CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUẾ QUAN
1. Động lực cải cách
- Theo Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2014 (Doing Business) của Ngân
hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), chỉ số “nộp thuế”
của Việt Nam xếp hạng thứ 149/189 trong số các quốc gia và vùng lănh thổ,
với tổng số thời gian nộp thuế năm 2014 là 872 giờ, DN làm các thủ tục thuế
(GTGT, TNDN) là 537 giờ, bảo hiểm xã hội là 335 giờ. Theo tính toán của
WB, phần lớn thời gian DN dùng để chuẩn bị tài liệu, rà soát, ghi chép số
liệu để thực hiện kê khai thuế (do khác biệt về quy định của chính sách thuế
và kế toán).
- Số giờ nộp thuế đứng “đội sổ” bảng xếp hạng mức độ thuận lợi về thuế
trong nhóm 12 nước ASEAN + Trung Quốc, thua kém hơn cả Lào,
Campuchia và Myanmar
2. Mục đích Cải cách
- Cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy tăng truỏng kinh tế.
- Tạo môi trường đầu tư năng động, bình đẳng, thông thoáng để thu hút các
nguồn vốn đầu tư phát triển tư nhân và quốc tế.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp VN.
- Tăng cượng hiệu lực, hiệu quả bộ máy quản trị nhà nước.
3. Mục tiêu cải cách
Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 đã nêu rõ mục tiêu
của cải cách quản lý thuế đó là ;
- Hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý,
thủ tục hành chính theo định hướng chuẩn mực quốc tế;
- Nâng cao hiệu quả, hiệu lực bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ; Kiện toàn,
hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị;
- Tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ và cung cấp dịch vụ cho người nộp thuế;
- Nâng cao năng lực hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát tuân thủ pháp
luật của NNT;
- Ứng dụng công nghệ thông tin và áp dụng thuế điện tử để nâng cao hiệu
lực, hiệu quả công tác quản lý thuế, phân đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm các
trợ, kê khai thuế, thanh tra, kiểm tra, quản lý nợ thuế. Để quản lý thuế đảm
bảo theo mô hình chức năng, Tổng cục Thuế đã xây dựng hệ thống các quy
trình quản lý thu, sổ tay nghiệp vụ và đã thu được nhiều kết quả khả quan.
( Phần note tr 3 nhá)
Đơn giản hóa TTHC Thuế
Triển khai Nghị quyết 25/NQ-CP và Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính
phủ về đơn giản hóa TTHC, ngành Thuế đã công khai danh mục các TTHC
thuế tại bộ phận “một cửa” của cơ quan thuế các cấp. Đồng thời, ngành Thuế
đã thực hiện rà roát, đơn giản hóa 100% các TTHC thuế. Theo đó:
- đã đơn giản hoá thủ tục và thời gian đăng ký thuế;
- Giảm tần suất kê khai thuế GTGT của các DN nhỏ và vừa từ 12 lần/năm
xuống còn 4 lần/năm;
- Rút ngắn thời hạn giải quyết đối với trường hợp “kiểm tra trước, hoàn thuế
sau” từ 60 ngày xuống còn 40 ngày đối với các trường hợp “hoàn thuế trước,
kiểm tra sau” từ 15 ngày làm việc xuống còn 6 ngày làm việc, thời hạn giải
quyết thủ tục gia hạn nộp hồ sơ khai thuế từ 05 xuống còn 03 ngày làm việc.
- cơ quan thuế đã thực hiện gộp 5 tờ khai các loại thuế vào 1 tờ khai duy
nhất, giúp đơn giản hóa các TTHC cho các hộ kinh doanh nộp thuế theo
phương pháp khoán;
- Giảm tần suất kê khai đối với tổ chức chi trả thu nhập cá nhân có số thuế
phải nộp từ 50 triệu đồng/tháng trở lên;
- Giảm khối lượng quyết toán thuế cho NNT…
6. Tồn tại và hạn chế
Một số chính sách thuế vẫn còn phức tạp, thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với
thực tế, gây khó khăn cho NNT
- Kê khai quyết toán thuế TNCN đối với từng người chưa phù hợp điều
kiện người dân;
- Thu lũy tiến theo diện tích sử dụng đối với thuế sử dụng đất phi nông
kinh tế mới phát sinh, chính sách quản lý thuế nói chung và chính sách thuế
nói riêng thường xuyên thay đổi cho phù hợp với quá trình vận động của nền
kinh tế.
- Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị và ý thức
chấp hành kỷ cương, kỷ luật của một bộ phận cán bộ công chức chưa quyết
liệt, thiếu trách nhiệm trong chỉ đạo, điều hành.
- Sự phối hợp chưa thống nhất, thiếu đồng bộ giữa cơ quan thuế với cơ
quan tài chính, đất đai, tài nguyên khoáng sản, kế hoạch đầu tư, quản lý khu
công nghiệp đã ảnh hưởng lớn đến việc DN, người dân thực hiện các nghĩa
vụ với NSNN như: Thu tiền sử dụng đất, thu thuế sử dụng đất phi nông
nghiệp, thu thuế TNDN trường hợp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư ghi ưu
đãi thuế chưa phù hợp với quy định của pháp luật… đã gây khó khăn, phiền
hà cho DN, bức xức cho người dân.
- Một bộ phận NNT chưa nghiêm túc chấp hành chính sách pháp luật thuế,
lợi dụng sự thông thoáng trong chính sách quản lý, sử dụng hóa đơn, thành
lập DN để trốn thuế, trục lợi tiền thuế (từ năm 2011- 2013, đã có 10.373 vụ
vi phạm pháp luật về thuế bị xử lý).
- Hiện nay, cơ quan Thuế vẫn chưa có chức năng thanh tra hành chính nên
hoạt động kiểm tra, phát hiện, răn đe đối với các hành vi vi phạm của công
chức trong thực thi công vụ chưa hiệu quả.
7. Giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cải cách TTHC về thuế
Một là, tiếp tục rà soát và đơn giản hóa hệ thống pháp luật về thuế, tạo điều
kiện cho DN trong quá trình thực hiện, đơn giản hóa thủ tục hành chính về
mức thuế suất, phương pháp tính, giá tính… cũng như mẫu biểu kê khai.
- Hệ thống thuế đơn giản là một hệ thống thuế với ít sắc thuế và mức thuế
suất hạn chế việc miễn, giảm thuế.
- Đối với các nước đang phát triển, một hệ thống chính sách thuế đơn giản sẽ
dễ quản lý và dẫn đến mức độ tuân thủ cao hơn một hệ thống thuế phức tạp
qua Internet là 60%; Nhật Bản thanh toán qua ngân hàng bưu điện là 75%,
trừ nợ trực tiếp là 16%; Italia thanh toán qua ngân hàng, bưu điện là 29%,
qua Internet là 30% và trừ nợ trực tiếp là 41%; Hàn Quốc thanh toán qua
ngân hàng, bưu điện là 69% và qua Internet là 18…
Bốn là, không ngừng nâng cao năng lực nghiệp vụ của cán bộ công chức
quản lý thuế, hải quan với việc tham gia các lớp đào tạo nghiệp vụ chuyên
môn… Từ đó, tạo ra một đội ngũ quản lý thuế, hải quan giỏi về chuyên môn,
nghiệp vụ, trung thực khách quan.
Năm là, tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực thực hiện tích hợp
thuế và hải quan với các nước trong khu vực nhằm hướng tới Cộng đồng
kinh tế ASEAN không biên giới.