TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
N G U Y ỄN D Ư Ơ N G TH ÙY D U NG
XÂY DựNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHO
NỘI DƯNG DẠY HỌC PHÂN SỐ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 4
KHÓA LUẬN TỐT N G H IỆP Đ Ạ I HỌC
Chuyên ngành: G iáo dục Tiểu học
Hà Nội - 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
N G U Y ỄN D Ư Ơ N G TH ÙY D U NG
XÂY DựNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHO
NỘI DUNG DẠY HỌC PHÂN SỐ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 4
KHÓA LUẬN TỐT N G H IỆP Đ Ạ I HỌC
Chuyên ngành: G iáo dục Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
TS. Pham Đức Hiếu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Đức Hiếu. Những kết quả và số liệu trong
đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi hoàn
toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Người thực hiện đề tài
Nguyễn Dương Thùy Dung
DANH MUC VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Viết tắt
Trắc nghiệm khách quan
TNKQ
Phương pháp dạy học
PPDH
Sách giáo khoa
SGK
1.1.1. Khái niệm trắc nghiệm khách quan.................................................... 5
1.1.2. Tình hình sử dụng trắc nghiệm khách quan trên thế giới và Việt
Nam................................................................................................................ 5
1.1.3. Hình thức của trắc nghiệm khách quan............................................... 7
1.1.4. Đặc điểm của trắc nghiệm khách quan............................................... 7
1.1.5. Vai trò của ưắc nghiệm khách quan.....................................................8
1.1.6. Các loại bài tập ưắc nghiệm khách quan thông dụng......................... 9
1.1.7. Nguyên tắc khi xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan............... 14
1.1.8. Những lưu ý cần tránh khi khi xây dựng bài tập trắc nghiệm khách
quan.............................................................................................................14
1.2. Nội dung dạy học về phân số trong chương trình Toán 4 ................ 16
1.2.1. Nội dung chủ yếu về dạy học phân số ừong chương trình Toán 4... 16
1.2.2. Đặc điểm dạy học phân số trong chương trình Toán 4 .................... 17
1.2.3. Chuẩn kiến thức kỹ năng phân số trong chương trình Toán 4......... 18
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
CHO NỘI DUNG PHÂN SỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 4 ....... 20
2.1. Xây dựng quy trình thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan20
2.1.1. Yêu càu khi thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan.......20
2.1.2. Quy trình thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan........... 20
2.2. Bảng ma trận các câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho nội dung phân
số ừong chương trình Toán 4 ......................................................................23
2.3. Hệ thống các bài tập trắc nghiệm khách quan cho nội dung phân số
trong chương trình Toán 4 ..........................................................................27
2.3.1. Phân số và tính chất cơ bản của phân số.......................................... 27
2.3.2. So sánh phân số.................................................................................30
2.3.3. Các phép tính về phân s ố ..................................................................31
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN CHO NỘI DUNG DẠY HỌC PHÂN SỐ TRONG
hệ thống bài tập TNKQ nội dung phân số lớp 4 ................................
37
MUC
LUC
HÌNH
•
•
Trang
Hình 2.1.2. Quy trình thiết kế hệ thống bài tập TNKQ
20
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu, đóng vai ừò quan ừọng trong
việc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Dân tộc ta bao đời nay luôn coi
trọng ngưòi tài, bởi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Trải qua bao biến
cố lịch sử, việc đào tạo nhân tài vẫn luôn được coi trọng hàng đầu. Cũng bởi lẽ
vậy, giáo dục và đào tạo luôn là vấn đề được toàn xã hội quan tâm dù ở bất kì
quốc gia nào. Trong thời đại xã hội phát triển như ngày nay, khi khoa học công
nghệ tác động đến mọi mặt của cuộc sống, đất nước ta đang trong thòi kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, giáo dục cũng phải đổi mói toàn diện để giải quyết
kịp thòi các nhiệm vụ mà xã hội đặt ra, đó là giáo dục con người phát triển một
cách toàn diện, hài hòa đủ các mặt tri thức, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất.
Cấp Tiểu họclà bậc học nền tảng của giáo dục. Điều 2, chương I, Luật phổ
học. HS được làm quen với phân số từ lớp 2 và đưa vào dạy hoàn chỉnh ở lớp
4. Mảng kiến thức này có liên quan rất nhiều đến các nội dung như: Phân số
thập phân, số thập phân, các phép tính của số thập phân..., mà các em sẽ học ở
lớp 5 sau này. Tuy rất quan trọng trong chương trình dạy học cũng như trong
thực tế cuộc sống, nhưng nội dung kiến thức về phân số tương đối khó, mang
tính trừu tượng cao nên đa phần HS Tiểu học gặp nhiều khó khăn trong việc
tiếp thu như nhầm lẫn các kiến thức và không nắm được bản chất của phân số.
Trong thực tế, nhiều GV chỉ chú trọng mục tiêu cung cấp kiến thức mà chưa
chú ý đến việc phát huy tính tích cực trong học tập của HS. Việc sử dụng hệ
thống bài tập trong quá trình dạy học của GV còn lúng túng, chưa phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Do đó đòi hỏi phải có một hệ
thống bài tập vừa rèn luyện được kiến thức, kĩ năng của HS, vừa phát huy được
tính tích cực trong học tập của các em. Hiện nay trên thế giói có một hình thức
2
bài tập rất phổ biến đó là bài tập TNKQ. Hình thức TNKQ vừa bộc lộ được
những ưu điểm như có thể rèn cho HS các kiến thức kĩ năng một cách bao quát
và khách quan, phát huy năng lực tư duy nhạy bén của HS, bên cạnh đó nó cũng
khắc phục được những hạn chế trong hình thức bài tập tự luận truyền thống.
Để đáp ứng những yêu cầu đổi mới về mục tiêu cấp học nêu trong Luật giáo
dục (2005) chương trình Toán không quá coi trọng tính cấu trúc, hạn chế đưa
vào chương trình những kết quả có ý nghĩa lý thuyết thuần túy. Tăng tính thực
tiễn và tính sư phạm, tạo điều kiện để HS được tăng cường luyện tập, thực hành,
rèn luyện kĩ năng tính toán vận dụng toán học vào đòi sống và các môn học
khác. Giúp HS phát triển tư duy lôgic, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động sáng tạo, khả năng diễn đạt chính xác ý tưởng của mình, khả năng tưởng
tượng và bước đầu hình thành cảm xúc thẩm mỹ qua học tập môn Toán.
Xuất phát từ những yêu cầu đổi mới và cơ sở lý luận trên, nghiên cứu này
6. Cấu trúc khóa luận
Khóa luận gồm: 3 chương.
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập TNKQ cho nội dung dạy học phân
số ừong chương trình Toán 4.
- Chương 3: Đánh giá hệ thống bài tập TNKQ cho nội dung dạy học phân số
trong chương trình Toán 4.
4
PHẦN NÔI DUNG
CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Trắc nghiệm khách quan
1.1.1. Khái niệm trắc nghiệm khách quan
Theo Từ điển Tiếng Việt (2009) của viện Ngôn ngữ học, NXB Trung Tâm
từ điển, theo nghĩa chữ Hán, "trắc" có nghĩa là "đo lường", "nghiệm" là "suy
xét", "chứng thực".
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường
năng lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định.
TNKQ là phương pháp mà người ta dùng những bài tập ngắn có kèm theo
câu trả lòi để thực hiện những mục đích xác định (kiểm tra hoạt động nhận thức,
năng lực trí tuệ, kỹ năng của HS sau khi học xong một bài, một phần kiến
thức,...) [1; 55].
TNKQ là hình thức HS sử dụng các ký hiệu đơn giản như A, B, c,... để đưa
ra câu trả lời đúng. Thông thường có nhiều câu trả lời được đưa ra cho mỗi câu
hỏi nhưng chỉ có một câu trả lời đúng nhất là đáp án của câu hỏi. Điểm của bài
trắc nghiệm được chấm bằng cách đếm số lần HS chọn câu trả lời đúng. Vì
không phụ thuộc vào người chấm nên việc cho điểm mang tính khách quan cao.
1.1.2. Tĩnh hình sử dụng trắc nghiệm khách quan trên thế giới và Việt Nam
tra trắc nghiệm ” của Lâm Quang Thiệp hay “Trắc nghiệm và đo lường thành
quả học tập ” của Dương Triệu Thống.
Kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào các trường Đại học - Cao đẳng năm
2006, lần đầu tiên hình thức thi TNKQ được áp dụng với môn Ngoại ngữ.
PGS.TS Nguyễn Hữu Lân đánh giá đó là: “Một khâu đột phá, một cuộc cách
mạng đầu tiên trong chiến lược cải cách giáo dục nói chung”.
6
Từ đó tới giờ, hình thức thi trắc nghiệm được áp dụng rộng rãi hơn vói các
môn: Toán, Lý, Hóa, Sinh.
Tình hình trên cho thấy, TNKQ đang được sử dụng khá phổ biến trong các
lĩnh vực khoa học. Song cũng càn thấy rằng nó vẫn còn mới mẻ trong thực tiễn
giáo dục nước ta.
1.1.3. Hình thức của trắc nghiệm khách quan
Một đề thi TNKQ gồm nhiều câu hỏi, thời gian dành cho HS trả lời mỗi câu
hỏi ít. Mỗi câu hỏi TNKQ thường gồm hai phàn: phần thông tin và phàn lựa
chọn.
1.1.4. Đặc điểm của trắc nghiệm khách quan
a. ưu điểm
- Trắc nghiệm cho phép trong một thời gian ngắn kiểm tra được nhiều kiến
thức cụ thể, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức, chống khuynh
hướng học tủ.
- Trắc nghiệm tốn ít thời gian thực hiện, đặc biệt là khâu chấm bài.
- Trắc nghiệm đảm bảo tính khách quan.
- Các câu hỏi, đáp án được quy định về số lượng, nội dung và đã chuẩn hóa
nên dễ dàng sử dụng phương pháp thống kê toán học để tổng hợp và xử lý kết
quả.
- Trắc nghiệm nếu được sử dụng thích họp có thể gây được hứng thú và tính
còn thụ động nữa. Mặt khác tạo hứng thú cho các em trong việc tìm kiếm và
lĩnh hội kiến thức.
- Sử dụng trong khâu học bài mói: GV có thể cho HS làm câu hỏi TNKQ,
cho HS lựa chọn phưomg án nào là đúng nhất và phát vấn thêm HS tại sao lại
chọn câu đó. Từ đó HS phải tìm tòi tài liệu mới trả lời được. GV phải khéo léo
dẫn dắt HS vào bài mới và đây là biện pháp rất có hiệu quả.
8
- Sử dụng ữong khâu ôn tập, củng cố, hoàn thiện và nâng cao: Sau mỗi bài,
mỗi chương đều nên có những bài kiểm tra bằng hình thức TNKQ sẽ giúp HS
nhớ lâu kiến thức mà không phải học vẹt như trước đây.
Như vậy, để đổi mới PPDH một trong những phương pháp có hiệu quả là sử
dụng bài tập TNKQ.
1.1.6. Các loại bài tập trắc nghiệm khách quan thông dụng
a. Trắc nghiệm Đúng - Sai (Yes/No Questions)
Trước một câu dẫn xác định (thông thường không phải là câu hỏi), HS đưa
ra nhận định và lựa chọn một trong hai phương án trả lời Đúng hoặc Sai.
❖ Ưu điểm: Là loại câu hỏi đơn giản dùng để TNKQ kiến thức về sự kiện,
vì vậy viết loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít phạm lỗi, mang tính khách
quan khi chấm.
❖ Nhược điểm: HS có thể đoán mò vì vậy độ tin cậy thấp. HS Giỏi có thể
không thoả mãn khi buộc phải chọn Đúng - Sai khi câu hỏi viết chưa kỹ càng.
VD: Đúng ghi Đ, sai ghi
s vào ô trống: 1
b. Trắc nghiệm nhiều lựa chọn ịMultỉple choise questions)
Đây là loại trắc nghiệm thông dụng nhất. Loại này thường có hai phần: Phần
• Nhược điểm:
Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu
còn lại (câu nhiễu) cũng có vẻ họp lý. Ngoài ra cần soạn câu hỏi để đo được
mức trí năng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu.
10
Có những HS có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu trả lời hay
hơn đáp án thì sẽ làm cho HS đó cảm thấy không thoả mãn.
Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh
vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng
loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận soạn kỹ.
❖
Khi thiết kế loại câu hỏi trắc nghiệm này cần lưu ý:
- Câu dẫn cần có nội dung ngắn ngọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa và diễn đạt
rõ ràng một vấn đề. Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần
phải được nhấn mạnh để HS không bị nhầm. Câu dẫn phải là câu hỏi trọn vẹn
để HS hiểu được mình đang được hỏi vấn đề gì.
- Câu chọn cũng phải rõ ràng và dễ hiểu và phải có cùng loại quan hệ với
câu dẫn, có cấu trúc song song.
- Nên có tốt nhất từ 3 - 5 câu lựa chọn trở lên, nếu số phương án lựa chọn
ít thì yếu tố đoán mò hay may rủi được tăng lên. Nhưng ngược lại nếu có quá
nhiều phương án lựa chọn thì người soạn khó soạn và HS mất nhiều thời gian
để đọc câu hỏi.
- Phải chắc chắn chỉ có một phương án ừả lời đúng, các phương án còn lại
thật sự nhiễu. Nhưng cần cố gắng sau phần nhiễu này không nhằm mục đích
chính là gây nhiễu hay gài bẫy HS mà là để phân loại HS.
c. Trắc nghiệm điền khuyết ịSupply items) hoặc trả lời ngắn (Short Answer)
Đây là dạng TNKQ có câu trả lời tương đối tự do. Thường chúng ta nêu ra
một mệnh đề có khuyết một bộ phận, HS nghĩ ra nội dung trả lời thích họp để
điền vào chỗ ừống, thường là những câu trả lời có nội dung ngắn ngọn hoặc
một vài từ.
❖ Ưu điểm: HS có cơ hội trình bày những câu ừả lời khác thường, phát
huy óc sáng kiến. HS không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ, nghĩ ra, tìm câu
trả lời. Việc chấm điểm dạng này cũng tương đối nhanh hơn tự luận và cách
soạn cũng phần nào dễ hơn trắc nghiệm nhiều lựa chọn, song thường rắc rối và
khó khăn hơn những dạng TNKQ khác.
❖ Nhược điểm: Khi soạn dạng trắc nghiệm này thường dễ mắc phải sai
lầm là trích nguyên văn các câu và từ trong SGK. Đồng thời phạm vi kiểm tra
của câu hỏi này thường chỉ giới hạn ở những chi tiết vụn vặt. Việc chấm bài
cũng mất thời gian hơn.
❖
Lưu ý khi soạn câu trắc nghiệm này: Mỗi câu nên chủ có một hoặc hai
chỗ trống ở giữa hoặc ở cuối câu. Các khoảng trống nên có độ dài thích họp và
bằng nhau đề hạn chế sự đoán mò của HS.
VD: Viết thương của mỗi phép chia sau (theo mẫu):
3
3 :5 = “ : Ba phần năm
a) 7: 11 = ...........................................
b) 9 : 14 = ...........................................
c) 12 : 17 = ...........................................
12
M
ĩ
VD: Nôi môi phép chia với thương của nó viêt dưới dạng phân sô:
1.1.7. Nguyên tắc khỉ xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan
- Câu trắc nghiệm phải đảm bảo đánh giá được mức độ tối thiểu về kiến thức
lý thuyết theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề đã đề ra.
- Câu trắc nghiệm phải đảm bảo tính khách quan, độ tin cậy, độ phân biệt và
độ khó phù hợp.
- Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm phải phủ hết nội dung lý thuyết của môn
học
1.1.8. Những lưu ỷ cần tránh khỉ khỉ xây dựng bài tập trắc nghiệm khách
quan
Những câu hỏi TNKQ ở trên đều có nêu các nguyên tắc hay yêu cầu khi soạn
chúng. Bên cạnh những điều đó thì có một số điều đã được kiểm nghiệm trong
thực tế và cần tránh khi xây dựng bài tập TNKQ:
- Chưa kiểm tra ngữ pháp Tiếng việt làn cuối, chưa kiểm tra câu hỏi đã được
sử dụng ở kì kiểm tra trước đó hay chưa? Độ khó của câu hỏi như thế nào?
- Ra hàng loạt câu hỏi rồi sau đó mới đưa ra câu trả lời cho từng câu hỏi.
14
- Xây dựng câu hỏi một cách chủ quan theo ý của người ra câu hỏi, không
dựa vào kết cấu của chương trình học. Cơ cấu câu hỏi phải dựa vào tầm quan
trọng của từng chương, bài.
- Phần đáp án hoặc quá rõ (HS không có kiến thức vẫn có thể trả lời được)
hoặc quá chung chung (gây tranh cãi).