PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
a. Khái quát về lý luận
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài
người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn
ngữ nói và ngôn ngữ viết và là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá
giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc. Các
dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt
cộng đồng của họ, đồng thời họ cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng
đồng người Việt trên toàn quốc, đồng thời được cung cấp giáo dục, y tế, giải trí,
thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng bằng chữ Quốc ngữ. Sự
giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phú thêm cho nền văn hoá của người thiểu
số, đồng thời cũng làm thay đổi cuộc sống, kinh tế và vị thế của cộng đồng các
dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt anh em. Có thể nói rằng “cộng
đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ” - tiếng
mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh.
Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là
ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến
đại học. Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số phụ
thuộc rất nhiều vào khả năng tiếng Việt của học sinh. Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số
khi tới trường, lớp mầm non đều chưa được sống trong môi trường tiếng Việt.
Việc quan trọng trong trường mầm non cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đi
học phát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chung của
trẻ. V.I Lênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của
loài người. Do đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng
ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một cách thực
thụ. Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xung quanh thì đứa trẻ
phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trong môi trường
nhất định
Việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ khi bắt đầu tới trường, lớp là vô cùng quan
trọng bởi ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng,
triển ngôn ngữ tiếng Việt mạch lạc càng sớm thì trẻ mới tiếp nhận tri thức một cách
tốt nhất và đảm bảo nhất.
Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa là yêu
cầu cấp thiết đặt cho giáo dục nhà trường nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện sứng tầm với quy mô phát triển của thành phố Lai Châu. Tôi nhận thấy cần
có những biện pháp bổ xung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ 3 - 4 tuổi.
Với lý do trên tôi chọn đề tài "Một số biện pháp phát triển vốn tiếng Việt cho
trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng".
Đây cũng là một sáng kiến tôi đưa ra còn mới với nhà trường song tôi mong rằng sẽ
được áp dụng trong thời gian tới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi lớp mẫu giáo bé trung tâm
-Trường Mầm non Nậm Loỏng
Đối tượng nghiên cứu “Một số biện pháp phát triển vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 4
tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng".
3.Mục đích nghiên cứu
Tôi quyết định lựa chọn đề tài này với mục đích tìm hiểu thực trạng của việc
phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi và áp dụng các giải pháp để nâng
cao vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi dân tộc thiểu số tại nhà trường. Qua đó vận
dụng những kiến thức có sẵn và qua học hỏi để nghiên cứu và áp dụng các giải
pháp vào chăm sóc giáo dục phù hợp giúp trẻ phát triển một cách hài hoà và bắt kịp
với chất lượng giáo dục chung trong toàn Thành phố.
2
Vận dụng những kiến thức kinh nghiệm đưa ra một số giải pháp giúp trẻ được
phát triển ngôn ngữ tiếng Việt một cách đầy đủ và mạch lạc nhất ngay khi trẻ bước
chân vào trường Mầm non và trẻ tự tin bày tỏ cảm súc, suy nghĩ của mình với
những người xunh quanh một cách tốt nhất. Tôi mong rằng trẻ thành thạo tiếng
Việt sớm hơn và từ đó trẻ tiếp nhận tri thức một cách dễ ràng và đầy đủ nhất và đó
song với việc học tri thức và bước đầu trẻ phải tập làm chủ ngôn ngữ thứ 2 để đảm
bảo làm chủ tri thức, tư duy của mình…
Ngôn ngữ có thể chuyển tải được tất cả các nội dung thông tin khác nhau mà
người nói có nhu cầu ( từ việc bộc lộ cảm xúc, thái độ… của người nói đến người
nghe; đến những nhu cầu về trao đổi kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên hoặc
truyền bá tri thức…. Mà trong đó ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của người dân tộc thiểu số
chỉ phục vụ được một phần nhỏ số người có nhu cầu trong cộng đồng. Chỉ có ngôn
ngữ tiếng Việt mới giúp họ hoà chung vào sự phát triển của xã hội.
1.2. Các văn bản chỉ đạo:
Căn cứ công văn số: 947/SGDĐT-CNTT ngày 23/9/2013 của Sở Giáo dục và
Đào tạo Lai Châu và công văn số: Số: 521/PGD&ĐT-TĐKTngày 02/10/2013 của
Phòng Giáo dục và Đào tạo Thị xã Lai Châu về việc hướng dẫn công tác nghiên
cứu khoa học và sáng kiến kinh nghiệm năm học 2013-2014;
Căn cứ vào Kế hoạch chỉ đạo chuyên môn trường mầm non Nậm Loỏng về
việc nghiên cứu thực trạng của nhà trường và đưa ra các giải pháp, nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ từ 3 –4 tuổi trong nhà trường.
Chương 2
Thực trạng của một số biện " Một số biện pháp phát triển vốn tiếng Việt
cho trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng".
2.1 Vài nét về địa bàn thực hiện sáng kiến.
4
Trường nằm trong Xã Nậm Loỏng là một xã đặc biệt khó khăn của Thành phố,
trong đó dân tộc chiếm chủ yếu trên 90%. Tập quán sinh hoạt còn tương đối lạc
hậu. Nhân dân sinh sống chủ yếu là nghề nông nghiệp. Là xã đặc biệt khó khăn trên
địa bàn thị xã nên thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp. Hộ đói nghèo vẫn
còn cao địa bàn cư trú nằm rải rác, đa số nhân dân trong xã chưa thông thạo tiếng
phổ thông , cơ sở hạ tầng tại các thôn bản tuy đã được quan tâm đầu tư song vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt của người dân.
Trẻ trong lớp có cùng độ tuổi, sĩ số học sinh đảm bảo phù hợp với điều kiện
của lớp và nhà trường, tỉ lệ chuyên cần của trẻ cao.
Trường được xây dựng ở gần khu dân cư thuận tiện cho việc đi học của học sinh
Trường lớp khang trang, sạch sẽ có đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị cho trẻ
hoạt động trong lớp và ngoài trời.
5
* Khó khăn:
- 100% học sinh trong lớplà dân tộc Mông nên việc giao tiếp giữa cô và trẻ
còn bất đồng về ngôn ngữ.
- Có 60% trẻ mới bắt đầu ra lớp và cũng là lúc trẻ bắt đầu làm quen với ngôn
ngữ tiếng Việt.
- Nhiều phụ huynh chưa thành thạo tiếng phổ thông và chưa chú trọng vào
việc dạy tiếng phổ thông cho trẻ tại gia đình.
- Đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ chưa phong
phú đa dạng, chưa có sự đầu tư và chưa có sự sáng tạo.
- Đối với trẻ mới ra lớp ngôn ngữ nói tiếng việt của trẻ còn hạn chế trẻ chậm
chạm, nhút nhát, chưa tự tin.
- Cô giáo còn hạn chế về tiếng Mông nên việc phối kết hợp giữa cô và trẻ còn
chưa đạt hiệu quả cao.
Kết quả khảo sát thực trạng trẻ đầu năm học 2013 – 2014:
* Bảng1: Khảo sát ngôn ngữ tiếng việt của trẻ đầu năm học
Nội dung
Kết quả khảo sát
Trẻ nói thành thạo tiếng Việt
0/23 = 0%
Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động học và
Tổng
số
Khá
Trung bình
Yếu
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
lượng
(%)
34,8
Ngôn ngữ
23
0
0
3
13
5
21,7
15
65,2
Nhận thức
23
0
0
34.8
Tình cảm xã
hội
23
1
4,3
6
26,1
7
30,4
9
39,1
2.3. Nguyên nhân
Với đặc thù trường có 100% trẻ học là dân tộc thiểu số, 60% trẻ mới bắt đầu
ra lớp trẻ bắt đầu học và làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt.
Vì Tiếng Việt không phải tiếng mẹ đẻ nên việc học tập và trao đổi trò chuyện
với cô và bạn bè còn nhiều hạn chế.
- Các tài liệu giáo dục chưa thật sự phù hợp với đối tượng, chưa có tài liệu
dành riêng giáo viên dạy vùng Dân tộc. Trong khi đó giáo viên lại chưa được trang
kiến thức bằng tiếng Việt. Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều thật
khó đối với trẻ. Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển khả năng
nghe hiểu lời nói của cô.
Với mục đích trẻ trẻ hiểu ghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt. Yêu cầu
đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà không
hiểu nghĩa. Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành động với đồ
vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu nhất giúp trẻ một
phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề.
Ví dụ: Trẻ làm quen với tên gọi các bạn: đây là bạn Mai chi, đây là bạn Mai
Trang… cô dắt trẻ lên và giới thiệu cho các bạn nghe, lần lượt các bạn trong lớp. Cho
trẻ làm quen với tên gọi và đồ dùng đồ chơi ở các góc trong lớp học: Đây là viên gạch,
đây là quả táo…Khi cô giới thiệu cho trẻ nghe cô hỏi lại để kiểm tra đối với các trẻ.
Cô giới thiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể : đứng lên, ngồi xuống, đi ra
ngoài… kết hợp sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ và câu, nhất là những
từ trừu tượng, khó hiểu. Tôi thường xuyên dùng những từ ngữ nhẹ nhàng để khen ngợi
trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe cô nói.
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗi
được vấn đề hơn:
Vi dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là con
gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó trẻ tự trả
lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật. Vì vậy khi cho trẻ tiếp súc đối
tượng tôi thường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại quả, các đồ chơi...
Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn, dễ
hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ:
Ví dụ: Khi trẻ đến lớp cô nhắc “ Chào cô nào” và cô hướng dẫn cho trẻ thực hiện
nói “ Cháu chào cô” và các khái niệm, các từ chỉ tên người, đồ vật ví dụ: Tên bạn,
quần áo, bát đĩa, tên đồ dùng đồ chơi trong lớp, một số hoạt động hàng ngày trẻ
phải thực hiện ví dụ: con hát nào, con hãy đọc thơ, con thực hiện cùng cô nào…
Tôi luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh
họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựa chọn cầu từ
Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp, chính
xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm. Đặc biệt khi lựa chọn đề tài này
cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo tính hiệu quả
phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền.
+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúp
trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không gượng ép.
Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng trong học
tập và sử dụng tiếng Việt. Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu
quả học tập tiếng Việt cho trẻ em. Nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng
học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để tạo các
tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm.
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
-Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to. Để 3 cái hộp
rỗng vào. Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác. Cô nói với Trẻ:
“Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé. Để cho tàu ra khơi, cần có gió đẩy thuyền
đi. Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!”. Điều quan trọng là theo dõi việc thở ra và
khuyến khích trẻ thực hiện theo yêu cầu của cô.Để kích thích khẩu ngữ của bé, cô
đặt những câu hỏi: “Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”, “Con thấy mặt nước
trông như thế nào?”…cô cho trẻ chơi theo nhóm nhỏ các trẻ khác quan sát và nhận
9
xét về các con thuyền, nhận xét cách chơi của các bạn cùng với những lời tán
thưởng của cô trẻ rất thích thú cổ vũ cho những con thuyền, đây cũng là một hình
thức trẻ được chơi một cách thoải mái nhất nhưng trẻ lại nhớ lâu những từ mới như
“con thuyền”, “mặt nước”, “thổi mạnh”, “thuyền đi nhanh, thuyền đi chậm”… bởi
qua lúc chơi trẻ hò reo cổ vũ theo cô và các bạn.
- Trò chơi dàn nhạc đặc biệt: Cần 6 cái hộp và 3 kiểu vật liệu hạt rời (ngũ cốc,
đường, bột, hạt cườm…). Điều quan trọng là đổ từng đôi hộp số lượng vật liệu như
này được áp dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều hình thức khác nhau. Với phương
pháp này, người học được sử dụng tích cực các giác quan và vận động của cơ thể
trong suốt quá trình tham gia vào hoạt động học tập và thực hành ngôn ngữ mới.
Các kỹ năng nghe - quan sát - phản hồi (bằng hành động của cơ thể) được sử dụng
hiệu quả trong quá trình học tập. Phương pháp này giúp giáo viên và trẻ có thể áp
10
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động dạy và học để đạt được những giờ
học thực sự tích cực. Sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, bắt mắt đó cũng là cách làm
trẻ tò mò xem đó là gì, thích được tham gia vào hoạt động với đồ dùng đó.
Ví dụ: Các giờ hoạt động khám phá môi trường, ngoài việc cung cấp kiến thức
cho trẻ cô cũng đồng thời tăng cường tiếng Việt cho trẻ một cách rất hiệu quả.
Thông qua những hình ảnh, mô hình, vật thật trẻ được sờ, được nếm, được ngửi,
được nghe cùng với những từ ngữ có chọn lọc cô cung cấp kiến thức và từ mới cho
trẻ : Với hoạt động làm quen các loại quả trẻ biết tên quả, quả có màu gì, ăn có vị
gì, con thích quả gì. Cô nhắc lại những đặc điểm rồi cho trẻ nhắc lại cứ như vậy trẻ
học từ mới một cách tự nhiên theo nhiều hướng khác nhau. Với chương trình giáo
dục mầm non thực hiện chủ đề nhánh theo tuần vậy nên trong tuần trẻ được tiếp súc
làm quen nhiều loại quả với nhiều hình thức khác nhau như: xem tranh, xem hình
ảnh trên video, quả thật và qua sự miêu tả của cô…. ở các hoạt động vui chơi và
hoạt động khác nữa. Trẻ dần khắc sâu ngôn ngữ tiếng Việt cùng với tư duy của mình.
Giáo viên sử dụng các đồ vật/đồ chơi gần gũi, quen thuộc với trẻ để dạy tiếng
Việt cho trẻ. Với trẻ lớp bé, trẻ mới ra lớp nên lựa chọn các vật thật hoặc các đồ
dùng, đồ chơi sẵn có trong lớp và trẻ thường được chơi và sử dụng để cho trẻ học.
Tôi không chụp ảnh các đồ vật sẵn có trong lớp, những đồ vật tôi có thể chuẩn bị
được để đưa vào máy tính và trình chiếu cho trẻ quan sát mà sử dụng các đồ vật/đồ
chơi thật giúp trẻ vừa được học từ, học câu và vừa được thao tác với đồ vật/đồ chơi
có kết hợp sử dụng ngôn ngữ, ngôn ngữ thứ hai sẽ trở nên gần gũi hơn với đời sống
hàng ngày của trẻ.
Ví dụ: Sau khi trẻ nặn được một quả cam cô nói với trẻ rằng “ Con nặn đẹp rồi
con hãy vuốt cho quả mịn hơn nữa đi” hoặc khi trẻ đọc thơ cô khen trẻ và khuyết
khích các bạn động viên trẻ. Cô chú ý động viên khen ngợi trẻ kịp thời và hướng
cho trẻ đến với sự chính xác của vần đề.
Ví dụ: Khi cô hỏi trẻ màu sắc của bông hoa hồng màu đỏ “ Bông hoa có màu
gì?” nếu trẻ trả lời màu xanh tôi thường cho trẻ khác nhận xét và cô khẳng định lại
và khuyến khích trẻ trả lời lại cho thật chính xác và cũng không quên động viên trẻ
tạo tâm lý thoải mãi ngay cả khi trẻ biết mình trả lời sai.
Tuy nhiên, cần phải chọn thời gian thích hợp để trẻ học làm những việc này.
Thời gian vui chơi, hoạt động khám phá là thích hợp nhất vì trẻ có thể làm từ từ và
ít căng thẳng hơn.
Ví dụ: Các hoạt động: Ngoài trời, hoạt động góc, các hoạt động khám phá hay
các tiết biểu diễn văn nghệ…
Sự tự tin ở trẻ sẽ tăng lên mỗi khi chúng học được một kĩ năng mới hay vượt
qua một mốc quan trọng nào đó. Vì vậy cô giáo thường xuyên có thể giúp trẻ gây
dựng sự tự tin bằng cách tạo cho chúng thật nhiều cơ hội để rèn luyện và tập thành
thục các kĩ năng mới. Tôi để cho trẻ tự do thể hiện và luôn ở bên để động viên tinh
thần của chúng, nhắc chúng tiếp tục cố gắng. Luôn tỏ ra thích thú và vui mừng mỗi
khi trẻ thể hiện là chúng đã tập thành thạo một kĩ năng mới rồi . Khen ngợi trẻ mỗi
khi trẻ đạt được một mục tiêu nào đó hoặc nỗ lực làm việc gì đó.
Ví dụ: Trong các hoạt động vui chơi hay ôn luyện tôi thường mời cá nhân trẻ
lên giới thiệu về bản thân và chủ đề trẻ đang học, mời trẻ lên đọc thơ hay ca hát,
mở các bản nhạc vui nhộn cho trẻ cùng vui nhảy múa theo như các Video erobic
mầm non…
Trẻ thường xuyên thực hành sẽ trở nên tiến bộ rất nhiều vì vậy tôi thường
xuyên chao đổi với trẻ nhằm giúp trẻ được trò chuyện với cô ở mọi lúc mọi nơi.
Vi dụ: Giờ đón trẻ cô trò chuyện với trẻ “ Ai đưa con đi học”, “ Sáng nay
con ăn gì”, “ Ai buộc tóc cho con đẹp thế”…Giờ trả trẻ “ Khi về nhà gặp bố mẹ con
sẽ làm gì?”, “ Con chào bà như thế nào, con chào ông như thế nào?....”
Cô luôn phải là tấm gương cho trẻ soi vào, ở đây mỗi động tác, lời nói cử chỉ
trèo, chạy nhảy vui chơi cùng cô và các bạn… trẻ được reo vui hò hét một cách
thoải mái. Tôi luôn bày các trò chơi cho trẻ cùng tham gia bằng những hình thức
đơn giản nhưng trẻ lại được chơi và trải nghiệm những từ ngữ tiếng Việt mới.
Ví dụ: Với trò các trò chơi dấu dép cô cho trẻ đi tìm và chỉ hoặc nói địa điểm
cô dấu “ dép cô dấu ở đâu nhỉ?” “ Cô dấu dép ở gốc cây đào” … đây là cách hướng
dẫn trẻ chơi mà học từ mới trẻ cũng hiểu luôn ý nghĩa của những từ mới học và chỉ
những lần sau trẻ tự tìm và nói địa điểm cô dấu một cách rõ dàng và tương đối đầy đủ.
- Giúp trẻ biết trả lời các câu hỏi :
Giúp trẻ phát triển khả năng hình dung và tưởng tượng thông qua các câu hỏi
gợi ý : Cái gì, ở đâu, thế nào, để làm gì, khi nào …
Nếu trẻ trả lời đúng phải khen ngợi, động viên – Nếu trẻ trả lời sai thì nhẹ
nhàng nhắc trẻ nghe thêm ý kiến của các bạn và cô nhắc lại câu hỏi và khuyến
khích bạn khác trả lời và cho trẻ yếu nhắc lại .
Tôi chú trọng đến sự phát triển của cá nhân, thường chú ý đến những trẻ yếu
về ngôn ngữ rụt rè trong lớp đây cũng là những đối tượng được ưu tiên.
- Xây dựng mối quan hệ tốt và giúp trẻ biết chơi đùa với bạn bè
13
Chơi đùa là một hoạt động rất quan trọng, qua các trò chơi trẻ có thể thiết lập
mối quan hệ tốt với cô giáo và bạn bè. Ngay cả trong các hoạt động hàng ngày
cũng đưa vào những câu nói và ý tưởng như một trò chơi
- Gọi tên sự vật nhiều lần.
Bất kể lúc nào khi cho con ăn, khi rửa chân tay, tôi gọi tên những đồ vật xung
quanh và chỉ cho trẻ thấy. “Đây là tivi”, “đây là chân cô”, “đây là chân con”… Trò
chuyện với trẻ bằng những câu ngắn và đơn giản: “Các con đói rồi hả”, “cùng đi
rửa tay cô lấy cơm cho ăn nhé”… Điều này giúp trẻ nhận thức được đồ vật, xây
dựng vốn từ và nhận biết mối liên hệ giữa hành động và lời nói.
- Dạy trẻ cách nhìn, nghe và làm theo
Nhìn thẳng vào mắt trẻ để hướng dẫn trẻ nhìn vào vật rồi nhìn miệng cô để
nhiều hơn. Cho nên trẻ trong lớp tôi có nhiều cháu hiện giờ nói tiếng Việt rất thành
14
thạo loát ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói,
không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao
lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh.
3.2. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Với sự cố gắng của bản thân cùng với sự giúp đỡ của lãnh đạo và đồng nghệp
trong khi thực hiện đề tài bản thân tôi đã thu được những kết quả như sau:
* Về bản thân:
- Qua quá trình nghiên cứu nắm bắt đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 3 – 4 tuổi tại
vùng dân tộc thiểu số.
- Đưa ra được hiều hình thức giảng dạy linh hoạt nhằm mở rộng tiếng Việt
cho trẻ. Bản thân có thêm những kinh nghiệm trong giảng dạy với đối tượng là trẻ
dân tộc thiểu số, luôn được ban giám hiệu nhà trường và đồng nghiệp đánh giá cao
trong việc sáng tạo linh hoạt việc sử dụng đồ dùng trực quan trong giảng dạy.
*. Đối với trẻ.
- Chất lượng ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ tăng lên rõ rệ, chất lượng các lĩnh
vực phát triển giáo dục cũng tăng cao thể hiện ở các bảng sau:
15
Bảng 3: So sánh chất lượng ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ trước và sau khi áp dụng đề tài:
Nội dung
Kết quả đầu năm
Trẻ nói thành thạo tiếng Việt
0/23 = 0%
Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động học và trò chuyện cùng cô.
Tình cảm xã
hội
Khá
Trung bình
Yếu
Tổng số
SL
Tỉ lệ (%)
SL
Tỉ lệ (%)
SL
Tỉ lệ (%)
SL
Tỉ lệ (%)
Trước khi thực hiện
Sau khi thực hiện
Trước khi thực hiện
0
3
13
5
21,7
15
65,2
Sau khi thực hiện
23
4
17,4
5
21,7
10
43,5
17,4
5
21,7
10
43,5
4
17,4
Trước khi thực hiện
23
0
0
5
21,7
10
43,5
4,3
6
26,1
7
30,4
9
39,1
Sau khi thực hiện
23
2
8,7
7
30,4
11
47,8
pháp trong quá trình giảng dạy và cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ đã mang lại kết
quả tương đối khả quan. Trẻ được học ngôn ngữ thứ hai một cách nhẹ nhàng đặc
biệt là những giờ học lại rất gần gũi với trẻ. Giúp trẻ nắm bắt kiến thức một cách tốt
hơn, trẻ hăng hái tham gia vào các hoạt động học và vui chơi, trẻ tự tin hơn khi
chao đổi trò chuyện cùng cô bằng tiếng Việt
Trẻ có nhiều cơ hội được học tiếng Việt với nhiều hình thức và tình huống
khác nhau góp phần phát triển ngôn ngữ thứ hai, hình thành sự tự tin, tính sáng tạo,
nhân cách cho trẻ.
Giúp giáo viên biết lựa chọn những biện pháp để tăng cường tiếng Việt cho
trẻ một cách hiệu quả nhất.
3.3.3. Tính khả thi và khả năng ứng dụng và triển khai của sáng kiến:
- Đề tài đã đượcnghiên cứu và ứng dụng và có hiệu quả tại lớp mẫu giáo bé 3
– 4 tuổi trong Trường mầm non Nậm loỏng trong năm học 2013 – 2014.
- Có khả năng ứng dụng đối với tất cả các lớp mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi
trong nhà trường.
PHẦN KẾT LUẬN
1: Kết luận:
Bằng những hiểu biết về thực trạng vốn tiếng Việt của trẻ 3 – 4 tuổi
trong nhà trường và của lớp học mà tôi lựa chọn đề tài "Một số biện pháp phát
triển vốn tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm non Nậm Loỏng"
Qua nghiên cứu đã đưa ra những biện pháp tăng cường vốn tiếng Việt cho trẻ
phù hợp hợp với thực trạng của đề tài, đem lại kết quả tương đối cao so với mục đích
17
yêu cầu đề ra: Chú trọng các giải pháp dạy trẻ nghe hiểu câu từ và nói chính xác câu từ
đó, sử dụng đồ dùng trực quan sinh động phù hợp có hiệu quả, tạo môi trường học
ngôn ngữ phong phú cho trẻ. Đưa ra được giải pháp hình thành tính tự tin cho trẻ trong
giao tiếp, đây cũng là một điểm mới trong việc áp dụng để phát triển ngôn ngữ tiếng
Việt cho trẻ trong nhà trường.
1
2
3
4
5
6
TÊN TÀI LIỆU
TÁC GIẢ ( NHÀ XUẤT BẢN)
Lý luận và phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ em
Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ của
trẻ từ 0 – 6 tuổi
Nghiên cứu khoa học công nghệ giáo dục
mầm non
Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho
trẻ mầm non
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên
Cổng thông tin điện tử:
Nhà xuất bản Đại học Huế
năm 2013
Đại học Sư phạm Hà Nội
2008
Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà xuất bản Đại học quốc
gia Hà Nội.
- mamnon.com.vn
tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở lớp mẫu giáo bé trường mầm
non Nậm Loỏng".
1.1 Các định nghĩa, khái niệm.
3
3
20