Một số phương pháp dạy luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 trường tiểu học huy thượng huyện phù yên tỉnh sơn la - Pdf 39

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Khổng Cát Sơn người đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ em trong quá trình hoàn
thành khóa luận này.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, phòng đào tạo Đại học, thư
viện, Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học - Mầm non và các bạn sinh viên lớp K52 Đại
học giáo dục Tiểu học B đã tạo điều kiện giúp đỡ em học tập và nghiên cứu tại
trường.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo và các em học sinh Trường
Tiểu học Huy Thượng - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em
trong quá trình khảo sát và thực nghiệm để hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Tác giả
Lường Thùy Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài khóa luận .........................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...........................................................................................3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................5
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................................6
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................................6
4.1. Khách thể nghiên cứu ...............................................................................................6
4.2. Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................................6
5. Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................................6
6. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................6
7. Đóng góp của đề tài .....................................................................................................7
8. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................................7
NỘI DUNG .....................................................................................................................8

2.8. Hướng dẫn kiến thức về từ và câu theo hướng tích hợp ........................................40
2.9. Tổ chức trò chơi học tập và tham quan ..................................................................41
2.9.1. Tổ chức trò chơi học tập ......................................................................................41
2.9.2. Tổ chức tham quan ..............................................................................................44
TIỂU KẾT .....................................................................................................................46
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ..............................................................47
1. Mục đích và phương pháp thực nghiệm ....................................................................47
1.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................................47
1.2. Phương pháp thực nghiệm ......................................................................................48
2. Tiến trình tổ chức thực nghiệm .................................................................................48
2.1. Đối tượng và thời gian thực nghiệm .......................................................................48
2.2. Tiến trình thực nghiệm ...........................................................................................49
3. Kết quả thực nghiệm..................................................................................................49
4. Nhận xét chung ..........................................................................................................51
TIỂU KẾT ....................................................................................................................52
KẾT LUẬN ..................................................................................................................53


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài khóa luận
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có những bước tiến xa hơn ở
những lĩnh vực khoa học công nghệ. Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra trên
quy mô toàn cầu tạo cơ hội tốt cho nền giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với xu
thế mới, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng những kinh
nghiệm quốc tế.
Thực tế trên đất nước ta và các nước phát triển trên thế giới đã chứng tỏ: Giáo dục
là chìa khóa của sự phát triển, đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lãi. Đảng và nhà nước ta
cũng rất chú trọng tới vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước “Giáo dục là
quốc sách hàng đầu”. Con người được giáo dục và biết tự giáo dục mới có khả năng giải
quyết một cách sáng tạo, có hiệu quả tất cả vấn đề do sự phát triển xã hội đặt ra. Giáo dục

Tiếng Việt không thể nhắc tới vị trí và vai trò quan trọng của phân môn Luyện từ và câu.
Luyện từ và câu làm giàu vốn từ cho học sinh, mở rộng hệ thống hóa vốn từ và trang
bị cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ và câu. Rèn và phát triển năng lực dùng từ
đặt câu và sử dụng các dấu câu, cung cấp cho các em một số kiến thức về từ và câu. Bồi
dưỡng tình cảm tốt đẹp cho học sinh.
Việc bồi dưỡng và nâng cao chất lượng phân môn Luyện từ và câu sẽ giúp các em
làm giàu vốn từ vốn tri thức về tâm hồn. Từ đó các em tích lũy cho mình những kiến thức
cần thiết, tạo điều kiện để các em học tốt phân môn khác trong môn Tiếng Việt như:
Chính tả, Tập làm văn. Đồng thời học tốt các môn học khác như: Toán, Tự nhiên và xã
hội, Âm nhạc và Mĩ thuật....
Xuất phát từ thực tế và từ mục tiêu giáo dục của nước ta là nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất
nước, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; trong những năm gần đây nhà
nước ta đã từng bước đổi mới phương pháp giáo dục ở các nhà trường phổ thông nói
chung ở nhà trường tiểu học nói riêng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Hiện nay,
nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được áp dụng vào nhà trường tiểu học. Trong
đó, có sự kết hợp hài hòa giữa việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, và
vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực.
2


Xuất phát từ thực tế nơi tôi lớn lên và học tập tại Trường Tiểu học Huy Thượng, học
sinh ở đây vẫn còn chưa nhận thức được hết về kiến thức tiếng Việt. Vì vậy, tôi đã mạnh
dạn đưa ra một số phương pháp dạy Luyện từ và câu để người giáo viên xác định tốt
đúng phương pháp giảng dạy phân môn Luyện từ và câu và tìm ra những giải pháp tối ưu
để nâng cao chất lượng giáo dục.
Từ những suy nghĩ trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Một số phương pháp dạy
Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Huy Thượng - huyện Phù Yên tỉnh Sơn La”. Tôi mong sẽ đóng góp một tiếng nói nhỏ vào việc dạy và học môn Tiếng
Việt. Từ đó có thể ứng dụng cho phù hợp đối với các em lớp 4 Trường Tiểu học Huy
Thượng nói riêng, học sinh tiểu học nói chung yêu thích và học tập tốt môn Tiế ng Viê ̣t

trình mới” (Nhà xuất bản giáo dục - 2003) đã đưa ra một số vấn đề chương trình mới về
tài liệu dạy học. Đó là cơ sở giúp cho việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học tiếng
Việt nói chung và dạy Luyện từ và câu nói riêng.
Trong cuốn “Dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học” do tác giả Chu Thị Thủy An (chủ
biên) đã đi sâu nghiên cứu vị trí, nhiệm vụ, chương trình sách giáo khoa, nguyên tắc dạy
học, đồng thời nêu phương thức tổ chức dạy học các kiểu bài Luyện từ và câu. Tác giả
cũng nhấn mạnh đến một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú và năng khiếu Luyện từ và
câu. Đây chính là những đóng góp thiết thực của giáo viên cần học tập để nâng cao hơn
quá trình dạy học.
Các công trình trên với các hướng nghiên cứu khác nhau, xong đều đưa ra được các
lí luận có tính thuyết phục để vận dụng vào dạy học Luyện từ và câu. Đây là cơ sở để tôi
đi sâu nghiên cứu “Một số phương pháp dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Trường Tiểu học Huy Thượng - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La” sao cho hiệu quả.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Phân môn Luyện từ và câu là một phân môn đặc biệt quan trọng trong chương trình
Tiểu học nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng, song hiệu quả dạy học Luyện từ và
câu chưa thực sự như mong muốn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi đặc biệt
khó khăn.
Vì vậy, tôi tiế n hành nghiên cứu đề tài : “Một số phương pháp dạy Luyện từ và câu
cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Huy Thượng - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La” nhằ m :
4


góp phần đổi mới phương pháp dạy Luyện từ và câu theo hướng tích cực, phát huy tính
tính chủ động, sáng tạo của học sinh; hình thành và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực hành.
Đồng thời nghiên cứu đề tài nhằm phục vụ cho việc dạy học; tạo điều kiện cho học
sinh nắm bắt tri thức môn Tiếng Việt dễ dàng hơn, ghi nhớ lâu hơn; góp phần nâng cao sự
hiểu biết và kinh nghiệm cho bản thân.

pháp cụ thể: dự giờ, trao đổi trực tiếp, điều tra, so sánh đối chiếu vấn đề lý luận với thực
tiễn từ đó khái quát rút ra kết luận.
Phương pháp thực nghiệm thiết kế một số giáo án và dạy thực nghiệm.
7. Đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thiện sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho công tác nghiên cứu khoa học
về một số phương pháp dạy Luyện từ và câu cho sinh viên khoa Tiểu học - Mầm non và
những độc giả quan tâm đến vấn đề này. Đồng thời là nguồn tài liệu có giá trị cho giáo
viên Tiểu học trong quá trình dạy học của mình.
Qua quá trình tập dượt công tác nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu sẽ tích lũy,
bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, thực tế phổ thông để chuẩn bị hành trang cho
công tác ở trường phổ thông sau này.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Một số phương pháp dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

6


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong chương 1, tôi sẽ nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến vấn
đề một số phương pháp dạy học Luyện từ và câu. Ngoài ra, tôi nghiên cứu về mục tiêu, vị
trí, nhiệm vụ và nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 4. Thực trạng của
việc sử dụng các phương pháp dạy học vào phân môn Luyện từ và câu cũng góp phần tạo
nền tảng lí luận vững chắc cho khóa luận.
1. Cơ sở lí luận
1.1. Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu

Đối với học sinh lớp 4, phân môn Luyện từ và câu có vai trò rất quan trọng. Ngoài
việc cung cấp cho học sinh những hiểu biết nhất định về: cấu tạo tiếng, phân biệt các từ
loại như từ đơn, từ ghép, từ láy và các loại từ (danh từ, động từ và tính từ), giới thiệu cho
học sinh các mẫu câu đơn giản: Ai thế nào? Ai làm gì? Ai là gì? và cách sử dụng câu theo
mục đích nói… phân môn Luyện từ và câu còn hỗ trợ rất lớn cho phân môn Tập làm văn
ở lớp 4. Các kĩ năng mà các em được học ở tiết Luyện từ và câu sẽ giúp các em trong quá
trình tạo lập văn bản viết. Do vậy mà tiết Tập làm văn thường được sắp xếp theo sau tiết
Luyện từ và câu.
1.1.2. Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu
Tất cả các môn học và các phân môn Tiếng Việt đều có vai trò to lớn trong việc dạy
từ. Chúng mở rộng sự hiểu biết về thế giới, con người và vì thế góp phần làm giàu vốn từ
cho học sinh. Hơn nữa để nắm bất kỳ môn học nào (Toán, Tự nhiên và xã hội…) học sinh
đều phải nắm vốn từ tối thiểu của môn học đó. Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc
Tiểu học nhằm hình thành và phát triển giúp học sinh có các kỹ năng sử dụng tiếng Việt
(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Giúp học sinh có cơ sở tiếp thu kiến thức ở các phân môn khác trong môn Tiếng Việt
cũng như các môn học khác, các kiến thức ở các lớp trên. Trong bộ môn Tiếng Việt, phân
môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ làm giàu vốn từ và phát triển năng lực dùng từ đặt câu
cho học sinh.

8


Luyện từ và câu mở rộng vốn từ và trang bị cho học sinh những hiểu biết sơ giản về
cấu tạo từ, từ loại, câu và dấu câu. Trên cơ sở vốn từ có được trước khi đến trường, từ
những hiện tượng cụ thể của tiếng mẹ đẻ, phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho học
sinh một số kiến thức về câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với các em. Luyện từ và
câu trang bị cho học sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của
chúng. Cụ thể đó là kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức
về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản

luyện tập kỹ năng thực hành còn có bài lý thuyết cung cấp cho học sinh một số kiến thức
sơ giản về từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm tiếng Việt cụ thể được chia thành các mảng kiến
thức sau :
1.2.1. Mở rộng và hệ thống hóa vốn từ
Từ tồn tại trong đầu óc con người không phải những yếu tố rời rạc mà là một hệ
thống. Chúng được sắp xếp theo một hệ thống liên tưởng nhất định. Giữa từ với những từ
khác có một nét gì đó chung khiến nó làm cho ta nhớ đến những thứ kia. Nhờ quy luật
này, từ được tích lũy nhanh chóng hơn, cũng nhờ quy luật này từ mới có thể vận dụng
được trong lời nói. Khi sử dụng, nhờ hệ thống liên tưởng, học sinh nhanh chóng huy
động, lựa chọn từ ngữ phù hợp với yêu cầu giao tiếp. Mở rộng vốn từ nghĩa là xây dựng
một kho từ ngữ phong phú, thường trực và có hệ thống trong trí nhớ của học sinh để tạo
điều kiện cho từ đi vào hoạt động ngôn ngữ được thuận lợi. Vì vậy, việc mở rộng và hệ
thống hóa vốn từ được thực hiện thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập. Thông qua
các bài tập không chỉ có tác dụng huy động mở rộng vốn từ mà còn có tác dụng giúp học
sinh sắp xếp các từ một cách có hệ thống để tích lũy từ được nhanh chóng và tạo ra tính
thường trực của từ, tạo điều kiện cho việc huy động và sử dung từ trong hoạt động lời nói
được thuận lợi. Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 bao gồm các từ thuần Việt, Hán
Việt, thành ngữ, tục ngữ phù hợp với chủ điểm học tập của từng đơn vị học. Làm giàu
vốn từ thông qua hệ thống các bài tập đọc, những câu chuyện kể, các bài tập làm văn…
tất cả các bài tập đọc, các nhóm từ, các bài tập về từ đều được sắp xếp, hệ thống hóa và
mở rộng theo trường nghĩa tương đương các chủ điểm. Các bài tập mở rộng vốn từ
thường vừa sức với học sinh tiểu học, diễn ra tự nhiên và gây hứng thú.

10


Trong chương trình tiểu học, phân môn Luyện từ và câu ở học kỳ 1 gồm có những
chủ điểm như sau:
Thứ nhất: chủ điểm nói về tình thương yêu của con người với nhau và sự đoàn kết
các dân tộc cũng như các nước trên thế giới với nhau. Đây chính là chủ điểm về thương

hiêu quả. Chương trình lớp 4, cung cấp cho các em theo con đường quy nạp thông qua
thực hành, một số kiến thức sơ giản về từ ngữ và ngữ pháp để sử dụng tiếng Việt có ý
thức hơn.
1.2.2 Kiến thức về từ và kĩ năng dùng từ
Ngôn ngữ của chúng ta là ngôn ngữ của từ. Từ có vai trò quan trọng đặc biệt trong
hệ thống ngôn ngữ, là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Chính vì vậy, dạy từ có vị trí rất
quan trọng, không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắm ngôn ngữ như một phương
tiện giao tiếp. Dạy từ tức là làm cho học sinh nắm nghĩa từ, phạm vi sử dụng chúng, nắm
tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ, các từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm. Phân
môn Luyện từ và câu làm phong phú, chính xác và tích cực hóa vốn từ của học sinh cũng
như cung cấp cho học sinh một số khái niệm từ vựng học cơ bản. Tích cực hóa vốn từ,
nghĩa là dạy học sinh sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và lời viết của
học sinh “đưa từ” vào trong vốn từ được học sinh dùng thường xuyên, loại ra khỏi vốn từ
tích cực của học sinh những từ ngữ không văn hóa. Đồng thời, hình thành khả năng phát
hiện từ mới cần tiếp nhận trong văn bản, nắm thao tác giải nghĩa từ, phát hiện những
nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong các ngữ cảnh khác
nhau.
Ngoài ra, còn trang bị cho học sinh một số kiến thức cơ bản về từ và kỹ năng dùng
từ, cung cấp cho học sinh những từ thông dụng tối thiểu về thế giới xung quanh như công
việc của học sinh ở trường và ở nhà, tình cảm gia đình, vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, con
người... Các kiến thức về từ ở Tiểu học phù hợp với yêu cầu phát triển lời nói của học
sinh, đồng thời cũng đảm bảo các nguyên tắc giáo dục của dạy từ. Các kiến thức về từ chủ
yếu gắn với việc giáo dục trẻ em tình yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động. Làm giàu
nhận thức, mở rộng tầm mắt của học sinh, giúp các em nhìn thấy vẻ đẹp của quê hương,
con người, dạy các em yêu và ghét. Toàn bộ vốn từ của một ngôn ngữ có thể phân chia
thành nhiều lớp từ khác nhau. Nếu sự phân chia ấy căn cứ trên cấu tạo của từ, ta có các
lớp từ được gọi là từ đơn, từ phức, từ ghép và từ láy. Từ loại gồm có danh từ, động từ và
12




Câu kể bao gồm có các nội dung sau: câu kể là gì?, cách dùng câu kể, câu kể ai là
gì?, chủ ngữ và vị ngữ trong câu kể ai là gì?, câu kể ai thế nào? chủ ngữ và vị ngữ trong
câu kể ai thế nào?, câu kể ai làm gì?, chủ ngữ và vị ngữ trong câu kể ai làm gì?.
Câu khiến (câu cầu khiến) bao gồm có các nội dung sau: câu khiến là gì?, nhận
dạng câu khiến, cách đặt câu khiến, giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu đề nghị.
Câu cảm (câu cảm thán) bao gồm các nội dung sau: câu cảm là gì?, nhận dạng câu
cảm.
Câu được chia theo cấu trúc câu đơn. Câu đơn là câu có nòng cốt được làm thành từ
một cụm chủ ngữ - vị ngữ. Thành phần phụ của câu đơn là trạng ngữ. Trong đó, trạng ngữ
gồm có các nội dung như sau: trạng ngữ là gì?, thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu,
thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu, thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu, thêm
trạng ngữ chỉ mục đích cho câu, thêm trạng ngữ chỉ phương tiện cho câu.
Trong chương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 cung cấp kiến thức về công
dụng và luyện tập sử dụng các dấu câu. Dấu câu là hình thức chữ viết chủ yếu biểu thị
ngữ điệu của câu. Dấu câu là kí hiệu có chức năng phân cách các câu, các bộ phận cấu tạo
và biểu thị ý nghĩa tình thái của câu. Một số loại dấu câu học sinh được học là: dấu chấm
hỏi, dấu gạch ngang, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu chấm than. Nếu học sinh không
dùng hoặc dùng dấu câu không đúng khiến cho người đọc không hiểu hoặc có những cách
hiểu khác nhau về nội dung văn bản tùy vào việc sử dụng ngữ điệu của lời đọc. Như vậy,
dấu câu có tác dụng làm cho quan hệ ngữ pháp giữa các từ ngữ, giữa các bộ phận cấu tạo
câu được biểu thị rõ ràng, giúp người đọc hiểu đúng văn bản. Việc học phân môn Luyện
từ và câu còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng đặt câu. Học sinh đặt câu có cấu tạo đúng
quy tắc ngữ pháp tiếng Việt, đúng về nội dung ý nghĩa và biết cách sử dụng dấu câu hợp
lí, đặt dấu câu vào chỗ thích hợp, tập viết câu, đoạn có sử dụng dấu câu, biết đặt và trả lời
câu hỏi trong trao đổi và thảo luận về bài học hoặc một vấn đề gần gũi.
Ngoài ra, phân môn Luyện từ và câu còn cung cấp cho học sinh về nội dung Ngữ âm
- Chính tả. Đó là các nội dung về cấu tạo tiếng, cách viết tên người, tên địa lý Việt Nam;
cách viết tên người, tên địa lý nước ngoài; cách viết tên các cơ quan, tổ chức, giải thưởng,
danh hiệu, huy chương.

cũng như trong quá trình giao tiếp hằng ngày.

15


Ngoài ra, giáo viên cần khơi gợi lại kiến thức, kỹ năng tiếng Việt ở phân môn Luyện
từ và câu từ lớp 2, lớp 3 để học sinh nhớ lại những kiến thức, kỹ năng cơ bản đã được
học. Từ đó, để hình thành và phát triển thêm các kiến thức và kỹ năng tiếng Việt mới cho
học sinh trở nên phong phú và đa dạng hơn khi học phân môn Luyện từ và câu của lớp 4.
* Sử dụng từ, câu tiếng Việt giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, năng lực tư duy
Trước hết ta phải hiểu thế nào là năng lực tư duy là? năng lực tư duy là điều kiện cần
và đủ để khám phá và lĩnh hội tri thức. Ngày nay, khi nền kinh tế tri thức tác động mạnh mẽ
đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì việc luyện tư duy của mỗi người lại càng hết
sức cần thiết. Trong nền kinh tế ấy, tri thức trở thành chia khóa mở cửa tương lai. Không có
những năng lực, phẩm chất của tư duy, con người không có khả năng nắm bắt tri thức, lĩnh
hội tri thức và cũng không có khả năng vận dụng tri thức.
Quá trình chiếm lĩnh tiếng Việt văn hóa ở các em học sinh là quá trình dần dần
thông hiểu cấu trúc tiếng Việt, quy luật hoạt động của nó trên cơ sở đó mà hình thành các
kỹ năng và kỹ xảo lời nói. Song song với quá trình này, đồng thời cũng xảy ra quá trình
hình thành và phát triển các thao tác tư duy, các phẩm chất tư duy bởi vì có vốn từ phong
phú thì tư duy mới có thể phong phú theo được.
Thông qua các bài Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu… dạy cho
học sinh những thao tác tư duy cơ bản, dạy cách học tập và rèn luyện những thói quen cần
có ở Tiểu học, học sinh được rèn luyện và phát triển trí tưởng tượng ngay từ các bài thơ,
bài văn, qua các câu chuyện kể…. Học sinh hiểu ý nghĩa của các từ, cách dùng từ, đặt
câu, sử dụng dấu câu để nói, viết đúng, viết hay, vận dụng một số biện pháp tu từ vào
trong quá trình giao tiếp của mình. Đối với mỗi học sinh nếu các em am hiểu về từ, về câu
và cách vận dụng của chúng thì khi trình bày một vấn đề nào đó các em sẽ trình bày một
cách lưu loát, diễn đạt một cách dễ hiểu.
Do đó, học sinh cần tự tìm hiểu kiến thức cho mình bằng cách đọc sách, báo, truyện

Từ đó, học sinh biết phân biệt cái đẹp - cái xấu, cái thiện - cái ác để hoàn thiện nhân
cách, tích lũy vốn từ vựng cho bản thân. Ngoài ra, còn giúp cho học sinh có ý thức tốt
trong việc sử dụng tiếng Việt có văn hóa vào giao tiếp hằng ngày, cần tạo thói quen sử
dụng tiếng Việt để cho học sinh tích lũy được nhiều kiến thức và vốn hiểu biết cần thiết
về tiếng Việt. Hình thành và bồi dưỡng kĩ năng sử dụng tiếng Việt chính là tạo thói quen
17


gìn giữ sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt và góp phần hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tạo điều kiện cho học sinh trở thành những
nhà ngôn ngữ học trong tương lai. Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và
câu nói riêng bồi dưỡng cho học những tình cảm chân chính, lành mạnh như: tình cảm gia
đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước, con người, đồng thời hình
thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp.
Để tạo một thói quen tốt, trước hết gia đình và xã hội phải là cái nôi để hình thành ý
thức sống lành mạnh và giao tiếp có lễ phép, có lịch sự với ông bà, cha mẹ và mọi người
xung quanh cho học sinh ngay từ khi các em sinh ra. Để đến khi đi học sẽ giúp học sinh
tiếp thu kiến thức nhanh chóng và có thói quen sử dụng tiếng việt có văn hóa vào trong
giao tiếp từ đó tích lũy được nhiều hiểu biết tốt đẹp về tiếng Việt cho bản thân, để tương
lai sẽ trở thành con người có ích cho xã hội.
Ngoài ra, người giáo viên cần là người sống có ý thức, trách nhiệm, có thói quen sử
dụng tiếng Việt có văn hóa vào trong giao tiếp cũng như khi giảng dạy, trò chuyện gần
gũi với học sinh, để tạo hình tượng đẹp trước mắt học sinh để học sinh trau dồi được
những ý thức tốt cũng như thói quen sử dụng tiếng Việt có văn hóa vào trong giao tiếp để
tích lũy được những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt.
2. Cơ sở thực tiễn
Trường Tiểu học Huy Thượng - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La có tổng số 2 giáo viên
khối lớp 4. Các giáo viên tham gia giảng dạy lớp 4 đều đạt chuẩn của giáo viên Tiểu học
đều đạt trình độ cao đẳng, đại học. Lớp 4A có 26 học sinh, giáo viên chủ nhiệm là cô Lê
Thị Hoa trình độ Đại học Tiểu học. Lớp 4B Có 24 học sinh, giáo viên chủ nhiệm là cô

phân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc, việc xác định còn nhầm lẫn nhiều. Học sinh
chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ xót, làm sai hoặc không
làm hết yêu cầu của đề bài.
Khi điều tra về những điều kiện thuận lợi và khó khăn của học sinh lớp 4 về khả
năng tiếp thu kiến thức cho bản thân thì giáo viên cho rằng về cơ bản học sinh trong trường
đều sống trong môi trường có nhiều thuận tiện về thông tin, sự quan tâm chăm sóc từ nhỏ nên
khả năng tiếp thu và sử dụng vốn từ vào giao tiếp của học sinh tương đối tốt. Đây là thuận lợi
lớn mà nhiều trường trong địa bàn tỉnh Sơn La không có được (nhất là trường vùng sâu, vùng
xa ít được tiếp xúc với phương tiện thông tin đại chúng).
19


Tuy nhiên, qua việc khảo sát thực trạng học tập phân môn Luyện từ và câu thì tôi
thấy trong quá trình làm bài học sinh còn gặp một số khó khăn như sau: đây là phương
thức học tập còn tương đối khó khăn với học sinh, khó khăn trong việc tiếp nhận bài mới
qua cách giao tiếp và qua cách làm bài. Chẳng hạn như các em không hiểu cách làm,
không hiểu câu hỏi nên dẫn đến tình trạng làm sai và bỏ bài không làm được. Đặc biệt là
học sinh dân tộc thiều số, học sinh vùng miền núi nên các em chưa có được kỹ năng làm
bài hiệu quả, phương pháp không cao.
2.2. Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4
Những năm gần đây, do ngày càng nhận thức rõ tầm quan trọng của phương pháp
dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Phong trào đổi mới phương pháp dạy học đã
được phát động trong các trường tiểu học. Vận dụng theo hướng tích cực hóa hoạt động
của người học đã đóng góp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tuy nhiên,
việc dạy phân môn Luyện từ và câu không ít giáo viên vẫn chưa thoát khỏi quỹ đạo của
phương pháp dạy học truyền thống. Một số giáo viên coi học sinh tiểu học là đối tượng
nói theo, làm theo khuôn mẫu. Chính vì vậy, cần cải tiến phương pháp dạy học “Luyện từ
và câu” theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học để giờ học sinh động hấp dẫn,
hiệu quả.
Phân môn “Luyện từ và câu” tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để học sinh mở

gặp khó khăn vì nhiều em không hiểu nghĩa của từ mới, từ đó dẫn đến việc các em không
biết sử dụng từ vào các văn cảnh ngữ cảnh.
Đối với học sinh tiểu học, tư duy của các em còn thiên về trực quan cụ thể. Những gì
các em nhìn thấy, nghe thấy sẽ giúp các em ghi nhớ và hứng thú hơn thì đồ dùng trực
quan là yếu tố không thể thiếu trong giờ học. Các giáo viên thường sử dụng trực quan là
tranh ảnh minh họa.
Bảng phụ để ghi các dạng bài tập cần làm. Mục đích sử dụng bảng phụ là giúp học
sinh quan sát dễ hơn, lớp học tập trung hơn và tạo điều kiện thuận cho việc sử dụng các
hình thức dạy học. Tuy nhiên, số lượng giáo viên sử dụng bảng phụ là không nhiều và
mức độ sử dụng bảng phụ cũng chưa cao. Còn phiếu bài tập ít được giáo viên chú trọng
đến. Như vậy, có thể thấy rằng sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Luyện từ và câu
cho học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Huy Thượng - huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La mặc dù

21


đã được chú ý song vẫn chưa được coi trọng đúng mực, điều đó gây ảnh hưởng không
nhỏ đến việc giải nghĩa từ và sử dụng từ cho học sinh.
Ngoài ra, trình độ giáo viên chưa đồng đều, vốn hiểu biết về ý nghĩa của từ của một
số giáo viên còn hạn chế chưa hiểu sâu về kiến thức về câu, về từ. Mức độ hiểu nghĩa từ,
miêu tả giải nghĩa từ còn nhiều khúc mắc, phương pháp dạy học của giáo viên còn đơn
điệu, cứng nhắc chưa linh hoạt, ít sáng tạo chưa lôi cuốn được học sinh gây ra sự nhàm
chán. Do đó, sự tìm tòi học hỏi và tự học tự rèn có phần hạn chế khả năng diễn đạt giảng
giải chưa lưu loát làm cho học sinh khó hiểu. Một số giáo viên còn sử dụng phương pháp
giảng dạy cũ nên việc phân chia thời lượng lên lớp ở mỗi môn dạy đôi khi còn dàn trải,
hoạt động của cô của trò có lúc thiếu nhịp nhàng.
Việc sử dụng các phương pháp sao cho hiệu quả cũng là vấn đề cần lưu ý. Để khảo
sát vấn đề này, tôi đã hỏi cô Lê Thị Hoa và cô Cầm Thị Huệ câu hỏi: “Khi dạy Luyện từ
và câu cô thường sử dụng phương pháp nào?”. Thì 100% giáo viên trả lời thường xuyên
sử dụng phương pháp trực quan, phương pháp thảo luận, phương pháp luyện tập và một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status