Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trường mầm non huy hạ huyện phù yên tỉnh sơn la thông qua việc cho trẻ làm quen với đồng dao - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRẦN THỊ HẢI YẾN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRƢỜNG MẦM NON HUY HẠ
HUYỆN PHÙ YÊN TỈNH SƠN LA THÔNG QUA
VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI ĐỒNG DAO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRẦN THỊ HẢI YẾN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRƢỜNG MẦM NON HUY HẠ
HUYỆN PHÙ YÊN TỈNH SƠN LA THÔNG QUA
VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI ĐỒNG DAO

Chuyên ngành: Phát triển Ngôn ngữ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Trịnh Thị Hồng

SƠN LA, NĂM 2015

Cao đẳng sư phạm

TCSP

Trung cấp sư phạm

ĐH

Đại học

MGL

Mẫu giáo lớn

STT

Số thứ tự

TC

Tiêu chí



Tổng điểm



Mức độ


Nhà xuất bản

NXBGD

Nhà xuất bản giáo
dục


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 2
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 5
5. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ..................................................................... 5
5.1. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 5
5.2. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 5
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận..................................................................... 5
6.2. Phương pháp khảo sát bằng phiếu anket. ....................................................... 6
6.3. Phương pháp quan sát. ................................................................................... 6
6.4. Phương pháp thống kê toán học. .................................................................... 6
6.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm. .............................................................. 6
7. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 6
8. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..................................................................... 7
8.1. Thời gian nghiên cứu ..................................................................................... 7
8.2. Địa điểm nghiên cứu ...................................................................................... 7
9. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................ 7
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn................................................................. 7
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 8

1.2.5.3. Thực trạng về mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi)
Trường Mầm non Huy Hạ Huyện Phù Yên tỉnh Sơn La thông qua việc cho trẻ
làm quen với đồng dao ........................................................................................ 21
Tiểu kết ................................................................................................................ 23
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ (5 - 6
TUỔI) THÔNG QUA VIỆC CHO TRẺ LÀM QUEN VỚI ĐỒNG DAO .. 24
2.1. Hoạt động vui chơi giải trí kết hợp với đồng dao ........................................ 24
2.2. Kết hợp trò chơi học tập với đồng dao ......................................................... 27
2.3. Kết hợp các trò chơi dân gian với đồng dao ................................................ 28


2.4. Kết hợp hoạt động góc với đồng dao .......................................................... 32
2.5. Hoạt động dạy học âm nhạc kết hợp với đồng dao ...................................... 34
2.6. Phối hợp với phụ huynh dạy đồng dao cho trẻ ở nhà .................................. 37
Tiểu kết ................................................................................................................ 41
CHƢƠNG 3: THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM ....................................................... 42
3.1. Mục đích thể nghiệm .................................................................................... 42
3.2. Đối tượng thể nghiệm................................................................................... 42
3.3. Điều kiện thể nghiệm ................................................................................... 42
3.4. Phương pháp dạy thể nghiệm ....................................................................... 43
3.5. Nội dung thể nghiệm .................................................................................... 43
3.5.1. Thiết kế giáo án mẫu ................................................................................. 44
3.6. Kết quả dạy học thể nghiệm ......................................................................... 51
Tiểu kết ................................................................................................................ 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 57
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU



khác để chuẩn bị vào lớp 1. Các trẻ em ở thành phố thường có xu hướng chơi
các trò chơi hiện đại vì vậy dần quên đi các trò chơi dân gian và các bài đồng
dao, khiến các bài đồng dao dần bị trẻ lãng quên và không biết đến. Đặc biệt đối
với trẻ mầm non 5 - 6 tuổi ở trường mầm non thuộc các tỉnh miền núi thì việc trẻ
được tiếp xúc với đồng dao để phát triển ngôn ngữ còn hạn chế vì đa phần các
em đều là học sinh dân tộc thiểu số và các bậc phụ huynh cũng chưa có nhiều
thời gian cũng như phương pháp để quan tâm và chăm sóc cho trẻ.
Với xu thế đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường Mầm non hiện nay
nhất là những trường Mầm non ở miền núi có đa số trẻ đến trường là người dân
tộc thiểu số, cùng với những sức mạnh vốn có của đồng dao với trẻ nhỏ nên tôi
mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5
- 6 tuổi trường Mầm non Huy Hạ huyện Phù Yên tỉnh Sơn La thông qua việc
cho trẻ làm quen với Đồng dao”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là tài sản quý báu của nhân loại. Nó đi lên và phát triển cùng với
xã hội loài người. Nó luôn cùng đồng hành với con người, là phương tiện để
giao tiếp với con người, tồn tại bên trong xã hội loài người. Ngôn ngữ là kho
tàng trí tuệ của loài người, nó chứa đựng và làm sống lại những thành tựu to lớn
do xã hội loại người xây dựng lên, là tượng đài đầy giá trị của nền văn minh
nhân loại.
Vai trò phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ lâu được các nhà khoa học trong và
ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ được
nghiên cứu rất kỹ lưỡng ở Liên Xô cũ với nhiều nhà sư phạm cùng với nhiều
công trình có tính khoa học, hiệu quả nổi tiếng. Những công trình này đã vào
Việt Nam từ rất sớm. Giáo viên và sinh viên các trường Mầm non đã biết đến
Chikhieva.E.I như một tác giả có uy tín trong nghiên cứu về lĩnh vực phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Ngoài ra, còn nhiều tác giả chúng ta biết đến cũng
góp phần quan trọng vào việc hình thành chuyên ngành phát triển ngôn ngữ cho

Các tác giả: Phedorenco.L.P, Phomitreva.G.A, Lomarep.V.K cũng có
những cuốn sách tương tự.
Ngay từ những năm 80 của thế kỉ trước, chúng ta đã có những cuốn giáo
trình đầu tiên về phương pháp phát triển lời nói trẻ em trong các trường đào tạo
giáo viên mầm non:
3


Phan Thiều với cuốn: “Dạy nói cho trẻ trước tuổi cấp 1”(NXBGD - 1973).
Hay nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa (1997) về: “Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo (0 - 6 tuổi)”.
Các tác phẩm trên đều đề cập đến nội dung và các phương pháp nhằm hình
thành và phát triển vốn từ ngữ cho trẻ. Đây chính là cơ sở, là tiền đề cho các nhà
khoa học sau này nghiên cứu, tìm tòi, khám phá về vấn đề ngôn ngữ của trẻ.
Về đồng dao, một số công trình nghiên cứu từ việc sưu tầm tư liệu đồng dao
dành cho trẻ em đã đi vào nghiên cứu ý nghĩa giáo dục của thể loại này đối với trẻ
em như cuốn “Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt Nam” của Nguyễn Thúy
Loan, “Trò chơi dân gian cho trẻ em dưới 6 tuổi” của Trương Kim Oanh, “Lời
đồng dao trong trò chơi cổ truyền của trẻ em” của Phan Đăng Nhật (1992).
Các công trình này đều đi đến kết luận đồng dao có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em. Trong bài Ca dao
và viết cho thiếu nhi tác giả Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương đã khẳng định:
“Ca dao là đại bộ phận dành cho người lớn tuy nhiên tác giả dân gian khi sáng
tác ca dao vẫn không quên trách nhiệm đối với thế hệ trẻ nên đã dành trọn một
phần ca dao cho các em được gọi là đồng dao” [8.76]. Cuốn “Đồng dao với tuổi
thơ” tác giả đã đề cập đến chức năng giáo dục của đồng dao với trẻ em “Đồng
dao có tác dụng mạnh đối với trẻ em trước hết là nó giáo dục thái độ văn hóa
đối với mối quan hệ chủ yếu của con người đó là con người với thiên nhiên và
con người với xã hội”. Đây là những vấn đề hết sức quan trọng đối với sự hình
thành, phát triển nhân cách con người [11.122,123].

Đề tài tập trung nghiên cứu về các phương pháp nhằm phát triển ngôn ngữ
của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trường mầm non Huy Hạ huyện Phù Yên tỉnh Sơn La
thông qua việc cho trẻ làm quen với đồng dao.
5.2. Đối tượng nghiên cứu
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, nghiên cứu và thu thập các tài liệu, sách báo có liên quan tới vấn
đề đang nghiên cứu từ đó chọn lọc để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.

5


6.2. Phương pháp khảo sát bằng phiếu anket.
Nhằm tìm hiểu thực trạng về việc dạy ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo (5 - 6
tuổi) trường mầm non Huy Hạ huyện Phù Yên tỉnh Sơn La thông qua đồng dao,
thực trạng hiệu quả của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các phương
pháp này.
6.3. Phương pháp quan sát.
Quan sát và ghi chép việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trường mầm non Huy Hạ huyên Phù Yên tỉnh Sơn La
thông qua việc cho trẻ làm quen với đồng dao.
6.4. Phương pháp thống kê toán học.
Thống kê các số liệu thu được sau khi kháo sát để thu được những nhận
định, đánh giá thực trạng một cách khoa học và chính xác. Để định lượng kết
quả nghiên cứu, khái quát hóa và rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu.
6.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Soạn giáo án áp dụng các phương pháp đã đề xuất vào dạy trẻ,từ đó thu
được những tài liệu nhằm đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ khi được
áp dụng các phương pháp đã đề xuất.



PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm, chức năng của ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và
quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Ngôn ngữ đồng thời
là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thông văn hóa - lịch sử từ thế
hệ này sang thế hệ khác.
1.1.1.2. Chức năng của ngôn ngữ
Một trong những chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ là chức năng giao
tiếp, nó được dùng làm phương tiện chính để giao lưu và điều chỉnh hành vi của
con người.
Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi con người trao đổi thông tin với
nhau không chỉ nhằm mục đích truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch
sử, và bản thân thông tin đó cũng không phải là đơn vị tri thức được đưa vào nhà
trường. Song, những sự trao đổi như vậy lại rất cần cho sự định hướng hoạt
động của con người trong mỗi thời điểm hay mỗi tình huống nhất định. Và chính
trong những điều kiện này, con người không có cách nào khác là phải dùng
phương tiện ngôn ngữ. Ở đây cơ chế hoạt động giao lưu diễn ra như sau:
Khái quát hóa nội dung những điều phản ánh nhằm lập ra được “chương
trình” của lời nói và tìm ra được các từ tương ứng.
Khớp nối chương trình đó vào cơ cấu ngữ pháp tương ứng, làm thành các
đoạn, mệnh đề, câu.
Chuyển các câu đó vào hoạt động vận dụng tương ứng để nói ra, hoặc viết
ra, hoặc nghĩ thầm.
Chức năng cơ bản thứ hai của ngôn ngữ là chức năng tư duy.
Ngôn ngữ được dùng làm công cụ của hoạt động trí tuệ, có chức năng thiết

phong phú các biểu tượng và thế giới xung quanh.
Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy. Ngôn ngữ
của trẻ được phát triển dần theo lứa tuổi trẻ. Điều đó sẽ giúp trẻ không chỉ tìm
hiểu những hiện tượng, sự vật gần gũi xung quanh, mà còn có thể tìm hiểu cả
những sự vật không xuất hiện trực tiếp trước mặt trẻ, những sự việc xảy ra trong
9


quá khứ và tương lai. Trẻ hiểu được những lời giải thích, gợi ý của người lớn,
biết so sánh khái quát và dần hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng, hình
thành những khái niệm sơ đẳng. Sự hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh
ngày càng rộng lớn hơn. Nhận thức của trẻ được rõ ràng, chính xác và trí tuệ của
trẻ không ngừng phát triển.
Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi và nhận thức thế giới xung
quanh. Ngôn ngữ là phương tiện để trẻ trao đổi những ý đồ chơi, giao lưu tình
cảm trong lúc chơi và phát triển khả năng tư duy, trí tưởng tượng của trẻ.
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh
mà còn là phương tiện để trẻ biểu hiện nhận thức của mình. Nhờ có ngôn ngữ,
trẻ nhận thức được về môi trường xung quanh và tiến hành hoạt động với nó,
đồng thời trẻ cũng sử dụng ngôn ngữ để kể lại, miêu tả lại sự vật hiện tượng và
những hiểu biết của trẻ để trao đổi với mọi người.
1.1.1.3.2. Ngôn ngữ là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ.
Ngôn ngữ là phương tiện để giao lưu xúc cảm và phát triển tình cảm. Ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất. Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, đó là
phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh, hình thành
những cảm xúc tích cực.
Bằng những câu hát ru, những lời nói nựng, những câu nói âu yếm… đã
đem đến cho trẻ những cảm giác bình yên, sự vui mừng hớn hở. Những tiếng ầu
ơ mẹ nói chuyện với trẻ là sự giao lưu cảm xúc và ngôn ngữ đầu tiên. Những cuộc
nói chuyện đặc biệt này sẽ làm cho trẻ vui vẻ và có những tình cảm thân thương

dễ dàng hòa nhập với mọi người.
Nhờ có ngôn ngữ, thông qua các câu chuyện, trẻ dễ dàng hòa nhập với xã hội
tốt hơn.
Tóm lại: Ngôn ngữ có vai trò rất lớn, là phương tiện quan trọng nhất để trẻ
lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để trẻ giao lưu với những người xung quanh, để tư
duy, tiếp thu khoa học và bồi bổ tâm hồn, hình thành, phát triển nhân cách của trẻ.
1.1.2. Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
Nhà tâm lí học V.X Mukhina đã có những nghiên cứu về tâm lí học trẻ em
và đưa ra kết luận. Độ tuổi mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ
em ở lứa tuổi “Mầm non” ở giai đoạn này, những cấu tạo đặc trưng của con
người đã được hình thành trước đây.Với sự giáo dục của người lớn, những chức
11


năng tâm lí đó sẽ được hoàn thành về mọi phương diện hoạt động tâm lí (nhận
thức, tình cảm, ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân
cách của con người.
Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ, đã định ý thức bản
ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lí, trẻ chuẩn bị tiến vào bước ngoặt 6
tuổi, bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng, khiến các nhà Giáo dục quan
tâm, một mặt giúp trẻ hoàn thành những phát triển tâm lí trong suốt thời kì mẫu
giáo, mặt khác tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần với
hoạt động học tập và cuộc sống ở trường phổ thông. Vì vậy trong giai đoạn này
phải có bước chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí cho trẻ đến trường phổ thông.
1.1.3. Đặc điểm về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
Trẻ 5 - 6 tuổi có thể sử dụng thông thạo tiếng mẹ đẻ để giao tiếp. Khả năng
ngôn ngữ của trẻ liên quan chặt chẽ với sự phát triển trí tuệ và những trải
nghiệm của trẻ. Trẻ có thể dùng ngôn ngữ để thể hiện các mối quan hệ qua lại
nhiều mặt của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống mà trẻ nhận thức được,
bước đầu có sự khái quát và đưa ra kết luận như: “Chanh thì chua còn đường thì

đồng dao, trong ca dao, trong tục ngữ, trong các câu chuyện cổ tích được truyền
đến thế hệ trẻ bằng con đường truyền miệng. Nhờ vậy mà cha ông ta đã dạy cho
rất nhiều thế hệ trẻ em trưởng thành, có kiến thức, biết quan sát, biết yêu thương.
Kiến thức trong đồng dao rất phong phú. Đồng dao cung cấp cho các em
kiến thức về xã hội. Đồng dao ghi lại một cách chân thực các lễ hội dân gian,
những đình đám trong họ ngoài làng. Những đồ ăn, thức uống gắn liền với các
sinh hoạt văn hóa đó cũng được diễn tả rất sinh động. Đồng dao giúp các em
chuẩn bị từ tuổi hoa niên những kiến thức về nghề nghiệp: “Ông thầy có sách,
thợ ngạnh có dao, thợ rèn có búa”. Đồng dao cũng dạy các em phê phán thói hư,
tật xấu: “Một ông đái bậy/Chết một còn bảy/Một ông láu táu/Chết một còn
sáu". Các em bé gái được đồng dao trang bị cho kiến thức về nữ công: “Canh ốc
thì ngọt/Canh bứa thì chua”.
Đồng dao cung cấp cho các em kiến thức về thế giới tự nhiên. Thế giới
thiên nhiên trong đồng dao sinh động, phong phú tràn đầy sức sống. Trong đồng
dao có ông Sấm, ông Chớp, có chị Mưa, chị Gió. Trong đồng dao có hình ảnh
của những con vật: Con trâu, con nghé, con voi, con ve, con kiến, con tôm, con
tép, con còng, con cua. Tất cả đều có hồn, biết trò chuyện, biết tâm sự cùng trẻ

13


em. Nhiều tưởng tượng bất ngờ của đồng dao đã giúp các em có được một cuộc
sống hồn nhiên, gắn bó, gần gũi với cảnh vật, với con người xung quanh.
Đồng dao và trò chơi dân gian không dạy chữ cho trẻ thế nhưng các em vẫn
biết đếm, vẫn biết tính nhẩm, biết cộng trừ từ “Chuyền một” đến “Chuyền
mười”, từ “Năm lên sáu” hay “Bốn lên bảy” trong trò chơi Chuyền chuyền. Trò
chơi “Ô ăn quan” dạy trẻ em tính nhẩm các phép tính như chia, trừ, biết quan sát
chiều ngược, chiều xuôi.
Trò chơi dân gian còn giáo dục thể lực cho trẻ. “Đánh chuyền”. Trò “Đánh
khăng” là môn thể thao rèn luyện sự vận động toàn diện bằng các hoạt động

dụng luyện trí nhớ cho trẻ em. Trẻ không thuộc bài hát thụ động mà thuộc với
tất cả sự hứng thú của nó.
Đồng dao cũng là một cuốn từ điển sống, chứa đựng một kho từ vựng
phong phú. Ở các trò chơi cho tuổi mẫu giáo lớn, trong một bài hát có chứa hàng
chục từ. Ví dụ bài Chuyền thẻ chứa các cụm từ: con chai, con hến; con nhện,
chăng tơ; củ mơ, củ mận; con rận, cành thị, cành na, cành đào, củ từ, củ khoai,
con tằm, củ cải, cái cột, quả cà, giã giò, con cò, đầu qua; quá giang, sang sông,
đi đò, cò nhảy, gãy cành; mây leo, bèo nổi, ổi xanh, hành bóc vỏ, trứng đỏ lòng,
tôm cong, đít vịt, vào làng, xin thịt, ra làng, xin xôi…
Thông qua kho tàng từ ngữ giàu có, đồng dao giáo dục các em nhận thức
được tự nhiên và xã hội. Trong đồng dao, ngôn ngữ có tính thơ ca, có vần, có
nhịp Ngữ nghĩa không phải là yếu tố được quan tâm duy nhất, mà trẻ chú ý
nhiều đến ngữ âm, nhịp vần. Đó là một thứ lời nói vần, một bước trung gian từ
ngôn ngữ giao tiếp đến thơ dân gian. Nhiều trò chơi có yêu cầu thao tác, các
thao tác phải đều đặn và đồng loạt.
1.1.4.3. Yêu cầu chung của phương pháp dạy đồng dao cho trẻ mẫu giáo
(5 - 6 tuổi)
Việc dạy đồng dao cho trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) cần phải được dạy một
cách chính xác, giáo viên cần phải có những kiến thức, chuyên môn vững vàng
và đặc biệt việc dạy đồng dao cho trẻ cần phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
1. Các bài đồng dao dạy cho trẻ cần phải phù hợp với kiến thức chuyên
môn chuẩn, bài phải dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc có vần, nhịp rõ ràng.
2. Cần kết hợp các bài đồng dao này với các chương trình học phù hợp cho
trẻ (như kết hợp với âm nhạc, kết hợp với vui chơi...).
15


3. Giáo viên cần phải chú ý đến những trẻ em chậm phát trển, những trẻ
em dân tộc thiểu số vì đa phần các em còn chưa thể đọc đồng dao một cách
chính xác và đúng vần điệu được.


Điểm

+ Tăng nhiều

3

+ Tăng ít

2

+ Không tăng

1

+ Thuộc lòng

3

+ Bỏ sót

2

16


2

Khả năng đọc thuộc lòng bài + Trẻ đọc bằng ngôn ngữ của
đồng dao

2

chưa phù hợp
+ Chưa đọc được

1

Xếp loại qua tiêu chí:
- 12 điểm xếp loại: Giỏi
- Từ 10 - 11 điểm xếp loại: Khá
- Từ 7 - 9 điểm xếp loại: Trung bình
- Từ 4 - 6 điểm xếp loại: Yếu
1.2.5. Phân tích kết quả điều tra
Trường Mầm non Huy Hạ là trường Mầm non nằm trên địa bàn xã Huy Hạ
thuộc huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. Trường Mầm non Huy Hạ được thành lập từ
năm 1996 cho đến nay đã hoạt động được 19 năm. Nhà trường được đầu tư với
cơ sở vật chất tốt, năm 2010 trường được xây mới lại hoàn toàn và được đầu tư
thêm nhiều đồ chơi và trang thiết bị mới phục vụ cho quá trình giảng dạy.
Trường Mầm non Huy Hạ có 11 lớp với tổng số 350 trẻ. Trong đó có: 4 lớp mẫu
giáo lớn với 165 trẻ, 3 lớp mẫu giáo nhỡ với 70 trẻ, 2 lớp mẫu giáo bé với 45 trẻ
và 2 lớp nhà trẻ với số trẻ là 35 trẻ.
Nhà trường có tổng 29 giáo viên công tác. Trong đó có: 22 giáo viên trực
tiếp đứng lớp giảng dạy, 8 giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn, 6 giáo viên dạy lớp
mẫu giáo nhỡ, 4 giáo viên dạy lớp mẫu giáo bé, 4 giáo viên dạy lớp nhà trẻ, 3 cô
trong ban giám hiệu, 3 cô làm bếp, 1 cô hành chính. Giáo viên trong trường đều
17


có chuyên môn vững vàng, kinh nghiệm đứng lớp lâu năm có tinh thần yêu nghề
mến trẻ, tâm huyết với nghề.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status