Sáng kiến kinh nghiệm SKKN sử dụng tranh biếm họa phục vụ giáo dục vì sự phát triển bền vững trong dạy học Địa lý THPT - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"SỬ DỤNG TRANH BIẾM HỌA PHỤC VỤ GIÁO DỤC VÌ SỰ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ THPT"


PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với
những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa đang tạo ra những cơ hội nhưng
đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao
động. Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh
nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh, thời gian đào tạo thì có hạn. Mặt khác thị trường
lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng
sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, khả năng giải quyết các
vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi, khả năng học tập suốt đời... Trước
thực trạng đó, giáo dục cần phải đổi mới, cần phải: “xác định lại mục tiêu, thiết kế lại
chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo” và địa lí cũng như các môn
học khác cần phải phát triển và bồi dưỡng cho học sinh những năng lực và tư duy hành
động cần thiết.
Trong những năm gần đây, dạy học Địa lí ở các trường phổ thông đã có những
chuyển biến tích cực. Nhiều phương pháp dạy học mới đã được áp dụng nhằm phát huy
tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập. Trong các
phương pháp dạy học đó việc sử dụng tranh ảnh được đánh giá là một công cụ quan trọng
và có hiệu quả để đổi mới phương pháp dạy học. Theo N.N. Baranxki, “Một học sinh,
một người thợ mỏ hay một người công nhân xí nghiệp đều mơ ước có toàn bộ trái đất ở
trong nhà”. Và khi những hiểu biết mà bản đồ mang đến chỉ dừng lại ở những đường
biên giới, những địa danh và những sự vật địa lí khô khan thì tranh ảnh lại chuyên chở
một giá trị đặc biệt của tính trực quan và tính hứng thú. Tranh ảnh Địa lí được coi là một
trong những nhân tố tác động quan trọng nhất hình thành lên yếu tố động lực và cảm xúc

GDVSPTBV trong dạy học Địa lí.
2. Nhiệm vụ
- Đưa ra cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tranh biếm họa phục vụ GDVSPTBV
trong dạy học Địa lí THPT.
- Nghiên cứu, điều tra những điều kiện cơ bản để tổ chức giờ học GDVSPTBV có sử
dụng tranh biếm họa một cách hiệu quả.
- Đưa ra những phương pháp sử dụng tranh biếm họa phục vụ GDVSPTBV trong dạy
học Địa lí THPT
- Thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Khoái Châu để kiểm chứng tính khả thi của đề
tài.
III. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò và triển vọng của việc sử dụng tranh biếm họa
trong dạy học Địa lí THPT phục vụ GDVSPTBV đồng thời đưa ra những gợi ý về mặt
phương pháp nhằm sử dụng tranh biếm họa một cách hiệu quả.
2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực nghiệm đối với học sinh trường THPT Khoái Châu.


IV. SƠ LƢỢC VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Giữa thế kỉ XIX, những bức tranh biếm họa đầu tiên trên thế giới xuất hiện trên các
tờ báo, tạp chí và nhanh chóng được chào đón với số lượng lớn độc giả. Với khả năng
phản ánh bản chất của những tình huống đặc biệt dưới dạng hình ảnh một cách ngắn gọn,
súc tích và có ảnh hưởng lớn nhất, tranh biếm họa được coi “là một phần bản chất trong
kho tài liệu bản xứ về chính trị và lịch sử xã hội của con người” (William Murrell)
Với những sức mạnh to lớn đó, tới cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tranh biếm họa
đã được đưa vào trường học ở các quốc gia phát triển như Anh, Đức, Hoa Kỳ,
Australia… Tranh biếm họa đã được sử dụng rộng rãi như một công cụ dạy học hiện đại
trong các bộ môn khoa học xã hội như văn học, sử học, chính trị…và đặc biệt là môn Địa
lý. Sự tồn tại của tranh biếm họa trong sách giáo khoa ở các quốc gia này chứng tỏ tranh

đặt ra thông qua quan sát, giảng dạy trực tiếp, phỏng vấn tham dò ý kiến của học sinh và
giáo viên đối với tranh biếm họa. Đặc biệt là việc điều tra bằng phiếu, phỏng vấn học
sinh.
- Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này được sử dụng nhằm kiểm chứng các kết
quả nghiên cứu lý thuyết, thu thập thông tin, kiểm tra và phân tích mức độ tin cậy của các
giả thuyết và bổ sung thêm những vấn đề mà lý thuyết chưa đề cập tới.


VI. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề tài được cấu trúc thành 3
chương chính sau đây:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tranh biếm họa phục vụ Giáo
dục vì sự phát triển bền vững trong dạy học Địa lí THPT
Chương 2: Sử dụng tranh biếm họa phục vụ Giáo dục vì sự phát triển bền vững
trong dạy học Địa lí THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRANH
BIẾM HỌA PHỤC VỤ GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ THPT
I. GIÁO DỤC VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
THPT
1. Khái niệm về Giáo dục vì sự phát triển bền vững
1.1. Khái niệm phát triển bền vững (PTBV)
Thuật ngữ Phát triển bền vững xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm
Chiến lược bảo tồn thế giới, được công bố bởi Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên
thiên nhiên quốc tế (IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không chỉ
chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự

thay đổi xã hội một cách tích cực nhằm mục tiêu „„đưa con người vào vị trí mà nó có thể
đóng vai trò tích cực trong việc tạo ra một hiệu quả bền vững về mặt sinh thái, kinh tế và
tạo nên một môi trường xã hội công bằng, trong khi vẫn duy trì được…trên phạm vi toàn
cầu‟‟.
GDVSPTBV về cơ bản là thúc đẩy các giá trị mà trong đó sự tôn trọng được đặt ở
vị trí trung tâm (UNESCO, 2005), cụ thể là :


 Tôn trọng phẩm giá và các quyền con người, cam kết tạo sự công bằng về kinh tế,
xã hội cho tất cả mọi người
 Tôn trọng các quyền con người của thế hệ mai sau và cam kết thực hiện trách
nhiệm giữa các thế hệ.
 Tôn trọng và quan tâm tới môi trường sống đa dạng của con người và thiên nhiên
trong đó không thế tách rời việc khôi phục và bảo tồn hệ sinh thái của Trái đất.
 Tôn trọng tính đa dạng của văn hóa và cam kết xây dựng một nền văn hóa hòa
bình, không bạo lực và khoan dung ngay tại địa phương và trên toàn cầu.
Như vậy, GDPTBV là một khái niệm mang tính "đột phá", là cách nhìn mới về giáo
dục, tìm kiếm sự cân bằng giữa con người và kinh tế với các truyền thống văn hóa, sự tôn
trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Trái đất. Bằng việc ứng dụng các phương
pháp giáo dục và sự tiếp cận khác nhau, GDPTBV là một quá trình học tập suốt đời, bồi
dưỡng kĩ năng, thái độ, hành động vì một xã hội lành mạnh về môi trường sinh thái, thịnh
vượng về kinh tế và tôn trọng nhu cầu của các thế hệ hiện tại và tương lai.
2. Nội dung của GDPTBV
GDVSPTBV bao trùm tất cả các lĩnh vực văn hóa- xã hội, môi trường và kinh tế, bao
gồm 15 nội dung cơ bản thuộc 3 lĩnh vực:
- Văn hóa- xã hội: quyền con người, hòa bình và an ninh, quyền bình đẳng giới, đa
dạng văn hóa và giao thoa văn hóa, sức khỏe, HIV/AID, thể chế.
- Môi trường: các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự thay đổi của khí hậu, phát triển
nông thôn, đô thị hóa bền vững, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.
- Kinh tế: xóa đói giảm nghèo, tinh thần và trách nhiệm tập thể, kinh tế thị trường và


Bài 22: Dân số và 10

- Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử

sự gia tăng dân số

- Hậu quả của tăng dân số đối với phát triển


kinh tế - xã hội và môi trường
2

Bài 24: Phân bố 10

Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát

dân cư, các loại

triển kinh tế - xã hội

hình quần cư và
đô thị hóa
3

Bài

42:

Môi 10

nhóm nước. Cuộc

công nghệ tới sự phát triển kinh tế - xã hội và

cách mạng khoa

môi trường.

học và công nghệ
hiện đại.
5

Bài 3: Một số vấn 11

- Vấn đề bùng nổ dân số ở các nước đang phát

đề mang tính toàn

triển và già hóa dân số ở các nước phát triển.

cầu

- Một số biểu hiện, nguyên nhân và hậu quả của
ô nhiễm môi trường, nhận thức được sự cần
thiết phải bảo vệ môi trường.


- Sự cần thiết phải bảo vệ hòa bình và chống
nguy cơ chiến tranh.
6


về kinh tế, văn hóa- xã hội và môi trường.

khu vực Trung Á.
7

Bài 11: Khu vực 11

- ĐNA là khu vực kinh tế phát triển năng động

Đông

nhất thế giới.

Nam

Á

(ĐNA)

- Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội,
khai thác tài nguyên và bảo vệ tài nguyên ở
ĐNA.
- Các nước ĐNA tăng cường liên kết trong
ASEAN.

8

Bài 14: Sử dụng 12


trường

phòng



chống

giảm nhẹ thiên tai.

thiên tai
10 Bài 16: Đặc điểm 12

Hậu quả của tăng nhanh dân số và phân bố dân

dân số và phân bố

cư không hợp lí đến phát triển kinh tế - xã hội

dân cư

và tài nguyên – môi trường.

11 Bài 28: Tổ chức 12
lãnh

thổ

Ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp


tải. Vì vậy việc tích hợp, lồng ghép các nội dung của GVVSPTBV vào các bài học Địa lí
cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
 Nguyên tắc chọn lọc tập trung
Không phải bất cứ bài học nào cũng có thể lồng ghép, tích hợp nội dung
GDVSPTBV vào bài học. Nguyên tắc này yêu cầu những đơn vị kiến thức đã có sẵn
trong bài học địa lí thì cần phải khai thác tối đa, đảm bảo truyền tải nội dung học toàn cầu
một cách tốt nhất. Làm được điều đó, GDVSPTBV sẽ tập trung vào một số điểm nhấn
nhất định tác động mạnh mẽ tới người học, tránh lan man, trùng lặp khiến học sinh khó
tiếp thu kiến thức trọng tâm.
 Nguyên tắc đảm bảo tính đặc trưng của môn học
Nguyên tắc này đòi hỏi khi tích hợp nội dung GDVSPTBV phải dựa vào nội dung bài
học Địa lí. Điều đó có nghĩa là các kiến thức GDVSPTBV đưa vào bài học phải kết hợp
chặt chẽ với các kiến thức có sẵn trong bài học, phát huy “tính không gian”, “tính thời sự”
và “tính môi trường” nhất của bộ môn Địa lí.
 Nguyên tắc không gây quá tải
Các kiến thức GDVSPTBV đưa vào bài phải có hệ thống, tránh sự trùng lặp,
phải thích hợp với trình độ học sinh, không gây quá tải đối với nhận thức của học sinh
trong việc lĩnh hội nội dung chính của bài học. Theo nguyên tắc này, những kiến thức
đưa vào bài cần được sắp xếp đúng chỗ, hợp lí, làm cho kiến thức môn học thêm
phong phú, sát với thực tiễn và logic của môn học, kết cấu bài học không bị phá vỡ.
 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tế
Các nội dung của GDVSPTBV được đưa vào bài học phải xuất phát từ các
vấn đề và triển vọng của chính bối cảnh xã hội mà người học sống trong đó. Sự


cảm nhận về tính thiết thực, gần gũi và được vận dụng những trải nhiệm trong cuộc
sống hàng ngày vào chính những bài học là động lực, cảm xúc đối với người học để
họ nhận thức sâu sắc hơn đối với vấn đề và tiếp thu thêm các giá trị.
II. TRANH BIẾM HỌA - MỘT CÔNG CỤ HỮU HIỆU CỦA DẠY HỌC ĐỊA LÍ
HIỆN ĐẠI ĐỂ ĐỐI MỚI TỔ CHỨC DẠY HỌC PHỤC VỤ GDVSPTBV


những biến đổi của tình hình xã hội. Nó

có tác

dụng kích thích thái độ hoặc đánh giá lại

những

giá trị của xã hội. Tranh biếm họa chính

trị còn

mang tính chất phê phán một cách sâu

sắc, tế

nhị những mặt trái của vấn đề xã hội và

những

nhân vật nổi tiếng có tầm ảnh hưởng

lớn. Phần quan trọng nhất trong tranh biếm họa chính trị là sự bàn luận và làm nổi bật
những
Hình 1: Bóc lột công nhân ở Indonexia
vấn đề có tính chất thời sự. Mục đích chính của tranh biếm họa là sự khuyến khích người
đọc đồng tình với những quan điểm, cách nhìn của tác giả đối với vấn đề đó. Tranh biếm
họa chính trị rất đa dạng về phong cách nghệ thuật.
Chúng ta có thể sử dụng tranh biếm họa chính trị để trang bị cho học sinh vốn kiến

một khía cạnh quan trọng. Tranh biếm họa chính trị, ý tưởng đến trước và những tác
phẩm nghệ thuật từ đó mới xuất hiện. Còn tranh biếm họa châm biếm thì là những nét vẽ
thêm vào đối với chân dung của những nhân vật nổi tiếng.
2.4. Chùm tranh biếm họa vui
Tranh biếm họa vui là một tập hợp những bức tranh rời nhau để minh họa cho một
câu chuyện. Tranh biếm họa vui cũng có thể mang đến những nụ cười thú vị, khoái trá và
đôi khi chúng cũng có vai trò như tranh biếm họa chính trị.


Hình 4: Chùm tranh biếm họa vui
Cả bốn loại tranh biếm họa đã nêu trên đều có khả năng sử dụng trong dạy học Địa
lí, mỗi loại có một đặc điểm riêng thích hợp với những bài học và từng nội dung học tập
khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta nên sử dụng tranh biếm họa chính trị và tranh biếm họa
hài hước vì hai loại tranh này một mặt vừa kích thích sự tò mò, tư duy phê phán, khả
năng suy nghĩ độc lập của học sinh đối với các sự kiện mang tính chất thời sự và vừa sức
đối với nhận thức của học sinh, mặt khác nó tạo ra tiếng cười thú vị, sâu sắc làm cho
không khí lớp học sôi nổi.
Giáo viên có thể tùy chọn từng loại tranh biếm họa sao cho phù hợp với mục đích
giáo dục cũng như nội dung của bài học để có thể mang lại những hiệu quả cao nhất.
3. Những thành tố của tranh biếm họa
Tranh biếm họa bao gồm những thành tố sau:


Sự mô tả
hiện thực

Biểu tượng

Lối ẩn dụ


năng và trình độ của người xem có thể giải đoán những thông điệp mà tác giả muốn
truyền đạt. Vì vậy đối với việc sử dụng tranh biếm họa trong nhà trường thì tùy theo
trình độ học sinh mà ta có thể lựa chọn những bức tranh biếm họa có mức độ phức tạp
hay đơn giản khác nhau.


● Lối ẩn dụ
Những biểu tượng có tính nghệ thuật cao có thể giúp chúng ta hiểu được những vấn
đề phức tạp bởi chúng có liên quan tới nhiều vấn đề tương tự khác và tương đối dễ hiểu.
Những hình ảnh ẩn dụ mà người vẽ tranh sử dụng sẽ đem lại cho người xem những ý
tưởng có giá trị hơn nhiều những hiểu biết trên thực tế.
Những công trình nghiên cứu liên quan đến tranh biếm họa cho rằng việc sử dụng
lối ẩn dụ trong tranh biếm họa không làm giảm hiệu quả và khả năng truyền tải, phản ánh
hiện thực của tranh biếm họa. Việc hiểu và giải thích được nội dung tranh biếm họa
không thể không gắn với những bối cảnh chính trị xã hội nhất định. Bên cạnh đó người
xem phải vận dụng cả những trải nghiệm cuộc sống của mình vào tranh biếm họa mới có
thể hiểu một cách sâu sắc những thông điệp mà tác giả muốn gửi tới.
● Nghệ thuật tranh biếm họa
Đây là yếu tố không thể thiếu trong mỗi bức tranh biếm họa, góp phần tạo nên
những giá trị của loại tranh đặc sắc này. Sự phóng đại hay bóp méo là những đặc trưng
tiêu biểu của nghệ thuật tranh biếm họa. Chúng ta hoàn toàn có thể dùng khả năng và sức
mạnh này của tranh biếm họa trong giáo dục.
● Tính hài hước
Những nụ cười có giá trị mà tranh biếm họa mang lại là nhân tố đặc biệt khiến
tranh biếm họa khác hẳn so với những thể loại tranh khác. Tính trào phúng, sự mỉa mai
giễu cợt theo cách hài hước và phóng đại để bộc lộ những mặt trái của vấn đề và những
hành động xấu xa đã tạo nên những góc cạnh của tranh biếm họa. Chúng vừa là tiếng
cười của sự giải trí, nhưng trên hết lại là sự suy nghĩ sâu sắc và nghiêm túc về những mặt
trái của cuộc sống cần phải thay đổi.


thể hiện cuộc sống khốn
khó ở các quốc gia nghèo
nhất.

Quan điểm của tác giả: Đồng tình,
thông cảm với cuộc sống nghèo khó
của các nước đang phát triển.

Sử dụng sự châm biếm: Thủ
tướng Geogre W Bush. Chú ý sự
cường điệu những đặc điểm khuôn
mặt.

Sử dụng biểu tượng: Cái bát cầu xin sự
viện trợ. Một biểu tượng ẩn dụ được sử
dụng để nhấn mạnh cuộc sống nghèo khổ
ở các quốc gia đang phát triển và sự phụ
thuộc vào viện trợ của các quốc gia này.

Sử dụng lối ẩn dụ và sự
cường điệu: Chú Sam béo
phệ được sử dụng ở đây để
nhấn mạnh sự giàu có của
Hoa Kỳ và các quốc gia phía
Tây.

Bối cảnh: Bức tranh này được vẽ như là một sự phản ứng trước những chiến dịch quân sự leo thang bởi Bob
Geldof, Bono và Thủ tướng Anh- Tony Blair. Nó liên quan đến việc xóa bỏ khoản nợ của 18 quốc gia nghèo nhất
thế giới, sự cam kết về phòng chống ADIS và tăng viện trợ cho các quốc gia châu Phi.


triển cần phải tăng cường viện trợ, giúp đỡ các quốc gia này.
 Sử dụng tranh biếm họa giúp cho việc hình thành và phát triển những giá trị và sự
chuyển biến tích cực về thái độ và hành vi cho một tương lai bền vững và tốt đẹp hơn.
Giáo dục nếu đơn giản chỉ là tăng cường khả năng biết đọc, biết viết và làm tính thì
không thể tạo ra một xã hội có sự bền vững cơ bản. Và những công cụ giáo dục chỉ đơn
thuần mang lại ý nghĩa nâng cao nhận thức sẽ sớm tỏ ra vai trò yếu thế của mình bên
cạnh những công cụ có khả năng thay đổi hành vi và định hình giá trị như tranh biếm
họa. Mặc dù những tác động nhằm thay đổi hành vi là một quá trình phức hợp, nó không
chỉ dựa vào kiến thức về một lĩnh vực nhất định, mà còn liên quan đến các nhân tố về
động lực, cảm xúc và xã hội. Nhưng chính sự phê phán hài hước, thông minh của tác giả
tranh biếm họa về những vấn đề lại trở thành một yếu tố động lực, cảm xúc có ảnh hưởng
sâu sắc tới nếp nghĩ của các em từ đó làm thay đổi phương thức hành động.
Dường như sự giảng giải về đạo đức, sự ca ngợi những điều tốt đẹp lại ít có ý nghĩa
đối với người học hơn là sự phê phán cái xấu, cái ác một cách hài hước và thông minh,
mà vai trò chỉ trích xã hội, khiêu khích và gây cười thì không ai có thể làm tốt hơn các
họa sĩ tranh biếm họa. Vì vậy tranh biếm họa còn có khả năng phát triển ở người học
những suy nghĩ phê phán, và sáng tạo - là giá trị quan trọng hàng đầu mà chiến lược học
toàn cầu hướng tới. Trong một thế giới toàn cầu hóa thay đổi nhanh chóng và phức tạp,
nơi những tác động văn hóa đang đe dọa cách nhìn toàn cầu thì những suy nghĩ phê phán,
sáng tạo của người học là phương cách duy nhất để sự tôn trọng còn được đạt ở vị trí
trung tâm. Những suy nghĩ phê phán và sáng tạo là con đường gìn giữ những giá trị văn
hóa đa dạng, thúc đẩy quyền con người và thay đổi xã hội theo chiều hướng tích cực.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status