Sáng Kiến Kinh Nghiệm Kinh Nghiệm Dạy Phân Môn Tập Đọc Lớp 5 Cho Học Sinh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Theo Hướng Phân Hóa Đối Tượng Học Sinh - Pdf 40

PHÒNG GD&ĐT KỲ SƠN
TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC&THCS PHÀ ĐÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: Kinh nghiệm dạy phân môn Tập đọc lớp 5 cho học sinh
vùng dân tộc thiểu số theo hướng phân hóa đối tượng học sinh.
Lĩnh vực: Môn Tiếng việt
Ngành: Tiểu học

Người thực hiện: Nguyễn Quốc Khánh
Đơn vị công tác: Trường PTDTBT Tiểu học&THCS Phà Đánh
Năm học: 2013 - 2014
ĐT: 01666129579

1


MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang

I. Lý do chọn đề tài............................................................................................................................................................................. 2
II. Mục đích nghiên cứu................................................................................................................................................................ 3
III. Đối tượng nghiên cứu............................................................................................................................................................ 3
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu.............................................................................................................................................................
3
V. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................................................................................... 4
VI. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................................................................................... 4
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.......................................................................................................................................................................... 5

dạy học, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của
từng cá nhân trên cơ sở kết hợp giữa giáo dục “đại trà” với giáo dục “mũi
nhọn”, giữa phổ cập với nâng cao trong dạy học”.
Như vậy có thể xem dạy học phân hoá là một hình thức dạy học mà người
dạy dựa vào những khác biệt về năng lực, sở thích cũng như các điều kiện học
tập của mỗi cá nhân người học. Từ đó điều chỉnh cách dạy phù hợp nhằm phát
triển tốt nhất từng cá nhân người học đảm bảo hiệu quả giáo dục cao nhất. Dạy
học phân hoá được coi là một hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát
huy tính tích cực cho tất cả đối tượng học sinh. Trong dạy học phân hoá, giáo
viên cần sử dụng các biện pháp để đưa những học sinh yếu kém đạt được những
yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng. Đồng thời phát huy hết khả năng, sở
trường của học sinh khá, giỏi nhằm tạo cho học sinh có niềm tin và niềm vui
trong học tập. Như một nhà triết học cổ Hy Lạp đã nói: “Dạy học không phải là
chất đầy vào một cái thùng rỗng mà là làm bừng sáng lên những ngọn lửa”.
Dạy học phân hóa đòi hỏi người giáo viên phải xác định rõ những nội
dung cơ bản, cần thiết của mỗi bài học, chuẩn KT-KN của bài học đến đâu, mức
độ cần đạt cho từng đối tượng học sinh là gì?
Để giải quyết vấn đề này, ngày 13/02/2006 Bộ giáo dục và Đào tạo ban
hành Công văn số 896/ BGD&ĐT- GDTH “Về việc hướng dẫn điều chỉnh việc
dạy và học cho học sinh tiểu học”; Cùng với Quyết định số16/2006 BGD&ĐT
ban hành ngày 05/05/2006 “Về việc chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu
học”. Tiếp sau đó là công văn 5842/ BGD&ĐT ban hành 01/09/2011 “Về việc
hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học các môn học phù hợp với chuẩn kiến
thức, kĩ năng, phù hợp với thực tế của nhà trường”. Mặc dù, những năm học gần
đây phòng Giáo dục&đào tạo, các nhà trường đã triển khai đến tận các giáo viên
3


để nắm bắt hết tinh thần các công văn này. Tuy nhiên, giáo viên chưa linh hoạt,
sáng tạo trong việc điều chỉnh nội dung, thời lượng cũng như phương pháp dạy

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường tiểu học, đặc biệt
là các trường tiểu học trên địa bàn huyện Kỳ Sơn. Đồng thời giúp giáo viên biết
định hướng lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phân môn Tập đọc lớp 5
phù hợp với đối tượng học sinh theo chuẩn KT-KN.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4


Thực trạng của việc lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phân môn Tập đọc
lớp 5 theo hướng phân hóa đối tượng học sinh. Tính hiệu quả và các giải pháp khắc
phục.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng và lí giải việc lựa chọn nội dung, thời lượng, phương
pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng phân hóa là hết sức quan trọng.
Đề xuất và thử nghiêm một số giải pháp về việc lựa chọn nội dung, thời
lượng, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng phân hóa.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến sáng kiến kinh nghiệm.
2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
2. 1. Phương pháp điều tra
Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến việc học sinh còn yếu về môn
Tập đọc.
Tìm hiểu thực trạng dạy học phân môn Tập đọc kém hiệu quả dẫn tới HS
chưa đạt chuẩn KT-KN.
2. 2. Phương pháp quan sát, đàm thoại
Thực hiện để khảo sát, dự giờ dạy thể nghiệm theo hướng phân hóa phù hợp
với đối tượng học sinh ở các lớp.
2. 3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

dung, ý nghĩa của bài đọc.
2. Kĩ năng, kiến thức cần đạt đối với phân môn Tập đọc lớp 5
2.1. Kĩ năng:
Đọc đúng lưu loát các văn bản nghệ thuật (thơ, kịch, văn xuôi), hành chính,
khoa học, báo chí ... có độ dài khoảng 250-300 chữ với tốc độ 100-120 chữ/phút;
Biết đọc thầm bằng mắt với tốc độ nhanh hơn lớp 4 (khoảng 120-140
tiếng/phút; Biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ, trích đoạn kịch ngắn.
2.2. Kiến thức
Nhận biết dàn ý và đại ý của văn bản;
Nhận biết ý chính của từng đoạn trong văn bản;
Phát hiện các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết có ý nghĩa trong bài văn, bài thơ,
trích đoạn kịch được học;
Biết nhận xét nhân vật trong văn bản tự sự;
Biết phát biểu ý kiến cá nhân về cái đẹp của văn bản đã học;
Biết tóm tắt văn bản tự sự đã học.
6


3. Dạy học bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng
Bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng để thiết kế bài giảng với mục tiêu là đạt
được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng.
Việc khai thác kiến thức, kĩ năng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của
từng đối tượng HS.
Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các
hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với trình độ HS, với điều
kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
Sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, khoa
học, linh hoạt phù hợp với từng đối tượng học sinh trong từng bài học.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Nguyên nhân

hướng phân hóa đối tượng học sinh.
Chưa phân loại đối tượng HS lớp mình thật cụ thể, nhận định đúng về năng
lực của từng học sinh.
Trong giờ tập đọc, giáo viên chưa linh hoạt sửa lỗi phát âm sai cho học sinh
theo vùng miền, từng cá nhân mà chỉ sửa sai những từ trong SGV đã hướng dẫn.
Giáo viên còn nặng về phương pháp hiện hành, không dựa vào năng lực của từng
học sinh. Gọi học sinh đọc ít, kể cả khâu rèn đọc và đọc hiểu. Việc rèn đọc cho học
sinh còn hạn chế, chưa chú ý rèn đọc khi phát âm sai, ngắt nghỉ chưa đúng, kĩ năng
đọc diễn cảm. Giáo viên còn dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu nội dung bài
nên số lượng học sinh được đọc còn ít (đặc biệt là học sinh yếu kém).
Một số GV vẫn yêu cầu học sinh yếu kém (HSYK) phải luyện đọc cả bài,
luyện đọc diễn cảm hoặc tham gia tìm hiểu bài trong khi các em mới biết đọc dịch.
Một số giáo viên còn dạy hết nội dung của một tiết Tập đọc trong thời gian
35- 40 phút nên thời gian dành cho học sinh luyện đọc còn ít.
Chưa dành nhiều thời gian cho HSYK luyện đọc cá nhân hoặc còn bỏ rơi
HSYK.
Trong quá trình tìm hiểu bài một số câu hỏi còn quá khó, dài giáo viên vẫn
dùng để hỏi HS mà không tách thành các câu hỏi nhỏ.
Một số học sinh còn phát âm sai phụ âm đầu, dẫn tới phát âm sai tiếng, từ.
Ví dụ: Bố mẹ phát âm sai: l/đ; t/tr thì con cái phát âm cũng rất dễ sai như vậy (“đờ”
phát âm “lờ”; “đã” đọc “lá”; “trầm” đọc là “tầm”...)
Một số HS vẫn chưa biết đọc hoặc đọc chưa lưu loát, ngắt nghỉ còn bừa bãi,
nhấn giọng lên xuống tuỳ tiện và chưa hiểu được nội dung của bài đọc.
Đối với những em đã đọc đúng thì chưa chịu rèn kỹ năng đọc diễn cảm để
thể hiện được cảm xúc, tình cảm thái độ qua giọng đọc và tính cách của các nhân
vật như: đọc đúng tốc độ, cao độ, trường độ và âm sắc.
Học sinh đã đọc kém lại lười đọc, không chú ý đến cách hướng dẫn đọc của
giáo viên, không nghe những bạn đọc đúng để mình học tập.
Môt số học sinh chưa chiụ khó suy nghĩ để trả lời các câu hỏi có liên quan
đến nội dung bài nên chưa nắm được nội dung bài tập đọc.


SL

TL

SL

TL

SL

TL

(em)

%

(em)

%

(em)

%

(em)

%

0

khả năng của mình.
Ví dụ: Đề khảo sát phân môn tập đọc lớp 5 đầu năm học.
I. Đọc thành tiếng (5 điểm): Học sinh bốc thăm và đọc một trong các bài tập đọc
đã học ở lớp 4 từ tuần 19 đến tuần 34 (Sách Tiếng Việt 4 - Tập 2)
II. Đọc hiểu (5 điểm): Dựa vào nội dung bài tập đọc “Tiếng cười là liều thuốc bổ”,
SGK Tiếng Việt 4 (tập 2), em hãy khoanh tròn vào chữ cái đặt trước những ý
đúng:
9


Câu 1: Động vật duy nhất biết cười là:
a. Khỉ

b. Báo

c. Bò

d. Con người

Câu 2: Vì sao tiếng cười là liều thuốc bổ?
a. Vì khi cười, cơ thể mặt thư giản làm cho con người khỏe khoắn.
b. Vì khi cười, não tiết ra chất làm cho con người sảng khoái.
c. Vì khi cười, cơ thể mặt thư giản, não tiết ra chất làm cho con người sảng
khoái.
Câu 3: Người ta tìm cách để tạo ra tiếng cười cho bệnh nhân để làm gì?
a. Để bệnh nhân bớt đau.
b. Để đem lại niềm lạc quan yêu đời cho bệnh nhân.
c. Rút ngắn thời gian điều trị và tiết kiệm tiền cho nhà nước.
Câu 4: Qua bài học này, em rút ra được điều gì?
a. Trong cuộc sống, chúng ta có thể cười ở mọi nơi, mọi lúc để phát triển

nhiều thời gian. Số HS còn lại phải đọc hết cả đoạn, yêu cầu phải đọc đúng, lưu
loát cả bài; HS khá, giỏi phải đọc trôi chảy, tiến tới đọc diễn cảm.
Ví dụ: Dạy bài: “Một chuyên gia máy xúc” (Tuần 5).
Tôi chia bài này làm 3 đoạn:
Đoạn 1: Từ đầu ....đến êm dịu
Đoạn 2: Tiếp đến thân mật.
Đoạn 3: Phần còn lại.
Phần đọc nối tiếp đoạn HSYK không yêu cầu các em đọc hết cả đoạn mà
nhờ học sinh khác giỏi đọc giúp cho hết đoạn, số học sinh còn lại yêu cầu đọc hết
cả đoạn.
+ Phần luyện đọc từ khó:
Các từ khó mà SGK, SGV và thiết kế bài giảng đưa ra là dùng chung cho tất
cả đối tượng học sinh trên cả nước. Tuy nhiên đối với học sinh là người dân tộc
Thái ở địa bàn tôi giảng dạy các em thường phát âm sai các tiếng có phụ âm đầu
l/đ hoặc t/tr. Do đó khi thiết kế bài giảng, giáo viên cần liệt kê các từ dự kiến các
em có thể phát âm sai khi đọc trong bài để luyện đọc từ khó.
Ví dụ 1: “lá” phát âm là “đá”...; “đó” phát âm là “ló”...; “trông” phát âm là
“tông”
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” (Tuần 1), tôi dự
kiến học sinh sẽ phát âm sai các từ sau: mùa đông, làng quê, trông thấy, lắc lư,
chuỗi, lơ lửng, đuôi áo... Vì những từ nay có phụ âm đầu là l, đ, tr mà học sinh tôi
hay phát âm sai.
Đối với các từ này, học sinh thường phát âm lẫn lộn âm l với âm đ.
+ Luyện phát âm đúng âm “l” trong các từ sau:
Lá, lấp ló, lầm lỗi, lẫn lộn, lấp lánh, lọt lòng, lầy lội, lập loè, lừng lẫy, lam
lụng, lai láng, lạnh lẽo, lanh lảnh, lành lặn,...
11


+ Luyện phát âm đúng âm “đ” trong các từ:

bảo ban công nhà Thu không phải là vườn. Vì vậy khi thấy chim về đậu ở ban công
Thu phải báo ngay cho Hằng để chứng minh cho Hằng biết khu vườn nhà Thu
đúng là vườn. Theo Thu thì: “Ban công có chim về đậu tức là vườn rồi”. Việc làm
12


đó quả thật rất khó đối với học sinh, thay cho câu trả lời đúng chắc chắn sẽ có
nhiều học sinh đọc lại toàn bộ đoạn “Một sớm chủ nhật... tức là vườn rồi!” mà bỏ
qua mất điều cần nêu cho câu hỏi đó là “Có điều Thu chưa vui... không phải là
vườn”.
Vì vậy khi dạy giáo viên cần phải tách câu hỏi đó thành các câu hỏi nhỏ
sau:
+ Thu đã phát hiện ra điều gì khác tại ban công nhà mình? (Thu đã phát
hiện ra chú chim lông xanh biếc xà xuống cành lựu ...)
+ Điều đó đã giúp Thu muốn nói với Hằng biết điều gì? (Điều đó đã giúp
Thu cho Hằng biết ban công nhà Thu cũng là vườn bởi vì có chim về đậu).
+ Theo em thì Thu nói có đúng không, tại sao? (Đối với câu hỏi này giúp
các em liên hệ thực tế, sẽ có nhiều đáp án khác nhau tuỳ theo cách hiểu của mỗi
học sinh, giáo viên nên giúp học sinh hiểu thế nào là vườn và cho các em biết
ban công nhà Thu cũng là một khu vườn nhỏ).
- Đối với câu hỏi 4, việc giúp học sinh hiểu được nội dung câu thành ngữ
đó không khó nhưng để các em liên hệ được rằng ban công nhà Thu là một khu
vườn tuyệt vời thì là một việc không dễ. Do đó sau khi học sinh trả lời câu hỏi
giáo viên cần bổ sung thêm câu hỏi có nội dung sau: “Em có nhận xét gì về câu
nói của ông Thu.” hoặc “Câu nói của ông Thu cho em biết ban công nhà Thu là
một nơi như thế nào?” (Ban công của nhà Thu là một nơi rất đẹp, rất tuyệt
vời...)
Ví dụ 2: Bài: Đất nước ( Tuần 27)
Hệ thống câu hỏi trong SGK được đưa ra như sau:
Câu 1: “Những ngày thu đã xa” được tả trong hai khổ thơ đầu đẹp mà

nước trong mùa thu mới đó? (Đó là biện pháp tu từ nhân hoá “Rừng tre phấp
phới”; “Trời thu thay áo mới”; “Trong biếc nói cười thiết tha”).
Hoặc đưa ra các đáp án cụ thể như nhân hóa, so sánh… cho học sinh lựa
chọn.
Câu hỏi 3, đây là một câu hỏi khá dài đối với học sinh và các em sẽ dễ
đưa ra câu trả lời bằng cách đọc lại toàn bộ cả hai khổ thơ.
Để giúp học sinh hiểu một cách sâu sắc khi dạy giáo viên cần tách thành
các câu hỏi nhỏ như sau:
+ Trong khổ thơ thứ ba, những từ ngữ, hình ảnh nào nói lên lòng tự hào
về đất nước tự do của dân tộc ta? ( Trời xanh đây, núi rừng đây, là của chúng ta,
những cánh đồng thơm mát...)
+ Cụm từ “là của chúng ta” lặp lại nhằm mục đích gì? (Nhấn mạnh niềm
tự hào và hạnh phúc của đất nước khi đã được độc lập tự do).
+ Lòng tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc được thể hiện qua
những từ ngữ nào trong khổ thơ cuối? (những người chưa bao giờ khuất, đêm
đêm, rì rầm trong tiếng đất, ngày xưa vọng nói về).
Ví dụ 3: Bài “Quang cảnh làng mạc ngày mùa” (Tuần 1)
Câu 2: Hãy chọn một từ chỉ màu vàng trong bài và cho biết từ đó gợi cho
em cảm giác gì?
14


M: vàng xọng - màu vàng gợi cảm giác như có nước.
Câu hỏi này không liên quan nhiều đến nội dung bài nên khi tìm hiểu bài
giáo viên có thể bỏ (không hỏi học sinh).
Trên đây là một số ví dụ về viêc tự chủ lựa chon nội dung dạy học phân
môn Tập đọc mà tôi đã thực hiện trong những năm học gần đây.
2.2. Tự chủ điều chỉnh thời lượng dạy học:
Thời lượng dành cho một tiết tập đọc là 35 - 40 phút, trong khi đó kiến thức,
kĩ năng cần truyền đạt cho học sinh là rất nhiều. Một số bài tập đọc có nội dung rất



Sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học không nhất thiết phải
phụ thuộc vào SGV hoặc Thiết kế bài giảng. Dạy như thế nào để tất cả các đối
tượng HS nắm được kiến thức, kĩ năng bài học là điều mà người giáo viên phải suy
nghĩ (có nghĩa là tất cả các đối tượng HS được cái gì sau mỗi tiết học). Giáo viên
cần phải linh hoạt trong việc lựa chọn phươg pháp, hình thức tổ chức dạy học để
mang lại hiệu quả cao nhất. Việc lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
gắn liền với phân loại đối tượng học sinh.
Để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để mang lại hiệu quả,
tôi đã tiến hành thay đổi phương pháp dạy học như sau:
+ Giáo viên cần phải đọc mẫu toàn bài lần 1, đồng thời hướng dẫn học sinh đọc.
+ Hướng dẫn cách ngắt, nghỉ đúng và đọc diễn cảm chỉ dành cho học sinh
khá, giỏi.
+ Đối với lớp 4, 5 không yêu cầu HS đọc đồng thanh. Tuy nhiên đối với HS
vùng dân tộc thiểu số có thể cho HS đọc đồng thanh. Bởi vì, thông qua hình thức
đọc đồng thanh thì HS yếu, kém có cơ hội tham gia vào hoạt động đọc nhiều hơn,
được làm quen với các từ khó. Từ đó, các em phát âm đúng các từ khó, đọc trôi
chảy và lưu loát hơn.
+ Khi đọc nối tiếp đoạn, đối với HSYK tùy theo mức độ đọc của từng học
sinh mà giáo viên có thể không yêu cầu các em phải đọc hết cả đoạn. Bởi vì các em
đọc chậm nên đọc hết cả đoạn thì mất rất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến thời
lượng tiết học. Khi luyện đọc tôi theo dõi từng em, sai từ nào sửa trực tiếp từ đó
(đặc biệt là HSYK).
+ Chú trọng hình thức đọc cá nhân để uốn nắn cho từng HS, kết hợp hình
thức đọc theo nhóm, theo cặp để HS được đọc nhiều lần.
+ Phần chú giải, cho HS khá giỏi nối tiếp đọc, không giải nghĩa nhiều và
không giải nghĩa thêm các từ ngoài phần chú giải mà dành thời gian cho học sinh
luyện đọc.
+ Giáo viên cần đọc mẫu trước khi tìm hiểu bài, bởi vì học sinh đọc chưa

- Gọi HS Khá, giỏi nối tiếp đọc chú giải.
- Yêu cầu HS luyện đọc theo cặp (HSKG kèm cặp HSYK đọc)
- Giáo viên đọc mẫu lần 2.
c. Tìm hiểu bài (12 phút)
- Yêu cầu HSKG đọc thành tiếng đoạn 1 và trả lời câu hỏi có liên quan trong
đoạn vừa đọc.
- Rút nội dung đoạn 1 (có thể ghi bảng).
- Yêu cầu cả lớp đọc thầm đoạn 2 và trả lời câu hỏi có liên quan trong đoạn
vừa đọc.
- Rút nội dung đoạn 2 (có thể ghi bảng).
- Tương tự với đoạn 3, 4...
17


- Rút nội dung bài (HS dựa vào nội dung các đoạn để rút ra nội dung bài),
sau đó cho 2-3 học sinh nhắc lai.
Lưu ý: Trong khi tìm hiểu bài:
+ Giáo viên cho HSYK luyện đọc;
+ Cần tách các câu hỏi khó thành các câu hỏi nhỏ hoặc gợi mở bằng câu hỏi
phụ hoặc nêu phương án trả lời cho HS lựa chọn, không yêu cầu HS tự tìm hiểu và
trả lời.
3. Củng cố dặn dò (2 phút)
- Gọi HS nhắc lại nội dung bài;
- Nhận xét tiết học.
Ghi chú: Phần luyện đọc diễn cảm (đối với bài văn xuôi) hay học thuộc lòng
(đối với bài thơ) chuyển sang tiết luyện buổi chiều.
4. Rèn kĩ năng đọc phù hợp từng đối tượng học sinh.
4. 1. Rèn kĩ năng phát âm đúng (dành cho HSYK)
- Gọi học sinh khá giỏi đọc, HSYK theo dõi đọc thầm theo, tìm tiếng khó
đọc hay phát âm sai.

dầu mỡ của tôi lắc mạnh và nói://
Sau khi học sinh phát hiện câu dài, giáo viên ghi bằng giấy hoặc bảng phụ
và gọi 2, 3 em đọc. Học sinh khác nhận xét bạn ngắt, nghỉ hơi đúng chưa, cần ngắt
hơi, nghỉ hơi sau với những tiếng nào? Tiếp theo mời em đó đọc lại, các bạn khác
nhận xét bổ sung để HS thống nhất cách ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ.
Đối với những em đọc yếu tôi chú ý cho các em đó đọc nhiều hơn. Hôm nay
đọc một câu, ngày mai đọc hai câu và tăng dần số câu. Các em khác chú ý nghe
nhận xét bổ sung cho bạn, nếu bạn vẫn đọc sai tiếp tục cho đọc lại.
Ví dụ: Bài “Thư gửi các học sinh” (Tuần 1) các từ: giời (trời); giở đi (trở đi)
Trong phần rèn đọc đúng, tôi tổ chức cho các em đọc cá nhân, đọc trong nhóm,
đọc theo cặp, đọc trước lớp (đọc cho bạn nghe và ngược lại) nhận xét bạn đọc và sửa
lỗi nếu bạn đọc sai. Đối với những em đọc kém cần nhẹ nhàng gọi học sinh đọc lại để
sửa sai đồng thời động viên, khuyến khích kịp thời để các em tự tin hơn, không chán
nản, mặc cảm. Ngoài ra, khi luyện đọc ở lớp tôi phân công các em đọc tốt ngồi kèm cặp
những em đọc yếu. Như vậy việc luyện đọc nhóm, đọc theo cặp đạt kết quả cao hơn.
* Đối với các bài thơ :
Để đọc đúng bài thơ thì không những phát âm đúng mà còn phải biết ngắt
nghỉ đúng nhịp thơ, nhấn giọng các từ ngữ. Thông thường khi đọc thơ, cần ngắt
theo nhịp 2/3, 3/4 hay 4/4 ... Gọi học sinh đọc các khổ thơ để nhận xét cách ngắt
nhịp đúng chưa và cần ngắt nhịp ở những tiếng nào. Giáo viên nên ghi khổ thơ lên
bảng hoặc giấy khổ lớn để học sinh thảo luận thống nhất cách ngắt nhịp.
Ví dụ: Bài “Hành trình của bầy ong” (Tuần 12)
- Gọi 1 học sinh đọc, học sinh khác nhận xét sau đó HS đó đọc lại và thống
nhất cách ngắt nhịp 4/2 và 3/5.
“Chắt trong vị ngọt /mùi hương
19


Lặng thầm thay/ những con đường ong bay
Trải qua mưa nắng /vơi đầy

- Nhấn giọng theo cách ngân dài hơi hơn ở những từ ngữ khẳng định hoặc
mang rõ sắc thái cảm xúc: “Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…”
20


Khi đọc các bài thơ, bài văn có các câu hỏi, câu kể, câu cảm giáo viên cần
hướng dẫn các em đọc đúng giọng của từng loại câu đó thì mới bộc lộ được cảm
xúc của từng nhân vật và của tác giả.
Ví dụ: Bài “Chú đi tuần”(Tuần 23)
“Các cháu ơi! ngủ có ngon không?”
Hoặc “Các cháu cứ yên tâm ngủ nhé!”
Hay: Bài: “Một chuyên gia máy xúc’’ có câu văn:
Đồng chí lái máy xúc bao nhiêu năm rồi? Chúng mình là đồng nghiệp đấy,
đồng chí Thuỷ ạ!
Tôi hướng dẫn các em cần đọc đúng ngữ điệu khi đọc câu hỏi như: nhấn
giọng từ để hỏi, cao giọng ở cuối câu. Nếu học sinh đọc chưa diễn cảm, giáo viên
có thể đọc mẫu cho học sinh nghe giọng đọc của giáo viên để tự điều chỉnh giọng
đọc của mình theo cô.
Muốn học sinh đọc tốt giáo viên cần tạo niềm say mê hứng thú cho học sinh.
Ví dụ: Khi học bài “Hạt gạo làng ta’’ (Tuần 14) cuối giờ học giáo viên hát
cho các em nghe bài hát “Hạt gạo làng ta” mà đã được phổ nhạc.
Giọng đọc cần thay đổi theo từng đoạn: khi đọc câu đối thoại thì đọc như thế
nào? Đọc thế nào để thể hiện giọng đọc của từng nhân vật. Biết đọc bài văn với
giọng kể nhẹ nhàng, hóm hỉnh hay với giọng niềm nở hồ hởi... Để thể hiện được tính
cách, cảm xúc của các nhân vật người đọc cần hoà mình vào từng nhân vật để tìm
được cách đọc. Khi đọc diễn cảm tôi hướng dẫn các em biết nhấn giọng ở các từ ngữ
gợi tả, gợi cảm (tặc lưỡi, ngạc nhiên, giận dữ, giả bộ) và phân biệt lời các nhân vật.
Ví dụ : Bài “Lòng dân” (Tuần 3)
Khi dạy tôi hướng dẫn các em phân biệt tên nhân vật với lời nói của nhân
vật và lời chú thích về thái độ, hành động của nhân vật như:

vùng dân tộc thiểu số không còn áp lực về nội dung lẫn thời lượng dạy học. Nhiệm
vụ học tập của từng đối tượng HS trong mỗi tiết học là khác nhau nhưng đều có
chung mục tiêu là đạt chuẩn KT-KN và hơn nữa là phát triển hết khả năng của
từng HS. Tất cả các em đều biết tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, nắm
được nội dung bài học, kết quả học tập của HS được nâng cao. Cụ thể kết quả khảo
sát phân môn Tập đọc cuối năm học 2013 – 2014 như sau:

Kết quả khảo sát phân môn Tập đọc
(Kiểm tra kĩ năng đọc thành tiếng và đọc hiểu)
Lớp

5A

Tổng
số học
sinh
14 em

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

SL

TL


21,4

5

35,7

5

35,7

1

7,2

Qua kết quả trên cho thấy, chất lượng của học sinh được nâng lên rõ rệt, số
học sinh yếu giảm rất nhiều, số học sinh khá - giỏi được nâng lên.
22


C. KẾT LUÂN
Qua các đợt hội thảo về thực hiện chuyên môn theo tinh thần chỉ đạo công
văn 896; 5842 và QĐ16 của trường hay các buổi sinh hoạt chuyên môn. Tôi đã đưa
kinh nghiệm trên phổ biến cho đồng nghiệp, được đồng nghiệp cũng như hội đồng
chuyên môn của trường tán thành cao. Tất cả các giáo viên trong tổ chuyên môn của
tôi đã vận dụng những kinh nghiệm trên vào dạy học. Sau khi thực hiện, các giáo viên
đều nhận định rằng hiệu quả mang lại cho HS cao hơn, tiết học giảm bớt áp lực căng
thẳng. Tuy nhiên để làm được như thế thì sự đầu tư của GV vào giờ dạy nhiều hơn,
GV phải dồn cả lương tâm nghề nghiệp, trí tuệ và công sức của mình vào từng trang
giáo án.
Đểdạy học phân môn Tập đọc theo hướng phân hóa đối tượng học sinh thì mỗi

Mục tiêu của bài học phải rõ ràng, quy định mức độ cần đạt, các thiết bị đồ
dùng dạy học cần thiết và các hoạt động cần thiết.
Với cách làm trên, tôi tin rằng việc dạy học Tập đọc lớp 5 đối với vùng dân tộc
thiểu số trở nên nhẹ nhàng, giảm bớt được áp lực cho HS và GV. Đồng thời giúp các
đối tượng HS đều đạt chuẩn KT-KN. Thiết nghĩ, kinh nghiệm này có thể vận dụng
vào dạy học cho các vùng miền khác nhưng đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số.
* Ý kiến đề xuất
+, Đối với nhà trường
Phối hợp với chính quyền địa phương để làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục,
tuyên truyền chăm lo đến việc học của con em mình.
Thường xuyên tổ chức dạy thể nghiệm theo hướng phân hóa đối tượng HS để
tất cả GV được học hỏi, đúc rút được kinh nghiệm nhiều hơn.
Chỉ đạo sát sao hơn đến từng tổ chuyên môn và đến tận giáo viên về việc dạy
học phân hóa đối tượng học sinh.
Chỉ đạo giáo viên soạn giáo án và dạy học phải phân hóa được đối tượng học
sinh, tự chủ lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp học sinh lớp mình.
Thường xuyên dự giờ thăm lớp và kiểm tra giáo án để điều chỉnh, sửa đổi và
bổ sung kịp thời cho giáo viên.
+ Đối với Phòng GD&ĐT Kỳ Sơn
Hằng năm trong chương trình Bồi dưỡng Thường xuyên hoặc tập huấn trong
hè, Phòng phòng GD&ĐT Kỳ Sơn đã tổ chức tập huấn cho đội ngũ cốt cán và cán bộ
quản lý các nhà trường. Tuy nhiên muốn phòng GD&ĐT tập huấn đến tận đội ngũ
giáo viên Tiểu học về nội dung: Điều chỉnh nội dung, phương pháp và thời lượng dạy
học phù hợp đối tượng học sinh trên tinh thần các công văn chỉ đạo dạy học theo
chuẩn KT- KN đối với các môn học nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng đến tận
các giáo viên.
Trên đây là một số kinh nghiệm trong việc “Dạy phân môn Tập đọc lớp 5 cho
học sinh vùng dân tộc thiểu số theo hướng phân hóa đối tượng học sinh”. Quá trình
nghiên cứu và thực hiện sáng kiến này sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.
Rất mong được sự đóng góp của Hội đồng khoa học các cấp và đồng nghiệp để sáng

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status