Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Kinh Nghiệm Khi Dạy Phần “Thực Hành Luyện Tập” Trong Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 1 Trường Tiểu Học Thị Trấn Huyện Phù Yên Tỉnh Sơn La - Pdf 40

LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm“Một số kinh nghiệm
khi dạy phần “thực hành luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1
trường tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. ” Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Tiểu học Thị Trấn Phù Yên, tập thể cán bộ giáo
viên và các em học sinh trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm
này.
Trong thời gian ngắn và phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp, mặc dù đã có nhiều
cố gắng song sáng kiến kinh nghiệm không tránh khỏi thiếu sót. Tôi mong nhận được
những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn, bổ sung của các thầy cô giáo, của các bạn đồng
nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm ngày một hoàn thiện và đưa vào ứng dụng đạt kết
quả cao ở trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La cũng như một số
trường Tiểu học khác trên địa bàn huyện Phù Yên.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Phù Yên, ngày 01 tháng 01 năm 2013
Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Hiển

1


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

Lời cảm ơn

1

7-Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm

8

Phần nội dung
Chương I: Cơ sở lý luận của quá trình dạy thực hành luyện tập
trong trường Tiểu học.

10

Chương II: Cơ sở thực tiễn việc dạy thực hành luyện tập cho
học sinh lớp 1.

12

2.1 Vài nét về địa phương và nhà trường

12

2.1.1 Đặc điểm tình hình địa phương

12

2.1.2 Đặc điểm tình hình nhà trường

12

2.2 Thực trạng việc dạy thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1.

12


3.2.1 Biện pháp 1: Để dạy học có hiệu quả phần thực hành luyện
tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trước hết giáo viên phải nắm
vững chương trình.

16

3.2.2 Biện pháp 2: Vận dụng phương pháp dạy học thực hành luyện
tập trong dạy toán .

19

3.2.3 Biện pháp 3: Giúp học sinh tự thực hành luyện tập theo khả
năng của học sinh.

22

3.2.4 Biện pháp 4: Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối
tượng học sinh.

23

3.2.5 Biện pháp 5:Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực
hành luyện tập.

23

3.2.6 Biện pháp 6: Kết hợp với phụ huynh hướng dẫn cách học
toán cho học sinh .



PHẦN MỞ ĐẦU
1 – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

4


Như chúng ta đã biết giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên.
Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong
nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học .Các kiến thức kĩ năng của môn
toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho người lao
động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên. Môn toán
giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của
thế giới hiện thực .Nhờ đó mà học sinh có nhận thức cơ bản về thế giới xung
quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống. Môn toán góp phần rất
quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận,
phương pháp giải quyết vấn đề .Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy
nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất
cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận , có ý chí vượt
khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.
Đối với môn toán lớp 1 mở đường cho trẻ em đi vào thế giới kỳ diệu của Toán
học rồi mai đây các em lớn nên nhiều em trở thành vĩ nhân, trở thành anh hùng,
nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ… trở thành những người lao động sáng tạo trên
mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống. Trên tay có máy tính sách tay trong túi có máy
tính bỏ túi … nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến
trường học đếm và tập viết các số 1, 2, 3 … học các phép tính cộng, trừ. Vì những
con số những phép tính đơn giản ấy cần thiết cho suốt cả đời người. Vậy là những
người trực tiếp hướng dẫn các em học những kiến thức đầu tiên trong chương trình

Yên tỉnh Sơn La.
6


3 - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung chủ yếu vào nội dung và các biện
pháp nâng cao chất lượng dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh
lớp 1 trường Tiểu học Thị trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La.
4 – NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Trong phạm vi đề tài này tôi đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề về dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho
học sinh lớp 1.
- Nghiên cứu thực trạng dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh
lớp 1 của nhà trường trong những năm vừa qua.
- Đề xuất những biện pháp dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học
sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La.
5 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
*Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến
dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học.
*Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm dạy thực hành
luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 của bản thân cũng như của bạn bè
đồng nghiệp.

7


- Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng việc dạy thực hành luyện tập
trong môn toán cho học sinh lớp 1 trong nhà trường trên cơ sở đó tổng hợp phân
tích, bổ xung kinh nghiệm cho bản thân.



CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH DẠY THỰC HÀNH LUYỆN TẬP
TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
Đảng và nhà nước đã chỉ đạo đổi mới giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc
học. Bởi vì đổi mới phương pháp dạy học khắc phục được lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, đáp ứng nhu cầu phát
triển của nền giáo dục nước ta trong thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất
nước. Đặc biệt việc thay đổi chương trình đối với lớp 1. Môn toán là một trong số
môn cơ bản. Chương trình môn toán Tiểu học kế thừa và phát triển những thành
tựu về dạy họcc toán lớp 1 ở nước ta, khắc phục một số tồn tại của dạy học toán
lớp 1 trong giai đoạn vừa qua. Thực hiện những đổi mới về giảng dạy toán ở lớp 1
nói riêng, ở Tiểu học nói chung. Cung cấp những kiến thức và kĩ năng cơ bản thiết
thực có hệ thống từ đơn giản và cụ thể đến phức tạp và khái quát hơn. Hơn nữa
môn toán là một trong những môn học có điều kiện so sánh và đặt kế hoạch để
sớm đạt trình độ phát triển chung của giáo dục toán học ở khu vực và trên thế giới.
Đối với nội dung chương trình toán 1 với mục tiêu giúp học sinh:
- Đếm, đọc, viết các số đến 100.
- So sánh, sắp xếp các số theo thứ tự xác định.
- Sử dụng bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 để thực hành tính.
- Đo và ước lượng độ dài chủ yếu trong phạm vi 10cm, tên gọi các ngày
trong tuần lễ, xem giờ đúng trên mặt đồng hồ.
- Nhận dạng hình vuông, hình tròn, hình tam giác, đoạn thẳng, điểm, vẽ
đoạn thẳng có độ dài trong phạm vi 10cm.
- Phát hiện và giải quyết vấn đề:

10


+ Bằng nói và viết các phép tính thích hợp.

tích trên 90,87 ha với 7657 nhân khẩu, được chia thành 16 khối phố và có nhiều
dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Thái, Mường, Dao, H mông, Hoa, …). Kinh tế chủ
yếu của người dân 2/3 là công chức nhà nước, còn lại chủ yếu là kinh doanh, buôn
bán nhỏ lẻ và chăn nuôi nên thu nhập của người dân tương đối ổn định, tất cả các
yếu tố đó tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục của địa phương. Đa số người dân
quan tâm đến việc học hành của con cái.
2.1.2 Đặc điểm tình hình nhà trường
Trường tiểu học Thị trấn được tách từ trường phổ thông cơ sở Thị Trấn từ
năm 1998. Được sự quan tâm của các cấp các ngành nên nhà trường đã được trang
bị khá đầy đủ về cơ sở vật chất. Trường đạt chuẩn quốc gia năm 2001.
2.2 Thực trạng việc dạy thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1.
2.2.1 Thực trạng việc dạy học thực hành luyện tập
Để tìm hiểu thực trạng dạy học thực hành luyện tập đạt hiệu quả, ngay từ đầu
năm tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh và thống kê kết quả tiết dạy của
giáo viên trong khối như sau:
Bảng 1: Chất lượng học sinh của khối lớp 1
Tổng

Xếp loại học

Xếp loại học

Xếp loại học

Xếp loại học lực

số HS

lực giỏi



90 em

60,4%

lượng

25 em

16,8%

29em

lượng
19,5%

5 em

3,3%

Bảng 2: Kết quả cụ thể về giờ dạy giáo viên
Tổng số giáo

Tổng số giờ

viên KI

dạy môn Toán

5


13


Từ nhiều năm nay nhà trương luôn quan tâm đến việc đổi mới nội dung
chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học lớp 1, trường luôn chủ
động tổ chức các chuyên đề, các hội thảo về đổi mới nội dung chương trình, đổi
mới phương pháp dạy học trong đó môn Toán là một môn học chủ lực luôn luôn
được bàn tới. Chính vì vậy sáu giáo viên dạy khối lớp 1 của trường ngay trong năm
học đầu tiên của chương trình đổi mới đã tổ chức hướng dẫn học sinh tự phát hiện,
tự giải quyết vấn đề của bài, tự chiếm lĩnh kiến thức mới …(phương pháp dạy học
bài mới) rất hiệu quả. Thế nhưng một vài giáo viên khối 1 của trường sau khi tổ
chức hướng dãn để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thì thở phào coi như song
tiết dạy. Còn phần thực hành luyện tập chẳng qua chỉ để học sinh làm hết các bài
tập trong sách giáo khoa. Chính vì vậy khi ban giám hiệu dự giờ kết quả các tiết
dạy toán giáo viên trong khối chưa đạt hiệu quả cao và chất lượng học môn Toán
của học sinh trong năm học thấp.
2.3 Nguyên nhân thực trạng dạy học phần thực hành luyện tập ở trương
Tiểu học Thị Trấn.
Còn số ít giáo viên chưa có biện pháp để lập kế hoạch, hướng dẫn học sinh
hợp lý, chưa thường xuyên quan tâm đến việc học của học sinh.
Nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phần dạy thực hành luyện tập chưa
đúng.
Khi lập kế hoạch bài soạn, khi lên lớp giáo viên chỉ chú trọng đến việc dạy học
bài mới, chưa chú ý đến việc củng cố kiến thức cho học sinh (Phần: Thực hành
luyện tập)
Còn một số ít phụ huynh chưa quan tâm thực sự đến việc học tập của con em
mình mà còn phó thác cho nhà trường .

14

- Đại lượng và đo lường.

- Yếu tố hình học.
- Giải bài toán có lời văn.
* Các số đến 10:
16


Ngay tiết học đầu tiên cần giới thiệu về sách giáo khoa toán 1, bộ đồ dùng
toán 1 và nội dung môn toán 1. Nhiều hơn, ít hơn, giới thiệu, so sánh số lượng,
hình vuông, hình tròn, hình tam giác, nhận biết hình dạng và sử dụng các hình này
làm vật liệu để học số, phép tính.
* Dạy các số đến 100:
- Học sinh nhận ra số lượng, đọc tên viết số, cấu tạo thập phân của số trong
dãy số tự nhiên. Quy ước về đọc một vài số có hai chữ số, phân biệt số và chữ số.
- Về thứ tự: Dùng tia số ( Các vạch trên tia số ) điền số liền trước, số liền
sau, viết các số theo thứ tự.
* Cộng trừ ( không nhớ ) các số có 2 chữ số:
Nội dung có dạng:
14
+

17
-

3

3

30

- Ngày trong tuần, tuần lễ, giờ, làm quen với thời gian biểu hàng ngày.
* Yếu tố hình học:
- Giới thiệu hình vuông, hình tròn, hình tam giác, tên gọi và nhận dạng hình,
nhận dạng hình trong thực tế, thao tác ghép và phân tích hình ( trí tưởng tượng
không gian ) .
- Điểm, đoạn thẳng: Tên gọi, kí hiệu ( Chữ cái in ). Điểm ở trong, điểm ở
ngoài một hình. Thực hành đo độ dài đoạn thẳng, vẽ đoạn thẳng có độ dài cho
trước, thực hành vẽ hình theo mức độ sách giáo khoa.
* Giải toán có lời văn : ( Toán đơn về thêm, bớt ).
Học kì I : chưa giải toán có lời văn, chỉ phát hiện các vấn đề nhờ tranh vẽ.
Nêu phép tính thích hợp .
Học kì II : Bước đầu nhận biết bài toán rồi giải bài toán. Học sinh nêu bài
toán, nêu phép tính giải bài toán, trình bày bài giải đầy đủ.

18


3.2.2 Biện pháp 2: Vận dụng phương pháp dạy học thực hành luyện tập trong
dạy toán .
**Đối với dạy bài mới:
* Giáo viên cần giúp học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài
học.
Phần bài học thường được nêu thành cùng một loại tình huống có vấn đề.
Chẳng hạn, cùng nêu về hiện tượng có một số ( một, hai ) con ong bay khỏi chỗ
đậu của ba con ong.
Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát hình vẽ ( tranh, ảnh …) hoặc sử
dụng đồ dùng thích hợp để tự học sinh nêu ra vấn đề cần giải quyết.
Ví dụ: Có ba con ong đậu trên bông hoa, một con ong bay ra khỏi bông hoa,
còn mấy con ong đậu trên bông hoa ?
Học sinh tham gia giải quyết vấn đề: ( Ba con ong bớt một con ong còn hai

hình vẽ, mô hình, mô tả bằng lời ). Nêu được vấn đề cần giải quyết dưới dạng câu
hỏi, bài toán đến giải quyết vấn đề tìm ra kiến thức mới ( Số mới hoặc công thức
tính mới ).
Xây dựng rồi ghi nhớ và vận dụng kiến thức mới vào các tình huống khác
nhau trong thực hành sẽ chiếm lĩnh được kiến thức mới đó.
20


* Hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức
đã học.
Khi hướng dẫn học sinh nhận biết khái niệm ban đầu về số: 6. Giáo viên cho
học sinh quan sát hình vẽ ( mô hình ) và sử dụng kiến thức đã học để nhận ra rằng
có 5 đến tiếp 1 được 6. Khi đã giới thiệu 6 học sinh tự nhận ra qua phép đếm, qua
phân tích số 6 đứng tiếp sau 5 trong dãy số 1, 2, 3, 4, 5, 6.
Vậy: 6 là 5 và 1.
6 là 4 và 2.
6 là 3 và 3.
Nên: 6 > 1; 6 > 2; 6 > 3; 6 > 4; 6 > 5. Do đó 6 là số lớn nhất trong các số
từ 1 đến 6.
Như vậy giáo viên đã giúp học sinh huy động kiến thức đã học và vốn sống
để phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với
kiến thức đã có.
* Giúp học sinh thực hành rèn luyện cách diễn đạt thông minh bằng lời,
bằng kí hiệu.
Đối với đối tượng học sinh của trường, tiếng phổ thông chưa thành thạo, do
vậy khi dạy học toán giáo viên phải quan tâm đúng mức đến rèn luyện cho học
sinh các diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, vừa đủ nội dung của một thông tin bằng lời
hoặc bằng kí hệu hay bằng sơ đồ.
** Đối với bài dạy thực hành, luyện tập.


- Khi cần thiết có thể cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc trong
toàn lớp về cách giải hoặc các cách giải một bài tập. Nên khuyến khích học sinh
bình luận về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm trong quá trình trao đổi ý kiến ở
nhóm, ở lớp.
- Sự hỗ trợ giữa các học sinh trong nhóm phải giúp học sinh tự tin vào khả
năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học của bản thân.
3.2.5 Biện pháp 5: Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành,
luyện tập:
- Tập cho học sinh thói quen làm xong bài nào cũng tự kiểm tra lại xem có làm
nhầm, làm sai không.
- Nên hướng dẫn học sinh tự đánh giá bài làm của mình, của bạn bằng điểm số
rồi báo điểm cho giáo viên.
- Khuyến khích học sinh tự nói ra những hạn chế của mình, của bạn khi tự
kiểm tra, tự đánh giá…
* Tập cho học sinh thói quen không thỏa mãn với bài làm của mình, với các
cách giải đã có:
- Sau mỗi tiết học, tiết luyện tập nên tạo cho học sinh niềm vui vì đã hoàn
thành công việc được giao, niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân (bằng khuyến
khích, nêu gương…)
- Tạo cho học sinh mong muốn tìm được giải pháp tốt nhất cho bài làm của
mình. Vì vậy cho dù đã hoàn thành bài học hoặc bài làm, học sinh cũng vẫn không
thỏa mãn những gì đã đạt được. Cần tự kiểm tra, tự đánh giá và luôn luôn tìm cách
hoàn thiện việc đã làm.
23


Các “bài tập mở” trong Toán 1 là phương tiện để giáo viên động viên học sinh
tìm nhiều phương án giải quyết một số vấn đề và biết tự lựa chọn phương án hợp
lý nhất. Đừng bao giờ “áp đặt” học sinh theo phương án có sẵn, hãy động viên các
em tìm và lựa chọn phương án tốt nhất.

chiếm lĩnh tri thức tạo cảm hứng ham mê môn học.
- Gv tiết kiệm được thời gian dán, treo đồ dùng trực quan và một số thao tác
khác để giành thời gian cho việc rèn luyện kĩ năng, theo dõi và quản lí lớp, chú ý
nhiều đối tượng yếu, học sinh khuyết tật hòa nhập.
-Giáo viên chỉ cần những thao tác rất đơn giản: đưa chuột, kích chuột là đã có
những hình ảnh đẹp, sinh động và có những nội dung kiến thức của bài rất đầy đủ.
Nó sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian( viết bảng, đưa tranh, treo bảng phụ...)
Thời gian đó giáo viên có thể giành để giúp cho học sinh được thực hành luyện tập
nhiều hơn.
VD: Khi dạy bài mười ba, mười bốn, mười lăm môn toán lớp 1.
• Phần hình thành kiến thức mới:
Để giới thiệu và hình thành được số 13, 14, 15 thì giáo viên phải vừa thao tác
que tính cùng học sinh lại vừa tay cầm phấn để viết lại còn quan sát học sinh thao
tác lấy thêm que tính, … Nhưng với bài giảng điện tử thì tất cả những thao tác này
của giáo viên chỉ là những cú kích chuột nhẹ nhàng không những thế giáo viên lại
có nhiều thời gian hơn để quan sát học sinh và có điều kiện nhiều để hướng dẫn
học yếu kém thực hiện.
• Với phần thực hành luyện tập:
Với bài giảng thông thường giáo viên phải tự vẽ những hình tượng trưng chỉ
có thể là hình tam giác hay hình vuông. Với mỗi bài tập giáo viên phải chuẩn bị rất
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status