SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"ÁP DỤNG QUAN ĐIỂM DẠY HỌC PHÂN HÓA TRONG BÀI
LUYỆN TẬP NHẰM PHÁT HUY TÍNH TỰ GIÁC - CHỦ ĐỘNG
CỦA HỌC SINH THPT"
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
I.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hầu hết, dạy học ở các trường trung học phổ thông (THPT) ở nước ta hiện nay mang tính
chất đồng loạt. Trong khi đó, mỗi một học sinh (HS) lại có một phong cách học tập, khả
năng tiếp nhận kiến thức khác nhau. Người giáo viên (GV) như chúng ta không thể cứ mãi
lựa chọn phương pháp dạy học (PPDH) như trước đây theo kiểu “thầy đọc, trò chép”, mà
cần đóng vai trò là người chỉ đường, hướng dẫn giúp HS trở thành những con người chủ
động, tự mình tham gia học tập ở mức độ cao nhất và có cảm giác thoải mái, cho phép phân
hóa nhịp độ và trình độ của HS.
Quan điểm “dạy học phân hóa” sẽ giúp cho chúng ta giải quyết được các vấn đề nêu trên.
Quan điểm này mới chỉ triển khai ở cấp tiểu học và trung học cơ sở theo dự án Việt – Bỉ,
chưa thực hiện triển khai ở cấp THPT. Vì vậy, tôi xây dựng đề tài “Áp dụng quan điểm dạy
học phân hóa trong bài luyện tập nhằm phát huy tính tự giác – chủ động của học sinh
trung học phổ thông”. Do giới hạn của một sáng kiến kinh nghiệm, tôi chỉ đưa ra một giáo
án minh họa có tiến hành triển khai thực nghiệm tại trường THPT Bắc Sơn – Ngọc lặc và
thấy có hiệu quả (các em HS chủ động hơn, tự giác hơn, yêu thích môn học hơn) . Tôi hy
vọng rằng đây sẽ là một nguồn tài liệu hỗ trợ có ích cho các thầy cô giáo.
II.
tư chất và năng lực của học HS có năng khiếu.
- Thứ tư: Phân hoá dạy học có khả năng loại trừ tình trạng quá tải đối với HS.
- Thứ năm: Phân hoá dạy học là điều kiện chuẩn bị nghề cho HS.
Tóm lại, việc tổ chức cho HS học phân hóa là con đường nâng cao hiệu quả của quá trình
dạy học.
3. PPDH theo hợp đồng
3.1. Khái niệm
Học theo hợp đồng là cách tổ chức học tập, trong đó mỗi HS (hoặc mỗi nhóm nhỏ) làm
việc với một gói các nhiệm vụ khác nhau (nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn) trong một
khoảng thời gian nhất định. Trong học theo hợp đồng, HS được quyền chủ động xác định
thời gian và thứ tự thực hiện các bài tập, nhiệm vụ học tập dựa trên năng lực và nhịp độ
học tập của mình.
3.2. Bản chất của dạy học theo hợp đồng
Tên tiếng Anh "Contract Work" thực chất là làm việc hợp đồng hay còn gọi là học theo hợp
đồng, nhấn mạnh vai trò chủ thể của người học trong dạy học.
Hợp đồng là một biên bản thống nhất và khả thi giữa hai bên GV và HS, theo đó có cam
kết của HS sẽ hoàn thành nhiệm vụ đã chọn sau khoảng thời gian đã định trước.
Học theo hợp đồng là một hình thức tổ chức hoạt động học tập trong đó người học được
giao một tập hợp các nhiệm vụ được miêu tả cụ thể trong một văn bản chính quy theo dạng
hợp đồng.
Trong dạy học theo hợp đồng: GV là người nghiên cứu thiết kế các nhiệm vụ, bài tập trong hợp
đồng, tổ chức hướng dẫn HS nghiên cứu hợp đồng để chọn nhiệm vụ cho phù hợp với năng lực
3
của HS. HS là người nghiên cứu hợp đồng, kí kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, nhằm đạt
được mục tiêu dạy học nội dung cụ thể.
GV có thể chắc chắn rằng mỗi HS đã kí hợp đồng tức là đã nhận một trách nhiệm rõ ràng và sẽ
hoàn thành các nhiệm vụ vào thời gian xác định theo văn bản.
Bƣớc 2: HS đọc và đăng ký, thời gian và thứ tự thực hiện các nhiệm vụ học tập ghi trong
hợp đồng; ký cam kết với GV.
Bƣớc 3: HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm đề thực hiện nhiệm vụ trong hợp đồng.
Một số lƣu ý khi dạy học theo hợp đồng
- Bố trí không gian lớp học: Có thể tổ chức trong lớp học nhỏ với không gian han chế.
Tuy nhiên, nếu không gian lớp học được bố trí, sắp xếp mô cách phù hợp sẽ lôi cuốn
được HS hơn, các em sẽ cảm thấy thoải mái hơn.
- Thời hạn hợp đồng: Các loại ngắn hạn trong 1 tiết, 2 tiết hoặc có thể kéo dài 1 – 2 tuần
tùy theo bài tập và nhiệm vụ môn học.
3.4. Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo hợp đồng
Ƣu điểm
-
Cho phép phân hóa nhịp độ và trình độ của HS
Tăng cường tính độc lập của HS
Tạo điều kiện cho HS được GV hướng dẫn cá nhân
Tăng cường học tập hợp tác
Các hoạt động học tập trở nên phong phú hơn, lựa chọn đa dang hơn
Tránh chờ đợi, tạo điều kiện cho HS được giao và thực hiện trách nhiệm
Hạn chế
Các tài liệu, nhiệm vụ học tập phải được chuẩn bị trước
Các tài liệu học tập phải đa dạng hóa cho phù hợp với nhu cầu của từng HS.
Cả GV và HS đều cần một khoảng thời gian nhất định để làm quen với PPDH mới.
4.
Kĩ thuật sơ đồ tư duy
Bản đồ tư duy của Tony Buzan - chuyên gia và tác giả hàng đầu về não và phương pháp học
tập, là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại, một kỹ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ. Đó là một
kỹ thuật hình hoạ, một dạng sơ đồ, kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét , màu sắc tương
thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não.
Kiến thức
- HS ôn luyện lại cấu tạo phân tử của N2, NH3, HNO3; các tính chất hóa học cơ bản của N2 và
một số hợp chất: NH3, muối amoni, HNO3, muối nitrat.
- HS biết cách nhận biết sự có mặt của nitơ, NH3, ion NH4+, ion NO3-; các phương pháp điều
chế N2 và một số hợp chất của nitơ.
2. Kĩ năng
- Rèn kĩ năng viết PTHH của các PƯ, PƯ oxi hóa – khử.
- Rèn kĩ năng giải các bài toán hóa học có liên quan.
3. Thái độ
- Tự giác, chủ động, độc lập trong nghiên cứu và học tập.
- Hợp tác với bạn bè, chan hòa, thoải mải và ham học hỏi.
- Bảo vệ môi trường, cảnh quan trong tự nhiên.
II. Chuẩn bị
1.
GV:
Đồ dùng học tập
- Giấy A4, A0; PHT các loại màu (phân loại bài tập).
- Máy tính, máy chiếu, các bản hợp đồng.
- Hệ thống kiến thức được trình chiếu trên lược đồ tư duy
6
HS: - Ôn lại kiến thức về cấu tạo phân tử và tính chất hóa học của N2 và hợp chất của nó:
NH3, muối amoni, HNO3, muối nitrat.
- Giấy nháp, vở ghi, bút…
2. Phương pháp
Hệ thống hóa
KT cần nhớ
2
10’
Giải bài tập
trong PHT số 1
10’
3
Giải bài tập
trong PHT số 2
5’
4
Giáo viên chỉnh sửa
7
HĐ theo nhóm
Đáp án
Tôi cam kết thực hiện theo đúng hợp đồng này.
Học sinh
Giáo viên
(Ký, ghi rõ họ và tên)
(Ký, ghi rõ họ và tên)
8
Sơ đồ tư duy hướng dẫn HS soạn bài 13
“Luyện tập tính chất của nitơ và hợp chất của nitơ”
NHIỆM VỤ 1. Hệ thống hóa kiến thức cần nhớ ( Sử dụng SĐTD)
(- - làm ở nhà)
Tổng kết kiến thức về tính chất của nitơ và hợp chất của nitơ
9
t0,xt
C
+O2 + H2O
D
0
H
t
G
E
+NaOH
(rắn)
b.
Chỉ dùng thêm quỳ tím, nhận biết các dung dịch đựng trong các bình riêng biệt mất nhãn
sau: Ba(OH)2, H2SO4, NH4Cl, (NH4)2 SO4, NH3. Viết PTHH.
Viết trên bìa màu xanh
a.
Viết trên giấy màu xanh
Hòa tan hết 14,4 g hỗn hợp Fe và Mg trong HNO3 loãng, dư thu được dung dịch A và 2,352
(lit) hỗn hợp 2 khí N2 và N2O (đktc) có khối lượng 3,74 g.
a.
Tính % theo khối lượng của mỗi kim loại trong hỗn hợp.
b.
Tính số mol HNO3 ban đầu, biết lượng HNO3 dư 10% so với lượng cần thiết.
Chú thích:
-
Giấy màu hồng: Mức độ vận dụng cho HS trung bình – yếu
Giấy màu xanh: Mức độ vận dụng cho HS khá – giỏi
HOẠT ĐỘNG 2: THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG (25 phút)
Nhiệm vụ 1 cho HS tiến hành làm ở nhà trước tiết luyện tập.
Nhiệm vụ 3 là bắt buộc; nhiệm vụ 2, 4 là tự chọn bắt buộc
GV: chuẩn bị các phiếu trợ giúp cá nhân, và có thể trực tiếp trợ giúp cho từng học sinh
nếu có yêu cầu.
HS: - tiến hành giải quyết các nhiệm vụ theo khả năng và sở thích của bản thân, có thể
dùng các phiếu trợ giúp cá nhân, thảo luận cùng bạn…
ĐÁP ÁN NHIỆM VỤ 3
Trong mưa giông, khi có sự phóng điện do sấm sét, một phần N2 trong khí quyển kết hợp
với O2 tạo thành NO, rồi chuyển hóa thành HNO3 và theo nước mưa thấm vào đất. HNO3
Giải hệ PT tìm ẩn. Tính được khối lượng 2 kim loại theo số mol là ẩn.
-
Dựa vào ẩn số, theo PTHH tìm ra được số mol của NO V?
Đựng trong phong bì màu xanh
Cách 1:
-
Dựa vào thể tích và khối lượng của N2 và N2O, lập hệ PT tìm ra số mol của N2 và N2O.
-
Viết các PTHH xảy ra
Dựa vào PTHH, thiết lập hệ PT tìm mối tương quan giữa số mol kim loại và số mol
khí.
-
Giải hệ PT tìm số mol của 2 kim loại. Tính được % khối lượng mỗi kim loại.
-
Theo 2 PT tìm được số mol HNO3. số mol HNO3 ban đầu cần lấy.
12
-
Đặt số mol theo các nửa PT; áp dụng ĐLBTKL tìm ra số mol của 2 kim loại.
-
Tính toán bước tiếp theo như cách 1.
HOẠT ĐỘNG 3: THANH LÝ HỢP ĐỒNG (10 phút)
GV: Chiếu sơ đồ tổng hợp lại kiến thức ở nhiệm vụ 1.
Cho học sinh đánh giá đồng đẳng bài của nhau
Gọi HS lên giải quyết các nhiệm vụ 2, 4, 5. GV đánh giá rồi chiếu đáp án nếu cần thiết.
Nhiệm vụ 3 yêu cầu 1 HS giải thích ngay dưới lớp.
HS: thảo luận kết quả hoặc xem đáp án, rồi đánh giá đồng đẳng bài của nhau
HOẠT ĐỘNG 4: NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ ( 5 phút)
GV: Thu thập kết quả thực hiện hợp đồng của HS trong lớp, tổng kết lại kiến thức cần
nhớ.
II.2. Tiến hành thực nghiệm sư phạm
MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM
GV hướng dẫn văn bản hợp đồng
HS làm bài và thảo luận
13
D. ns2np5
Câu 2: Hiện tượng xảy ra khi dẫn khí NH3 đi qua ống đựng bột CuO nung nóng
A.
Bột CuO từ màu đen sang màu trắng
B.
Bột Cuo từ màu đen chuyển sang màu đỏ, có hơi nước ngưng tụ
C.
Bột CuO từ màu đen chuyển sang màu xanh, có hơi nước ngưng tụ.
D.
Bột CuO không thay đổi màu.
Câu 3: Những kim loại nào sau đây không tác dụng được với HNO3 đặc, nguội?
A. Mg, Al
B. Al, Zn
C. Al, Fe
D. Al, Mn
Câu 4: Muối được sử dụng làm bột nở cho bánh quy xốp là:
A. NH4HCO3
3,2g
B.
5,2g
C.
6,5g
D.
2,6g
Sĩ
số
Lớp
Điểm
0
1
2
3
4
5
6
3
11A6 ĐC 45
0
0
0
1
4
7
12
10
6
4
1
Phân loại kết quả học tập của HS (%)
ĐC
2,3
11,1
20,45
42,2
56,8
35,6
20,45
11,1
Bảng phân loại kết quả học tập
Điểm
0
Số SV đạt điểm xi
% SV đạt điểm xi
% SV đạt điểm xi trở xuống
TN
0
0,00
0,00
0,00
0,00
2
0
0
0,00
0,00
0,00
0,00
3
0
1
15,56
9,09
26,67
6
6
12
13,64
26.67
22,73
53,33
7
12
10
27,27
22,22
97,78
10
3
1
6,82
2,22
100,00
100,00
Tổng
44
45
100,00
100,00
17
Đồ thị cột và đường lũy tích biểu diễn kết quả kiểm tra 10 phút
Nhận xét
- Dựa trên các kết quả thực nghiệm sư phạm và thông qua việc xử lý số liệu thực nghiệm sư
phạm thu được, tôi nhận thấy chất lượng học tập của HS ở lớp thực nghiệm cao hơn ở lớp
đối chứng.
- Đa số HS đều yêu thích PPDH theo hợp đồng và ủng hộ quan điểm dạy học phân hóa.
Các em đều cho rằng, việc GV sử dụng PPDH hợp đồng theo quan điểm dạy học phân hóa
trong các bài luyện tập, ôn tập giúp cho các em tự tin hơn, phát huy được tính chủ động và
tự giác của mình, chất lượng giờ học được nâng cao và thấy yêu thích môn học hơn.
18
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Kết luận
Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu tôi đã thực hiện các nhiệm vụ đề ra, cụ
thể là:
Đề xuất nội dung dạy học có thể áp dụng PPDH hợp đồng theo quan điểm dạy hoc phân hóa. Áp
dụng quy trình thiết kế và tổ chức giờ dạy theo PPDH hợp đồng bài luyện tập “tính chất của nitơ
và hợp chất của nitơ”. Đã tiến hành thực nghiệm, kiểm tra kết quả, xử lý kết quả thực nghiệm và
phân tích kết quả thu được.
Kết quả điều tra ý kiến của HS cho thấy đa số các em đều yêu thích PPDH mới này và ủng hộ
dạy học theo quan điểm phân hóa, đề nghị áp dụng vào quá trình dạy học một cách thường
xuyên nhằm giúp các em tự tin, bản lĩnh hơn.
Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng tỏ đề tài “áp dụng quan điểm dạy học phân hóa
trong bài luyện tập nhằm phát huy tính tự giác – chủ động của học sinh trung học phổ
thông” là thiết thực; góp phần nâng cao chất lượng giờ học môn hóa học cũng như rèn luyện
kỹ năng học cho HS phổ thông.
Bản thân tôi cũng đã tích lũy được nhiều kiến thức về lí luận PPDH Hóa học, lí luận PPDH
hiện đại, biết và hiểu rõ hơn về các PPDH mới. Hy vọng đây sẽ là một tư liệu có ích cho tôi