơng I, Điều 5 khoản 2 nêu rõ:
“Phƣơng pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tƣ duy sáng tạo
của ngƣời học; bồi dƣỡng cho ngƣời học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vƣơn lên.”
Trƣớc tiên phải hiểu học Lịch sử là để học tinh thần yêu nƣớc, mà tinh thần yêu
nƣớc là động lực quan trọng nhất để bảo vệ và xây dựng đất nƣớc. Tuy nhiên hiện nay,
một bộ phận lớp trẻ bây giờ đang quên đi điều đó. Xu thế xã hội đã hình thành suy nghĩ
cục bộ của nhiều ngƣời cho rằng cứ theo kế toán, ngân hàng, tài chính... thì khi ra trƣờng
đi làm sẽ có tiền đƣợc ngay. Nhƣng xét về an ninh quốc gia, khi có giặc thì không thể lấy
kế toán, ngân hàng ra để đánh nhau với địch đƣợc. Mà đúng ra, từ tinh thần dân tộc, từ
niềm tự hào dân tộc sẽ nâng cánh cho những con ngƣời có tâm, có lực đóng góp công sức
cho việc xây dựng quê hƣơng đất nƣớc của chính mình bằng năng lực, nghiệp vụ trong
những nghành nghề nhƣ kế toán, ngân hàng, tài chính… đƣợc phát huy hơn nữa.
Vì vậy, trƣớc hết vẫn là truyền ngọn lửa về tinh thần yêu nƣớc, niềm tự hào dân
tộc, để từ đó có đƣợc sự đoàn kết giữa các dân tộc với nhau thì mới có sức mạnh của một
quốc gia độc lập, tự chủ. Sau đó mới là những kiến thức kĩ năng nghề nghiệp khác cho
mỗi sở trƣờng của mỗi cá nhân, và tất nhiên những kiến thức kĩ năng thuộc về nghề
nghiệp ấy sẽ thấm đƣợm đƣợc tinh thần yêu nƣớc, tinh thần cống hiến, xây dựng đất
nƣớc chứ không chỉ đơn thuần là nghề để kiếm sống, “mạnh ai nấy sống”.
đất nƣớc.
Trong quá trình công tác tại trƣờng THCS Ba Cụm Bắc, qua những thông tin trên
các phƣơng tiện thông tin nghe nhìn về tình trạng chất lƣợng giáo dục bộ môn tôi nhận
thấy có nhiều nguyên nhân khiến cho chất lƣợng dạy và học bộ môn Lịch sử sa sút
nghiêm trọng, và đặc biệt qua thực tế đứng lớp tôi thấy nhƣ sau:
+ Bản thân tôi đang sử dụng các phƣơng pháp dạy học nhƣ: Phát vấn, nêu và giải
quyết vấn đề, thảo luận nhóm, kể chuyện, đồ dùng trực quan, khai thác kênh hình, quy
nạp và diễn giải, thuyết trình, đàm thoại, đóng vai, kiểm tra đánh giá, trò chơi…nhƣng
chƣa tìm ra phƣơng pháp tăng tính tác động đến sự chủ động, tích cực hơn nữa khi học bộ
môn cho HS.
+ HS chƣa tìm ra cách học cho riêng mình, thụ động trong tiếp thu kiến thức. Có
những học sinh khi cô giáo giảng bài chỉ cắm cúi ghi vào trong vở của mình, về nhà mở
sách, vở ra học mặc dù ghi đƣợc rất nhiều nhƣng đọc mãi mà vẫn không hiểu kiến thức
hoặc có hiểu đƣợc thì kiến thức không thành hệ thống. Việc học nhƣ vậy khiến các em
mất nhiều thời gian mà chƣa đem lại hiệu quả cao. Và bây giờ học sinh quay lƣng lại với
học Sử, chỉ vì với lý do là học Sử khô khan, không hấp dẫn, nặng nề, khó nhớ, …
Vậy trong cách giảng dạy có điểm nào bất cập, chƣa hợp lý? Đó là câu hỏi mà bản
thân tôi luôn trăn trở và cố gắng tìm ra hƣớng khắc phục.
-3-
Trong quá trình công tác, tôi nhận đƣợc sự động viên cũng nhƣ tạo cơ hội cho việc
nâng cao năng lực nghiệp vụ chuyên môn từ phía lãnh đạo nhà trƣờng dành cho đội ngũ
giáo viên trong trƣờng bằng nhiều hình thức phong phú, thiết thực.
Bên cạnh đó, sự phủ sóng rộng khắp của hệ thống Internet đã mang lại cho tôi và
rất nhiều GV khác cơ hội đƣợc học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong việc giảng dạy bộ
môn, đặc biệt gây thu hút cho tôi là việc sử dụng Bản đồ tƣ duy (BĐTD) - một phƣơng
pháp giảng dạy mới ở VN do Tiến sĩ Trần Đình Châu - ngƣời đầu tiên tiến hành nghiên
cứu và tìm cách đƣa phƣơng pháp bản đồ tƣ duy vào giảng dạy tại Việt Nam (ngƣời sáng
. H n tr n :
Môn Lịch sử góp phần giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm
mỹ và một số kĩ năng sống cơ bản nhằm hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam,
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Nhƣng:
+ Lịch sử là môn học với nhiều lƣợng thông tin, các vấn đề Lịch sử cần xâu chuỗi
một cách logic nhằm giúp học sinh nhận biết đƣợc quy luật Lịch sử, tiến trình lịch sử, vì
vậy học sinh cần đƣợc “học cách học” điều đó sẽ giúp các em học tập một cách tích cực,
ghi chép có hiệu quả, tránh đƣợc sự nhàm chán trong việc học Lịch sử hiện nay.
+ Trong nhận thức của phụ huynh học sinh cũng nhƣ của học sinh đây là môn học
có vai trò thứ yếu và mờ nhạt trong nhà trƣờng.
+ Thực trạng việc dạy và học thƣờng diễn ra một cách khô khan, nặng nề, ít gây
hứng thú cho học sinh, do đó hiệu quả giáo dục còn gặp nhiều hạn chế, chƣa đem lại
những kết quả nhƣ mong đợi của giáo viên giảng dạy bộ môn.
+ Đời sống vật chất và tinh thần của đa số các em HS ngƣời sở tại của trƣờng
THCS Ba Cụm Bắc còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, các em chƣa dành nhiều thời gian
cho học tập nói chung và học môn Lịch sử nói riêng.
+ Khả năng tiếp thu và học tập của HS ngƣời sở tại còn hạn chế hơn so với mặt
bằng chung của HS ngƣời Kinh.
+ Tài liệu phục vụ cho bộ môn lịch sử nhƣ: sách tham khảo, tài liệu băng đĩa hình,
truyện tranh, hiện vật phục chế, sa bàn, … còn hạn chế.
Và chắc chắn việc học tập chăm chỉ chƣa hẳn đã là giải pháp tối ƣu, bởi khi có
nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà là học nhƣ thế nào và sử dụng
phƣơng pháp gì. Thông tin đa chiều và thực tế yêu cầu khi học, không chỉ học có kiến
thức mà còn phải có khả năng tạo ra giá trị gia tăng từ kiến thức đó, nhƣ vậy, việc học
mới hoàn thành chu trình khép kín của nó, hay nói cách khác, “học phải đi đôi với hành”.
Môn Lịch sử nói riêng và các môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội khác nói
chung thƣờng xuyên đƣợc tiếp xúc với kiến thức lí thuyết nhiều nên để lĩnh hội kiến thức
đòi hỏi mỗi ngƣời học phải ghi chép thƣờng xuyên. Đối với những ngƣời có phƣơng pháp
ghi chép bằng những kí hiệu, bằng những cách hiểu biết của mình thì ít gặp phải khó
giảng dạy; Tăng cƣờng bài tập về nhà; Tuy nhiên, giải pháp gây hứng thú, thu hút sự
quan tâm rất lớn của tôi đó là sự phối hợp một số phƣơng pháp dạy học với phƣơng pháp
sử dụng BĐTD.
Những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong những năm gần đây cho
thấy bộ não không tƣ duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo ra những kết nối, những
nhánh thần kinh. Việc ghi chép tuần tự theo lối truyền thống với bút và giấy có dòng kẻ
đã khiến cho con ngƣời cảm thấy nhàm chán .
Từ trƣớc đến nay đã có một số quan điểm cho rằng con ngƣời không sử dụng hết
100% công suất bộ não. Những nghiên cứu bằng ảnh cộng hƣởng từ cho thấy toàn bộ não
hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động tinh thần của con ngƣời và quá trình tƣ
-6-
duy là sự kết hợp phức tạp giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và
giai điệu. Tức là quá trình tƣ duy sẽ sử dụng toàn bộ các phần khác nhau trên bộ não .
Trực giác đóng vai trò rất quan trọng trong sáng tạo. Cơ sở của trực giác là trí
tƣởng tƣợng. Khi ta suy nghĩ một vấn đề gì đó, thông tin đƣợc tích luỹ trong não một
cách dần dần. Bằng trí tƣởng tƣợng của mình, con ngƣời xây dựng các sơ đồ, mô hình và
tiến hành “thao tác” với các “vật liệu” ấy. Khi những sự kiện mới làm nảy sinh, kích
thích, khơi gợi, những thông tin trong não bật ra tự nhiên và dễ dàng giúp con ngƣời phán
đoán nhanh và cái mới xuất hiện.
Những hình vẽ, kí hiệu, màu sắc đóng vai trò quan trọng trong tƣởng tƣợng vì
chúng là những vật liệu “neo thông tin ”, nếu không có chúng thì không thể tạo ra sự liên
kết giữa các ý tƣởng. Nhƣ vậy, trong sơ đồ tƣ duy, học sinh tự do phát triển các ý tƣởng,
xây dựng mô hình và thiết kế mô hình để giải quyết những vấn đề thực tiễn .
Bản đồ tƣ duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào
sâu các ý tƣởng . Bản đồ tƣ duy là một công cụ tổ chức tƣ duy nền tảng, có thể miêu tả đó
là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đƣờng nét, màu sắc phù
hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con ngƣời khai thác tiềm năng
+ Học sinh lập Bản đồ tƣ duy theo cá nhân. (kết hợp phƣơng pháp Nêu và giải quyết vấn
đề).
+ Tạo lập tại lớp hoặc chuẩn bị trƣớc ở nhà.
+ Học sinh lập Bản đồ tƣ duy theo nhóm ( kết hợp phƣơng pháp thảo luận )
+ Tạo lập theo ý tự do của HS với chủ đề chính đƣợc đƣa ra (theo nhóm hoặc cá nhân).
+ Tạo lập kết hợp phƣơng pháp một trò chơi, một cuộc thi nhỏ, ….
+ Tạo lập trƣớc khi học hoặc tìm hiểu nội dung bài học.
+ Tạo lập sau khi học hết nội dung bài học, nội dung chƣơng, (kết hợp phƣơng pháp hệ
thống hóa kiến thức ).
+ Tạo lập nhằm kiểm tra kiến thức các em: KT 15 phút, KT thƣờng xuyên (điểm miệng)
- Trình bày sản phẩm BĐTD.
+ Học sinh hoặc đại diện của các nhóm lên báo cáo, thuyết minh, kể chuyện, diễn
giải…. về Bản đồ tƣ duy mà nhóm mình hoặc mình đã tạo lập (GV hƣớng dẫn kết hợp
phƣơng pháp thuyết trình, kể chuyện, thảo luận, ….. cho HS khi đứng trƣớc tập thể.)
+ Học sinh đƣợc rèn sự tự tin, khả năng thuyết trình …
- Hoàn th n BĐTD cùn tập thể.
+ Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện Bản đồ tƣ duy về kiến thức
của bài học.
+ Giáo viên sẽ là ngƣời cố vấn là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh Bản đồ tƣ duy.
-8-
+ Củng cố kiến thức bằng một Bản đồ tƣ duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc
một bản đồ tƣ duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, học sinh lên trình bày,
thuyết minh về kiến thức đó .
- Va trò của
áo v ên :
duy trong dạy học lịch sử 6 có làm tăng hiệu quả dạy và học hay không?
-9-
5. G ả thuyết n h ên cứu:
Có, việc GV dạy kết hợp bản đồ tƣ duy với các phƣơng pháp khác và HS học có sử
dụng bản đồ tƣ duy trong học tập góp phần làm cho kết quả dạy và học môn lịch sử 6
đƣợc nâng cao.
III. PHƢƠNG PHÁP
. Khách thể n h ên cứu
1.1. Khách thể nghiên cứu:
Phối hợp một số phƣơng pháp dạy học với phƣơng pháp sử dụng bản đồ tƣ duy
(BĐTD) trong dạy học lịch sử 6 trƣờng THCS Ba Cụm Bắc.
1.2. Đối tƣợng nghiên cứu:
Phối hợp một số phƣơng pháp dạy học với phƣơng pháp sử dụng bản đồ tƣ duy
trong dạy học lịch sử 6.
Hai lớp đƣợc chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tƣơng đồng nhau về tỉ lệ
giới tính, dân tộc. Cụ thể nhƣ sau:
Bảng 1. G ớ tính và thành ph n d n t c của HS hai lớp 6 trƣ n THCS Ba Cụm
Bắc:
D nt c
Số HS các nhóm
Tổng số Nam
Nữ
Kinh
Raclay
nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số
trung bình của 2 nhóm trƣớc khi tác động.
Kết quả:
- 10 -
Bảng 2. K ểm chứn
ể xác ịnh các nhóm tƣơn
ƣơn
Đối chứng
Thực nghi m
Giá trị trung bình
4,78
4,94
p
0,2036
p = 0,2036 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm đƣợc coi là tƣơng đƣơng.
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trƣớc và sau tác động đối với các nhóm tƣơng đƣơng
O2
O4
3. Quy trình n h ên cứu:
3.1. Tạo lập BĐTD phối hợp với các phương pháp khác.
3.1.1 Quy trình học làm quen cách thiết kế BĐTD
Bước 1: Cho học sinh đọc hiểu BĐTD cho trƣớc.
Bước 2: Học cách thiết kế BĐTD bằng cách cho học sinh hoàn thiện các BĐTD do GV
vẽ sẵn nhƣng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung…
Bước 3: Thực hành vẽ BĐTD trên giấy, bìa, bảng.
3.1.2 Bảy bước để tạo nên một BĐTD
1. Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh (hoặc từ khóa) của chủ đề. Tại sao nên dùng
hình ảnh? Vì một hình ảnh có thể diễn đạt đƣợc cả ngàn từ và giúp cho trí tƣởng tƣợng
đƣợc phát huy một cách tốt nhất. Một hình ảnh ở trung tâm sẽ khiến tƣ duy tập trung cao
- 11 -
vào
chủ
đề
chính
và
tạo
nên
sự
hƣng
phấn
trung
tâm.
3.1.3 Ví dụ minh họa:
3.1.3.a. Tạo lập BĐTD phối hợp phương pháp phát vấn trong triển khai nội dung bài
mới.
Bài 6: VĂN HÓA CỔ ĐẠI.
Mục . Các d n t c phƣơn Đôn th
cổ
ã có nhữn thành tựu văn hóa ì?
Sau khi HS biết thế nào là BĐTD và cách tạo lập BĐTD “ thô”, GV yêu cầu trong mục 1
bài 6 cả lớp học theo hình thức ghi vở bằng BĐTD, các em chuẩn bị tâm thế, vật dụng tạo lập BĐTD của cá nhân trong vở.
HD HS tìm ý trung tâm bằng cách chắt lọc ý từ đề mục 1. Có thể có những từ khóa nhƣ
thế nào? => “ thành tựu văn hóa p.Đông cổ đại”, hoặc “ Văn hóa phƣơng Đông cổ đại”…
Tiếp tục tìm ý lớn cấp 1 bằng cách tìm trong các đoạn tƣ liệu nội dung sgk mục 1 (trang
16) .
Ở đây có 4 đoạn, mỗi đoạn nói về một lĩnh vực văn hóa => có 4 ý lớn cấp 1, đó là
4 lĩnh vực nào? => Thiên văn; Chữ viết; Toán học; Kiến trúc.
- 12 -
-Trong lĩnh vực thiên văn, họ đã biết được điều gì? => Sự chuyển động của Mặt
Trời, Mặt Trăng và các hành tinh…….=> ý cấp 2.
-Tại sao họ cần quan tâm tới điều đó? => ý cấp 3. Vì họ cần biết để thuận lợi cho
việc cày cấy đúng thời vụ và năng suất mùa vụ cao hơn.
-Từ những hiểu biết đó, người p.Đông đã sáng tạo ra điều gì? => ý cấp 2, nhánh 2
và 3: Sáng tạo ra lịch; Biết làm đồng hồ.
đồ
tƣ
duy.
Sơ đồ tƣ duy là một công cụ tƣ duy thực sự hiệu quả bởi nó tối đa hoá được nguồn
lực của cá nhân và tập thể. Mỗi thành viên đều rèn luyện đƣợc khả năng tƣ duy, kỹ năng
thuyết trình và làm việc khoa học. Sử dụng sơ đồ tƣ duy giúp cho các thành viên hiểu
đƣợc nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống. Việc ghi nhớ cũng nhƣ vận dụng
cũng sẽ tốt hơn.
Mục tiêu cần đạt: chỉ cần nhìn vào sơ đồ tƣ duy, bất kỳ thành viên nào của nhóm
cũng
có
thể
thuyết
trình
đƣợc
nội
dung
bài
học.
Sơ đồ tƣ duy cung cấp cho HS cái nhìn chi tiết và cụ thể. Khi mọi ngƣời tập trung
vào chủ đề ở giữa thì bộ não của mỗi thành viên đều hƣớng tới trọng tâm sẽ tạo nên sự
đồng thuận tập thể, cùng hƣớng tới một mục tiêu chung và định hƣớng đƣợc kết quả.
Các nhánh chính của sơ đồ tƣ duy đƣa ra cấu trúc tổng thể giúp các thành viên định
hƣớng tƣ duy một cách logic. Bên cạnh đó, các nhánh phụ kích thích tính sáng tạo đồng
thời hiểu đƣợc tƣ duy cũng nhƣ sự tích cực của mỗi thành viên.
Nhƣ vậy sử dụng sơ đồ tƣ duy trong dạy học nhóm đã phát huy đƣợc tính sáng tạo,
tối đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá nhân thành sức mạnh
tập thể để có thể giải quyết đƣợc các vấn đề một cách hiệu quả. Sơ đồ tƣ duy tạo cho mỗi
thành viên cơ hội đƣợc giao lƣu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện
hơn.
nhƣ thế nào? => “ thành tựu văn hóa p.Đông cổ đại”, hoặc “ Văn hóa phƣơng Đông cổ
đại”…
- 16 -
-
Tiếp tục tìm ý lớn cấp 1 bằng cách tìm trong các đoạn tƣ liệu nội dung sgk mục 1.
Ở đây có 4 đoạn, mỗi đoạn nói về một lĩnh vực văn hóa => có 4 ý lớn cấp 1, đó là 4 lĩnh
vực nào? => Thiên văn; Chữ viết; Toán học; Kiến trúc.
- GV chuẩn bị một BĐTD trên bảng phụ hoặc vẽ khung BĐTD trực tiếp trên bảng, chỉ có
4 ý lớn cấp 1, còn lại là các nhánh trống. Chuẩn bị 13 ô nội dung kiến thức tƣơng ứng
nhƣng cắt rời => Trò chơi lắp ghép nhanh.
+ Thể lệ: Chia thành 13 ô dữ liệu phát xuống cho cả lớp.
Trong vòng 2 phút, HS phải xác định miếng ghép của mình sẽ nằm ở đâu trên
BĐTD rồi chạy lên dán vào đúng vị trí.
Yêu cầu: Các em phải nhìn ra đƣợc ý nghĩa nội hàm của các ý lớn cấp 1, từ đó
mới tìm ra vị trí miếng ghép của mình là ở đâu, nhƣ vậy sẽ hình thành mạng lƣới kiến
thức theo kiểu “ ý gọi ý ” để chạy lên ghép đúng vị trí của ô kiến thức.
Lưu ý: GV có thể linh hoạt biến tấu thành những trò chơi với những hình thức và
tên gọi khác nhau nhằm đem lại hứng thú cho HS hơn nữa, ví dụ:
- 17 -
- Trò chơi “ Thêm cánh cho hoa”: Thiết kế BĐTD trên bảng hoặc bảng phụ theo hình
dáng một bông hoa, có nhụy hoa là từ khóa trung tâm hoặc hình ảnh chủ đề, sau đó phát
triển ý thành mạng lƣới kiến thức là những cánh hoa, có thể xếp chồng lên thành hoa
- 18 -
- 19 -
Trong các nhánh sẽ tạo thứ tự cho các hiệu ứng và liên kết với các slide mà GV
muốn làm rõ cho nhánh đó. Sau đó trình chiếu kết hợp giảng dạy, giải thích, phát vấn,
thảo luận nhóm,…để tìm ra ý tiếp theo cho đến hết.
Yêu cầu: HS phải thực sự theo dõi đƣợc quá trình tạo lập nên một BĐTD với hệ thống
câu hỏi và những phƣơng pháp mà GV sử dụng kết hợp. (Cụ thể, chi tiết thể hiện trong
giáo án, phần Phụ lục của đề tài).
Phần củng cố kiến thức:
1. Bài tập trắc nghiệm: Mỗi nhánh kiến thức là một câu trắc nghiệm, HS sẽ tìm câu
trả lời để điền vào nhánh kiến thức đó cho tới khi hoàn thành BĐTD trên phần mềm
PowerPoint.
2. Cho những dữ liệu kiến thức, sau đó các em hoàn thành BĐTD cho từ khóa là “
CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG NĂM 938”, có thể chuẩn bị BĐTD nhƣ sau:
- 20 -
Yêu cầu: Các em phải nhìn ra đƣợc ý nghĩa nội hàm của các ý lớn cấp 1, từ đó mới tìm
ra vị trí miếng ghép của mình là ở đâu, nhƣ vậy sẽ hình thành mạng lƣới kiến thức theo
kiểu “ ý gọi ý ” để chạy lên ghép đúng vị trí của ô kiến thức.
3.2 Trình bày sản phẩm BĐTD.
.2. Đố vớ GV:
Trong quá trình giảng dạy, hƣớng dẫn HS tạo lập BĐTD, GV dùng từ khóa, viết
tắt, hình ảnh, … nhƣng khi hoàn thành, GV phải diễn giải dƣới hình thức tƣờng thuật, kể
triển khả năng thẩm mỹ, sắp xếp ý tƣởng một cách khoa học, hệ thống, ghi nhớ sâu kiến
thức … là những điểm còn yếu của học sinh hiện nay (đặc biệt là HS sở tại) .
Củng cố kiến thức bằng một Bản đồ tƣ duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặc
một bản đồ tƣ duy mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, học sinh lên trình bày,
thuyết minh về kiến thức đó .
Lưu ý : Bản đồ tƣ duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học
sinh có chung một kiểu Bản đồ tƣ duy, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt
kiến thức, góp ý thêm về đƣờng nét vẽ, màu sắc và hình thức .
Trƣớc đây tiết ôn tập chƣơng, học kỳ tôi cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ sẵn và cả
lớp có chung một cách trình bày nhƣ giáo viên chứ không phải do học sinh xây dựng trên
cách hiểu của mình, hơn nữa không chú ý đến hình ảnh, màu sắc, đƣờng nét. Nhƣng khi
sử dụng kĩ thuật Bản đồ tƣ duy thì đã khắc phục đƣợc những hạn chế trên.
3.4 Va trò của
áo v ên :
- Hƣớng dẫn học sinh làm Bản đồ tƣ duy: khi mới làm quen với BĐTD, thời gian
hƣớng dẫn nên bố trí kết hợp với việc học trái buổi trong thời khóa biểu của các em nhƣ
buổi chiều học thể dục, còn tiết dạy chính khoá vẫn hoàn thành bài giảng theo đúng phân
phối chƣơng trình, giáo viên chuẩn bị kĩ nội dung và hệ thống câu hỏi khơi gợi …
- Khi ở trên lớp, giáo viên ghi chép, quan sát kĩ các thiết kế Bản đồ tƣ duy và cách
thuyết trình của các em để nhận xét, góp ý và làm trọng tài, phân giải các cuộc tranh luận.
Đồng thời bổ sung những phần kiến thức mà các em chƣa phân tích sâu.
- Yêu cầu làm việc ở nhà: Bản đồ tƣ duy đƣợc triển khai sau khi kết thúc một bài
học. Học sinh về nhà tìm tƣ liệu và viết vẽ theo cách hiểu của mình, các ý kiến của học
sinh đều đƣợc tôn trọng, ghi nhận.
- Không phải bài nào cũng làm .
- Chấm điểm, cho các em nhận xét, chấm bài của nhau, động viên, khuyến khích kịp
thời .
- Yêu cầu quan trọng nhất là nội dung chính xác và bám sát nội dung bài học, dù
L P 6A
L P 6B
Stt Họ và tên
Đ ểm
Stt Họ và tên
Đ ểm
01
Mấu Thị
Ẩm
5
01 Cao Thị
Bông
4
02
Cao Thị
5
04 Mấu Thị
Huyền
4
05
BoBo Trƣờng
Giang
5
05 Cao
Khiệu
06
Cao
Hùng
6
06 BoBo Thị
Lũy
Năm
5
Luyện 5
10 Cao Thị Niệm Niệm
4
Mấu Thị
Mèo
5
11 Mấu Thị
Phƣợng 5
12
Cao Thị
My
4
10
Mấu Thanh
11
14
Phỉ
Mấu Quốc
Thị Tâm
6
09 Cao Xuân
15
T. Trâm
15
Mấu
Thúy
16
18 Tro Phí
Vũ
6
4
Cao
Tí
4
5
4.2. Sau một thời gian áp dụng các giải pháp đã nêu tôi tiến hành kiểm tra 1 tiết (nội
dung đáp án trình bày ở phần phụ lục).
ĐỀ 2:
Kết quả khảo sát:
LỚP 6A
LỚP 6B
Stt Họ và tên
Đ ểm
Stt Họ và tên
Đ ểm
5
03
Cao Thị
Diễm
6
03
Cao Thị
Gái
6
04
BoBo Thị
Đũy
6
04
Mấu Thị
5
06
BoBo Thị
Lũy
5
07
Cao Thị
Huyền 6
07
Cao Thị
Mãi
5
08
Cao Thị Thu
Huyệt
Luyện
6
10
Cao Thị Niệm
Niệm
4
Mấu Thị
Phƣợn
g
5
11
Mấu Thị
Mèo
11
5
12
14
Mấu Quốc
Phỉ
6
14
Huỳnh T. Ngọc Trâm
4
15
Mấu Thị Thúy Tâm
5
15
Cao
Tí
5
16
18
Cao Thị Thu
Trang
5
18
Tro Phí
Vũ
5
Để kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu, tôi tiến hành kiểm tra nhiều lần trên cùng một nhóm
vào các thời điểm gần nhau. Kết quả cho thấy, sự chênh lệch về điểm số không cao, điều
đó chứng tỏ dữ liệu thu đƣợc là đáng tin cậy.
Để kiểm chứng độ giá trị của dữ liệu, tôi dùng phƣơng pháp kiểm tra độ giá trị nội
dung. Bài tập tôi đƣa ra kiểm chứng phản ánh, khái quát đƣợc nội dung vấn đề tôi nghiên
cứu, nội dung kiến thức môn học, phản ánh đầy đủ, rõ ràng quá trình nghiên cứu.
Sau một thời gian áp dụng phối hợp một số phƣơng pháp dạy học với phƣơng pháp sử
dụng bản đồ tƣ duy trong dạy học lịch sử 6, tôi thấy kết quả HS học tập bộ môn lịch sử đã
khả quan hơn. Đa số các HS yếu đã có đƣợc sự nhận biết, thông hiểu và vận dụng kiến
thức môn lịch sử trong quá trình học tập.
- 25 -