GIÁ TRỊ CỦA CHỤP CLVT 64 DÃY TRONG CHẨN ĐOÁN BẤT THƢỜNG GIẢI
PHẪU CẦU CƠ ĐỘNG MẠCH VÀNH
Lê Anh Đức, BM CĐHA, Đại học Y Dược Thái Nguyên.
Nguyễn Quốc Dũng, Trịnh Tú Tâm, Nguyễn Hoàng Thịnh, Khoa CĐHA, BV Hữu Nghị H Nội
Abstract:
Purpose.This study aimed to assess the prevalence and characteristics of myocardial bridging in
patients who underwent multislice computed tomography coronary angiography.
Materials and methods. A total of 118 patients ( mean age 63) we consecutively examined with
64-slice MSCT-CA from 8/2011 to 7/2012 in Frienship Hospital for suspected.
Result. Myocardial bridging was present in 118 patients ( mean age 63) Bridges were variable
length ( <1cm 35%; 1-2cm 53%; >2cm 12%) and depth (superficial 43%, intramyocardial 57%)
and frequently localized in ??? segment or the ??? artery (??%).
Conclusion. MSCT-CA is a reliable, noninvasive method that is able to depict myocardial
bridging.
Tóm tắt:
Mục tiêu.Đánh giá tỉ lệ cầu cơ mạch vành và một số đặc điểm của chúng trên các bệnh nhân
được chụp CLVT 64 dãy.
Đối tượng và phương pháp. Đánh giá dựa trên 118 BN được chụp CLVT mạch vành tại BV Hữu
Nghị từ 8/2011 đến 7/2012.
Kết quả. Cầu cơ mạch vành xuất hiện trên 118 bệnh nhân bất thường giải phẫu mạch vành (dộ
tuổi trung bình = 63), độ dài của cầu cơ (<1cm 35%; 1-2cm 53%; >2cm 12%) và độ sâu (nông
43%, sâu 57%).
Kết luận.CLVT 64 dãy là phương pháp đánh giá không xâm lấn và có hiệu quả trong phát hiện
tổn thương cầu cơ mạch vành.
1.Đặt vấn đề
Cầu cơ là dị dạng bẩm sinh của động mạch vành (ĐMV) trong đó ĐMV không đi ở bề
mặt cơ tim mà đi xuyên ở phía dưới một lớp cơ, lớp cơ này được gọi là cầu cơ. Đặc điểm của cầu
cơ ĐMV là gây chèn ép ĐMV tương ứng trong thì tâm thu và có thể gây ra các triệu chứng như
đau thắt ngực, block nhĩ thất kịch phát, thiếu máu cơ tim gắng sức và đột tử do ngừng tim. Trong
đa số các trường hợp, bình thường cầu cơ không có triệu chứng. [1]
Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán cầu cơ là chụp mạch vành ( conventional coronary
Các mảng xơ vữa ở các thân chính như thân chung vành trái (LM), LAD, đông mạch mũ
(LCX).. cũng được ghi nhận nếu có.
Số liệu thu được được xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS.
3. Kết quả
Cầu cơ mạch vành xuất hiện trên 118 bệnh nhân bất thường giải phẫu mạch vành (dộ tuổi
trung bình = 63), độ dài của cầu cơ (<1cm 35%; 1-2cm 53%; >2cm 12%) và độ sâu (nông 43%,
sâu 57%).
Trong tổng số 118 BN có bất thường cầu cơ ĐM thì chỉ gặp bất thường trên ĐM gian thất
trước còn các đoạn và các nhánh khác không gặp.
Bảng 1. Vị trí bất thường cầu cơ
n
Tỷ lệ (%)
Đoạn gần
05
4.24
Đoạn giữa
90
76.27
Đoạn xa
23
điểm của ĐMV có cầu cơ là bị cơ tim đè ép trong thì tâm thu, tình trạng này thường không có
triệu chứng. Cầu cơ ĐMV thường xuất hiện ở đoạn giữa của LAD.Các nhánh xiên và nhánh bên
có thể liên quan trong 18-40% số trường hợp.Ferreira và cs chia ra làm 2 loại cầu cơ: nằm ở
nông (75%) và ở trong cơ tim (25%). Với cầu cơ nông ( hay cầu cơ không hoàn toàn), mạch
vành chỉ bị bao bọc không hoàn toàn bởi các sợi cơ tim, phần còn lại là một lớp mỏng các cấu
trúc liên kết như mô đệm, thần kinh, mỡ..
Có sự khác biệt lớn trong tỉ lệ cầu cơ được báo cáo giữa các nghiên cứu trên CCA và các nghiên
cứu trên các phương tiện chẩn đoán mới.Sự khác biệt này có thể liên quan tới quá trình chọn lựa
và chuẩn bị bệnh nhân để đánh giá. Tỉ lệ thấp trong chụp mạch có thể do các trường hợp cầu cơ
ở nông chỉ gây đè ép nhẹ mạch máu và bị bỏ qua trong chụp mạch. Ngoài ra, sự hiện diện của
hẹp mạch vành ở đầu gần có thể gây cản trở cho việc quan sát mạch máu ở đoạn sau chỗ hẹp
trên chụp mạch.
Cầu cơ có thể gây ra đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, rối loạn chức năng thất trái, block nhĩ thất
kịch phát, thiếu máu cơ tim gắng sức và đột tử do ngừng tim, tuy nhiên đa số các trường hợp là
không có triệu chứng. Bệnh nhân có thể xuất hiện cơn đau ngực không ổn định hoặc đau thắt
ngực, tuy nhiên các triệu chứng này thường không tương đương với chiều dài, độ sâu cũng như
mức độ bị ép của cầu cơ. Các cầu cơ không hoàn toàn hoặc cầu cơ ngắn thường không cần can
thiệp mạch. Các lựa chọn điều trị cho cầu cơ bao gồn: dùng thuốc (chẹn β, chẹn kênh Ca) hoặc
can thiệp mạch ( đặt stent, phẫu thuật bypass hoặc cắt cơ tim), việc lựa chọn phụ thuộc vào chiều
dài và độ sâu của cầu cơ.
Cầu cơ được coi như là một trong những nguyên nhân chính gây nhồi máu cơ tim ở các bệnh
nhân không có xơ vữa mạch vành. Tuy nhiên cần lưu ý rằng chỉ có 15% lưu lượng mạch vành
được lưu thông trong thì tâm thu. Thiếu máu cơ tim có thể là kết quả của sự kết hợp giữa nhịp
tim nhanh (do đó làm thay đổi lượng máu tới ĐMV trong thì tâm trương), co thắt và xoắn mạch
vành trong thì tâm thu (dẫn tới tổn thương tế bào nội mô lòng mạch và hoạt hóa tiểu cầu tạo
huyết khối). Đoạn gần của ĐMV có cầu cơ thường hình thành mảng xơ vữa, tuy nhiên hiện
tượng này không thấy ở các trường hợp ĐMV nằm sâu trong cơ tim, điều này có thể do các
ĐMV nằm sâu trong cơ tim không có các tế bào dạng bọt (foam cell) và các tế bào cơ trơn biến
đổi (modified smooth muscle cell). Tính chất huyết động học có thể giải thích cho quá trình hình
thành mảng xơ vữa này. Ở đầu gần của cầu cơ các tế bào nội mô mạch máu thường là các tế bào
cơ nói riêng, cũng như các bệnh lý liên quan đến mảng xơ vữa kèm theo từ đó có thể hỗ trợ lâm
sàng trong lập kế hoạch điều trị và can thiệp nếu cần.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Xuân Hợp (1978), Giải phẫu ngực, nhà xuất bản y học, Hà nội.
2.
Phạm Ngọc Hoa, Lê Văn Phƣớc (2008), CT ngực, Nhà xuất bản Y học, TPHCM
3.
Phạm Gia Khải và cộng sự (2000): “Bước đầu đánh giá kết quả phương pháp nong
ĐMV bằng bóng và đặt khung giá đỡ Stent trong điều trị ĐMV cho 131 bệnh nhân tại
viện tim mạch quốc gia”, Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa học(138-149)
4.
Hoàng Thị Vân Hoa (2008) đánh giá điểm vôi hoá và xơ vữa ĐMV trên chụp cắt lớp
vi tính 64 dãy tai Bệnh viện Bạch mai - luận văn tốt nghiệp bác sĩ nôi trú bệnh viện –
chuyên nghành chẩn đoán hình ảnh 21-24.
5.
Hội Tim Mạch Học Việt Nam (2008) “Tình hình bệnh tim mạch hiện nay”, Đại hội
Tim mạch Đông nam Á lần thứ17
6. S M KO,MD and K S KIM,MD (2007), Multidetector-row CT coronary angiographic
finding of myocar-dial bridging, The British Journal of Radiology, 80(2007), e196–
e200.
7. Tuncay Hazirolan, Murat Canyigit, Musturay Karcaaltincaba, Merve Gulbiz Dagoglu,
Deniz Akata, Kudret Aytemir, Aytekin Besim, Myocardial Bridging on MDCT,
AJR2007; 188:1074–1080 0361–803X/07/1884–1074