Sáng kiến kinh nghiệm về một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn toán - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 HỌC TỐT MÔN
TOÁN"



A-

Đặt vấn đề

I. Bối cảnh của đề tài:
Chương trình toán của tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn. Toán học góp phần
quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số
thập phân, các đại lượng cơ bản, giải toán có lời văn ứng dụng thiết thực trong đời sống
và một số yếu tố hình học đơn giản.
Môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái
quán hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả
năng suy luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, suy luận đơn giản, góp phần rèn luyện
phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo.
Mục tiêu nói trên được thông qua việc dạy học các môn học, đặc biệt là môn toán. Môn
này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệ


thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động của
con người. Môn toán là ''chìa khoá'' mở của cho tất cả các ngành khoa học khác, nó là
công cụ cần thiết của người lao động trong thời đại mới. Vì vậy, môn toán là bộ môn
không thể thiếu được trong nhà trường, đây là những tri thức, kỹ năng vừa đáp ứng cho
phát triển trí tuệ, óc thông minh, sáng tạo, vừa đáp ứng cho việc ứng dụng thiết thực

IV. Mục đích nghiên cứu:
- Từ đầu năm học tôi đã chú trọng đến việc rèn kĩ năng thực hiện phép tính cộng, trừ để
học sinh tiếp thu tri thức có hệ thống, đó là việc rất quan trọng và cần thiết của người
giáo viên hiện nay nhằm giúp cho học sinh bắt kịp trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến và
sự đổi mới đất nước, sự cần thiết phải đổi mới con người chính vì vậy tôi mới đặt vấn đề
nghiên cứu.
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
+ Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Học sinh có hứng thú học môn toán hơn vì trước đây bài làm của các em thường bị
điểm thấp.


- Làm thay đổi suy nghĩ trước đây của đồng nghiệp, xuất phát từ những quan điểm trên,
bản thân lựa chọn phương pháp dạy toán phù hợp với trình độ phát triển của học sinh.
Rèn kỹ năng toán để góp phần nâng cao chất lượng dạy – học môn Toán .
B. Phần nội dung
I. Cơ sở lý luận:
Các khái niệm và các quy tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được giảng
dạy thông qua việc hai phép tính cộng, trừ. Giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến
thức, rèn luyện kỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc thực hiện phép tính cộng, trừ của
học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em
về kiến thức, kỹ năng và tư duy để giúp các em phát huy những ưu điểm khắc phục thiếu
sót.
Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua việc
cho học sinh tính toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học
sinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng
ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống.


Việc tính toán góp phần quan trọng trong việc xây dựng cho học sinh những cơ sở ban



Khi dạy toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2 tôi luôn yêu cầu học
sinh tính bằng nhiều cách trong đó có vận dụng tính nhẩm để tìm nhanh kết quả .
Các bước được tiến hành như sau:
A- phép cộng :
Các bài dạng 9 +5; 29+5;49+25
* Bài 9 cộng với một số : 9+5
- Học sinh thực hiện tính 9+5 bằng các thao tác trên que tính, có thể trả lời theo nhiều
cách để tìm ra kết quả 9+5 = 14
- Đặt tính rồi tính
9
+5
14
- Học sinh nắm được thuật tính


- Dựa vào hình vẽ sgk (trang 15) khuyến khích học sinh tìm ra cách làm nhanh nhất :
“tách 1 ở số sau để có 9 cộng với 1 bằng10 , lấy 10 cộng với số còn lại của số sau”. Cách
thực hiện này yêu cầu học sinh phải huy động các kiến thức đã học ở lớp 1 (9+1=10, 5
gồm 1 và 4) để tự phát hiện nội dung mới và chuẩn bị cơ sở cho việc lạp bảng cộng có
nhớ.
- Lập bảng cộng dạng 9 cộng với một số và học thuộc chẳng hạn
9+2=
9+3=
9+4=
...
9+9=
+ Cách 1”
Học sinh tự tìm ra kết quả bằng các thao tác trên que tính .

-

9+6+3= 9+9+1= 9+4+2= 9+5+3=
- Giáo viên yêu cầu học sinh chọn phương pháp giải, chẳng hạn : 9+9 +1 =18 +1 =19
- Hay 9+9+1=9+10=19
- Bài 29 +5
+ Cách 1 (SGK) 29 +5 =?
29
+ 5

*9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1
*2 thêm 1 bằng 3, viết 3.

34
+ Cách 2 Vận dụng cách tính nhẩm của bài 9+5 các em có thể tính như sau: 29 +5 =
29 +1+4=30+4=34


- Bài 49 +25
+ Cách 1 (SGK) 49 +25 =
49
+25

* 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.
*4 cộng 2 bằng 6, thêm 1 bằng 7, viết 7.

74
+ Cách 2 Tính nhẩm: 49+25=49+1+24=50+24=74
*Các bài dạng 8+5;7+5;6+5; 28+5;47+5;26+5; 38+25;47+25;36+15
+ Thực hiện tương tự dạng như trên :


8+3=

7+4= 6+5= 2+9= 3+8= 4+7= 5+6=

11-9= 11-2= 11-8= 11-3= 11-7= 11-4= 11-5= 11-6=
- Cách 1 : trên cơ sở thuộc bảng cộng trừ học sinh tự tìm ra kết quả mỗi phép tính
- Cách 2: Dựa vào kiến thức đã học học sinh có thể điền ngay 9 +2 = 11 ; 2 +9 =11
Còn 11-9 ; 11-2, cần được đặt trong mối quan hệ với phép cộng 9 +2=11; 2+9 =11 và
cách tìm một số hạng khi biết số hạng kia và tổng. Các cột còn lại thực hiện tương tự.
Dựa vào cách tính nhẩm bài 11-5, học sinh vận dụng tính nhẩm trong các bài tiếp theo.
+ Bài 31-5
- Cách 1 Đặt tính 31-5 =?
31

*1 không trừ được 5 lấy 11 trừ 5 bằng 6 viết 6 nhớ 1

- 5
26

*3 trừ 1 bằng 2 viết 2

- Cách 2 tính nhẩm


31-5 =(31+5) -(5+5)=
36 -

10 = 26



Tổng số

Kết quả

Thời gian
học

Giỏi

Khá

Yếu

TB

kiểm tra
sinh

SL

%

SL

%

SL

%


0

%

5,6%


Cuối kỳ I

199

106

53,5%

64

32,3% 29

14,2%

Qua thực nghiệm dạy tính nhẩm ta thấy hiệu quả rất khả quan, số học sinh giỏi được
tăng lên đáng kể, số học sinh yếu không còn.
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Những bài học kinh nghiệm:
Hướng dẫn và giúp học sinh cộng, trừ nhanh nhằm giúp các em phát triển tư duy trí tuệ,
tư duy phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, rèn luyện tốt phương pháp
suy luận lôgric.
Do vậy, việc giảng dạy tính toán một cách hiệu quả giúp các em trở thành những

tôi thấy người giáo viên phải luôn luôn tìm tòi học hỏi, trau dồi kinh nghiệm để nâng cao
trình độ nghiệp vụ.
Giáo viên phải luôn đổi mới phương pháp dạy bằng nhiều hình thức như: trò chơi, đố
vui.... phù hợp với đối tượng học sinh của mình: " Lấy học sinh để hướng vào hoạt động
học, thầy là người hướng dẫn, tổ chức, trò nhận thức chủ động trong việc tính toán ''.


Không nên dừng lại ở kết quả ban đầu, mà nên có yêu cầu cao hơn đối với học sinh.
Trong khi giải phải yêu cầu học sinh đặt câu hỏi: ''Làm phép tính đó để làm gì ?'' , từ đó
có hướng cách tính đúng, chính xác.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà chúng tôi đã nghiên cứu và vận dụng trong quá
trình giảng dạy thực tế của khối lớp mình. Tuy kết quả bước đầu chưa cao lắm, nhưng với
nhiệt tình và nổ lực theo khả năng, chúng tôi cũng đã tích lũy được một số bài học thực
tiễn. Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu cùng các bạn đồng nghiệp,
để việc rèn cho học sinh kĩ năng giải toán có lời văn ngày càng được quan tâm hơn, giúp
các em tư duy một cách toàn diện hơn.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status