LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm“Một số kinh nghiệm
khi dạy phần “thực hành luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1
trường tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. ” Tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Tiểu học Thị Trấn Phù Yên, tập thể cán bộ giáo
viên và các em học sinh trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm
này.
Trong thời gian ngắn và phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp, mặc dù đã có nhiều
cố gắng song sáng kiến kinh nghiệm không tránh khỏi thiếu sót. Tôi mong nhận được
những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn, bổ sung của các thầy cô giáo, của các bạn đồng
nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm ngày một hoàn thiện và đưa vào ứng dụng đạt kết
quả cao ở trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La cũng như một số
trường Tiểu học khác trên địa bàn huyện Phù Yên.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Phù Yên, ngày 01 tháng 01 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Hiển
1
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Lời cảm ơn 1
Mục lục 2
Phần mở đầu
1-Lý do chon đề tài 5
2-Mục đích nghiên cứu 6
3-Đối tượng nghiên cứu 7
4-Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5-Phương pháp nghiên cứu 7
6-Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 8
7-Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm 8
3.2.3 Biện pháp 3: Giúp học sinh tự thực hành luyện tập theo khả
năng của học sinh.
22
3.2.4 Biện pháp 4: Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối
tượng học sinh.
23
3.2.5 Biện pháp 5:Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực
hành luyện tập.
23
3.2.6 Biện pháp 6: Kết hợp với phụ huynh hướng dẫn cách học
toán cho học sinh .
24
3.2.7 Biện pháp 7: Thiết kế bài giảng điện tử dạy trình chiếu
PowerPoint.
25
3.3:Kết quả thực hiện các biện pháp. 26
Kết luận và kiến nghị
I.Kết luận chung. 29
II.Kiến nghị. 30
3
1.Với địa phương 30
2.Với nhà trường. 30
PHẦN MỞ ĐẦU
1 – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
4
Như chúng ta đã biết giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên.
Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong
cứu nhiều năm ở tiểu học, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán đặc
biệt nội dung thực hành luyện tập bản thân tôi đã đúc rút và tổng kết được một số
bài học kinh nghiệm nhằm góp phần thực hiện thành công trong việc đổi mới nội
dung chương trình sách lớp 1, nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp giáo dục Việt Nam. Chính vì vậy tôi chọn đề tài :“ Một số kinh
nghiệm khi dạy phần “thực hành luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1
Trường Tiểu học Thị Trấn huyện phù Yên tỉnh Sơn La.
2– MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
* Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, vai trò, ý nghĩa việc dạy thực hành, luyện tập
trong môn Toán lớp 1 ở trường Tiểu học, qua nghiên cứu thực trạng dạy thực hành
luyện tập của nhà trường trong những năm gần đây. Nghiên cứu đề xuất một số
biện pháp nâng cao chất lượng dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học
sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La góp phần nâng
cao chất lượng dạy học của nhà trường.
Nghiên cứu đề xuất một số kinh nghiệm có hiệu quả khi dạy phần “thực hành
luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Thị Trấn huyện phù
Yên tỉnh Sơn La.
6
3 - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung chủ yếu vào nội dung và các biện
pháp nâng cao chất lượng dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh
lớp 1 trường Tiểu học Thị trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La.
4 – NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Trong phạm vi đề tài này tôi đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề về dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho
học sinh lớp 1.
- Nghiên cứu thực trạng dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh
lớp 1 của nhà trường trong những năm vừa qua.
- Đề xuất những biện pháp dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học
sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La.
+Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng khi dạy phần thực hành luyện tập
cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
9
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH DẠY THỰC HÀNH LUYỆN TẬP
TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
Đảng và nhà nước đã chỉ đạo đổi mới giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc
học. Bởi vì đổi mới phương pháp dạy học khắc phục được lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, đáp ứng nhu cầu phát
triển của nền giáo dục nước ta trong thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất
nước. Đặc biệt việc thay đổi chương trình đối với lớp 1. Môn toán là một trong số
môn cơ bản. Chương trình môn toán Tiểu học kế thừa và phát triển những thành
tựu về dạy họcc toán lớp 1 ở nước ta, khắc phục một số tồn tại của dạy học toán
lớp 1 trong giai đoạn vừa qua. Thực hiện những đổi mới về giảng dạy toán ở lớp 1
nói riêng, ở Tiểu học nói chung. Cung cấp những kiến thức và kĩ năng cơ bản thiết
thực có hệ thống từ đơn giản và cụ thể đến phức tạp và khái quát hơn. Hơn nữa
môn toán là một trong những môn học có điều kiện so sánh và đặt kế hoạch để
sớm đạt trình độ phát triển chung của giáo dục toán học ở khu vực và trên thế giới.
Đối với nội dung chương trình toán 1 với mục tiêu giúp học sinh:
- Đếm, đọc, viết các số đến 100.
- So sánh, sắp xếp các số theo thứ tự xác định.
- Sử dụng bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 để thực hành tính.
- Đo và ước lượng độ dài chủ yếu trong phạm vi 10cm, tên gọi các ngày
trong tuần lễ, xem giờ đúng trên mặt đồng hồ.
- Nhận dạng hình vuông, hình tròn, hình tam giác, đoạn thẳng, điểm, vẽ
đoạn thẳng có độ dài trong phạm vi 10cm.
- Phát hiện và giải quyết vấn đề:
dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Thái, Mường, Dao, H mông, Hoa, …). Kinh tế chủ
yếu của người dân 2/3 là công chức nhà nước, còn lại chủ yếu là kinh doanh, buôn
bán nhỏ lẻ và chăn nuôi nên thu nhập của người dân tương đối ổn định, tất cả các
yếu tố đó tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục của địa phương. Đa số người dân
quan tâm đến việc học hành của con cái.
2.1.2 Đặc điểm tình hình nhà trường
Trường tiểu học Thị trấn được tách từ trường phổ thông cơ sở Thị Trấn từ
năm 1998. Được sự quan tâm của các cấp các ngành nên nhà trường đã được trang
bị khá đầy đủ về cơ sở vật chất. Trường đạt chuẩn quốc gia năm 2001.
2.2 Thực trạng việc dạy thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1.
2.2.1 Thực trạng việc dạy học thực hành luyện tập
Để tìm hiểu thực trạng dạy học thực hành luyện tập đạt hiệu quả, ngay từ đầu
năm tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh và thống kê kết quả tiết dạy của
giáo viên trong khối như sau:
Bảng 1: Chất lượng học sinh của khối lớp 1
Tổng
số HS
khối 1
Xếp loại học
lực giỏi
Xếp loại học
lực khá
Xếp loại học
lực TB
Xếp loại học lực
Yếu
12
Số
lượng
Tỷ lệ
đó gây ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh.
2.2.2 Thực trạng việc dạy phần luyện tập thực hành của nhà trường:
13
Từ nhiều năm nay nhà trương luôn quan tâm đến việc đổi mới nội dung
chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học lớp 1, trường luôn chủ
động tổ chức các chuyên đề, các hội thảo về đổi mới nội dung chương trình, đổi
mới phương pháp dạy học trong đó môn Toán là một môn học chủ lực luôn luôn
được bàn tới. Chính vì vậy sáu giáo viên dạy khối lớp 1 của trường ngay trong năm
học đầu tiên của chương trình đổi mới đã tổ chức hướng dẫn học sinh tự phát hiện,
tự giải quyết vấn đề của bài, tự chiếm lĩnh kiến thức mới …(phương pháp dạy học
bài mới) rất hiệu quả. Thế nhưng một vài giáo viên khối 1 của trường sau khi tổ
chức hướng dãn để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thì thở phào coi như song
tiết dạy. Còn phần thực hành luyện tập chẳng qua chỉ để học sinh làm hết các bài
tập trong sách giáo khoa. Chính vì vậy khi ban giám hiệu dự giờ kết quả các tiết
dạy toán giáo viên trong khối chưa đạt hiệu quả cao và chất lượng học môn Toán
của học sinh trong năm học thấp.
2.3 Nguyên nhân thực trạng dạy học phần thực hành luyện tập ở trương
Tiểu học Thị Trấn.
Còn số ít giáo viên chưa có biện pháp để lập kế hoạch, hướng dẫn học sinh
hợp lý, chưa thường xuyên quan tâm đến việc học của học sinh.
Nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phần dạy thực hành luyện tập chưa
đúng.
Khi lập kế hoạch bài soạn, khi lên lớp giáo viên chỉ chú trọng đến việc dạy học
bài mới, chưa chú ý đến việc củng cố kiến thức cho học sinh (Phần: Thực hành
luyện tập)
Còn một số ít phụ huynh chưa quan tâm thực sự đến việc học tập của con em
mình mà còn phó thác cho nhà trường .
14
Qua tìm hiểu thực trạng dạy học phần thực hành luyện tập ở trương Tiểu học
Thị Trấn huyện phù Yên tỉnh Sơn La tôi thấy còn có hạn chế do đó cần thiết phải
hình vuông, hình tròn, hình tam giác, nhận biết hình dạng và sử dụng các hình này
làm vật liệu để học số, phép tính.
* Dạy các số đến 100:
- Học sinh nhận ra số lượng, đọc tên viết số, cấu tạo thập phân của số trong
dãy số tự nhiên. Quy ước về đọc một vài số có hai chữ số, phân biệt số và chữ số.
- Về thứ tự: Dùng tia số ( Các vạch trên tia số ) điền số liền trước, số liền
sau, viết các số theo thứ tự.
* Cộng trừ ( không nhớ ) các số có 2 chữ số:
Nội dung có dạng:
14
+
3
17
-
3
Cộng trừ các số tròn chục:
30
+
20
50
-
30
Cộng trừ số có hai chữ số:
17
32
+
46
78
-
Ví dụ: Có ba con ong đậu trên bông hoa, một con ong bay ra khỏi bông hoa,
còn mấy con ong đậu trên bông hoa ?
Học sinh tham gia giải quyết vấn đề: ( Ba con ong bớt một con ong còn hai
con ong ).
Thời gian đầu giáo viên hướng dẫn học sinh nêu và giải quyết vấn đề, dần
dần khuyến khích học sinh tự nêu và tự giải quyết vấn đề.
* Giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới.
Có loại bài học, sau khi học sinh đã phát hiện và giải quyết vấn đề, giáo viên
phải hình thành kiến thức mới ( chẳng hạn: Giáo viên phải giới thiệu: “ Ba con ong
bớt một con ong còn hai con ong ”. Ta bớt một còn hai ta viết: 3 - 1 = 2. Đọc là: “
Ba trừ một bằng hai ”. Dấu ( - ) gọi là: “ Trừ ”.
19
Có loại bài học giáo viên phải giúp học sinh tự nêu, tự giải quyết vấn đề, dần
dần khuyến khích học sinh tự nêu và tự giải quyết vấn đề, tự xây dựng kiến thức
mới.
Ví dụ: Bài học về phép cộng trong phạm vi 8.
Cho học sinh quan sát hình vẽ rồi nêu vấn đề: “ Có bảy hình vuông xanh,
thêm một hình vuông đỏ. Hỏi tất cả có mấy hình vuông ?”
Giải quyết vấn đề: “ 7 thêm 1 thành 8 ”.
Sau đó viết 8 vào công thức cộng : 7 + 1 = 8
Cả hai loại bài giáo viên phải giúp học sinh ghi nhớ kiến thức mới, phải qua
thực hành vận dụng kiến thức đó để giải quyết các vấn đề nêu trong phần bài tập
thì mới có thể khẳng định học sinh đã tự chiếm lĩnh kiến thức mới đến mức độ nào,
vì vậy sau khi đã thuộc bài mới, học sinh phải làm được các bài tập trong phiếu bài
tập.
* Giúp học sinh cách thức phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới.
Quá trình dạy học toán phải dần dần giúp học sinh cách thức ( con đường,
phương pháp ) phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Chẳng hạn, qua các bài học
và luyện tập về số và phép tính trong phạm vi 10 của toán lớp 1, giáo viên hướng
dẫn học sinh nhận biết từ tình huống có thực trong đời sống ( thể hiện trong tranh,
sinh sẽ làm được bài. Nếu học sinh không tự nhận ra kiến thức đã học trong các
dạng bài tập khác nhau thì giáo viên nên giúp học sinh bằng gợi ý, hướng dẫn để
học sinh nhớ lại kiến thức và cách làm bài, không nên làm thay học sinh.
Chẳng hạn, khi học “Phép cộng trong phạm vi 8” nếu làm các bài tập dạng
7 + 1 = …, 5 + 3 = … thì học sinh dễ dàng nhớ lại và sử dụng các công thức
đã học với dạng bài tập phải so sánh hai biểu thức số như 7 + 1 … 2 + 6 đã gặp
trong các công thức đã học: 7 + 1 = 8; 2 + 6 = 8, do đó phải điền dấu bằng vào chỗ
chấm: 7 + 1 = 2 + 6
*3.2.3 Biện pháp 3: Giúp học sinh tự thực hành luyện tập theo khả năng của
học sinh:
- Bao giờ cũng yêu cầu học sinh phải làm các bài tập theo thứ tự sắp xếp trong
phiếu (hoặc do giáo viên sắp xếp), không tự ý lướt qua hoặc bỏ qua bài tập nào, kể
cả bài tập học sinh cho là dễ.
- Không nên bắt học sinh chờ đợi nhau trong quá trình làm bài. Học sinh nào
đã làm xong và tự kiểm tra (hoặc nhờ giáo viên kiểm tra) được bài 1 thì nên
chuyển sang bài tiếp sau.
Trong một tiết học phải chấp nhận có học sinh làm được nhiều bài tập hơn học
sinh khác. Giáo viên hãy giúp những học sinh làm bài chậm về cách làm bài, hãy
giúp học sinh khá giỏi làm các bài tập của tiết học và khai thác hết nội dung của
từng bài tập.
3.2.4 Biện pháp 4: Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học
sinh:
22
- Khi cần thiết có thể cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc trong
toàn lớp về cách giải hoặc các cách giải một bài tập. Nên khuyến khích học sinh
bình luận về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm trong quá trình trao đổi ý kiến ở
nhóm, ở lớp.
- Sự hỗ trợ giữa các học sinh trong nhóm phải giúp học sinh tự tin vào khả
năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học của bản thân.
3.2.5 Biện pháp 5: Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành,
- Tổ chức kí kết thi đua thực hiện tốt các quy định và chỉ tiêu phấn đấu của
lớp đồng thời quy định hàng tháng có sự trao đổi giữa nhà trường và gia đình để
cùng kết hợp giáo dục học sinh.
3.2.7 Biện pháp 7: Thiết kế bài giảng điện tử dạy trình chiếu
PowerPoint .
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy và học (bằng bài giảng điện tử) là
cải tiến đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo
của học sinh, lúc bấy giờ giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động
thông qua hình ảnh trực quan sinh động, học sinh tư duy và tự phát hiện, tìm ra
kiến thức mới của bài học và thực hành, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
giảng dạy, có những ưu điểm so với phương pháp truyền thống như:
24
- Nội dung, hình thức tiết dạy phong phú, đưa được nhiều hình ảnh động, từ
đó, tạo được sự kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo được không khí vui
tươi và thi đua trong học tập qua hoạt động thi đua giữa các nhóm hiệu quả cao.
- Do tính trực quan cao, nên giúp HS yếu kém dễ tham gia và chủ động
chiếm lĩnh tri thức tạo cảm hứng ham mê môn học.
- Gv tiết kiệm được thời gian dán, treo đồ dùng trực quan và một số thao tác
khác để giành thời gian cho việc rèn luyện kĩ năng, theo dõi và quản lí lớp, chú ý
nhiều đối tượng yếu, học sinh khuyết tật hòa nhập.
-Giáo viên chỉ cần những thao tác rất đơn giản: đưa chuột, kích chuột là đã có
những hình ảnh đẹp, sinh động và có những nội dung kiến thức của bài rất đầy đủ.
Nó sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian( viết bảng, đưa tranh, treo bảng phụ )
Thời gian đó giáo viên có thể giành để giúp cho học sinh được thực hành luyện tập
nhiều hơn.
VD: Khi dạy bài mười ba, mười bốn, mười lăm môn toán lớp 1.
• Phần hình thành kiến thức mới:
Để giới thiệu và hình thành được số 13, 14, 15 thì giáo viên phải vừa thao tác
que tính cùng học sinh lại vừa tay cầm phấn để viết lại còn quan sát học sinh thao
tác lấy thêm que tính, … Nhưng với bài giảng điện tử thì tất cả những thao tác này