Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan bằng đồ thị và hình vẽ trong chương trình hóa học 10 THPT – Nâng cao - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu khoa học là sự say mê, trách nhiệm của các nhà khoa học. Đặc biệt
với sinh viên, học viờn và những cán bộ đang công tác trên mọi lĩnh vực việc, nghiên
cứu khoa học không chỉ làm giàu kiến thức cho bản thân mà còn góp phần vào việc
nâng cao hiệu qủa công việc. Với cán bộ giảng viên, giáo viên việc nghiên cứu khoa
học góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của quá trình giáo dục nói chung và dạy
học nói riêng. Nhằm thực hiện tốt mục tiêu của ngành GD&ĐT phát triển toàn diện về
tri thức, đạo đức, nhân cách… của người học.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, chúng em đã nhận được sự giúp đỡ,
hướng dẫn nhiệt tình của T.S Trần Văn Công - Giảng viên môn Nghiên cứu khoa học,
các giảng viên của trường ĐHGD, Ban giám hiệu, tổ chuyên môn cùng các bạn bè,
đồng nghiệp và các em học sinh trường THPT Chuyên Tuyên Quang – Tuyên Quang;
THPT Nam Sách II – Nam Sách – Hải Dương; THPT Mỹ Đức B – Hà Nội; THPT Hoa
Lư A – Ninh Bình nơi thực nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài.
Qua đây chúng em xin chân thành cảm ơn T.S Trần Văn Công, các giảng viên
của trường ĐHGD, Ban giám hiệu, tổ chuyên môn cùng các bạn bè, đồng nghiệp và
các em học sinh đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài này.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, kiến thức của chúng em đã được nâng lên rất
nhiều và là kinh nghiệm quý giá cho quá trình học tập, nghiên cứu, giảng dạy. Tuy
nhiên do các điều kiện có hạn, việc nghiên cứu và vận dụng khó tránh khỏi sai sót,
chúng em rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, Cô và đồng nghiệp để đề tài
được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày …. tháng …. năm….
Nhóm học viên thực hiện
-1-

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng và phát triển trong
bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng. Chính điều này đã đặt ra thách thức sống

những kiến thức trọng tâm về lý thuyết và bài tập tính toán. Các loại bài tập này có ưu
điểm giúp cho học sinh có được lý thuyết vững chắc và các tính toán hóa học, nhưng
chưa cho thấy được vấn đề thực nghiệm. Đây là đặc trưng của bộ môn Hóa học.
Các sách trắc nghiệm hiện nay chưa có hoặc có rất ít các sách đề cập đến loại
bài tập trắc nghiệm bằng đồ thị và hình vẽ. Với việc đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng tích cực và hướng người học làm quen nhiều hơn với thực nghiệm thì việc
cho người học tiếp xúc với các loại bài tập bằng đò thị và hình vẽ là rất quan trọng.
Điều này giúp cho người học có thể hiểu được bản chất của sự biến đổi các chất, cách
tổng hợp ra chúng trong phòng thí nghiệm hay trong công nghiệp như thế nào và cần
những dụng cụ, hóa chất gì. Hoặc có thể hình dung các lý thuyết khó thông qua hình
vẽ hoặc đồ thị. Với loại bài tập này, tính đặc thù bộ môn Hóa Học được thể hiện rất rõ.
Vì vậy, việc đưa thêm loại bài tập trắc nghiệm khách quan dùng đồ thị và hình vẽ là
việc làm rất cần thiết hiện nay.
Như vậy, vấn đề làm thế nào để học sinh sử dụng ngày càng nhiều và có hiệu
quả những bài tập có hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị?
Với mong muốn cải thiện phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn, góp phần
nâng cao chất lượng học tập của học sinh nên chúng tôi chọn vấn đề “Xây dựng hệ
thống bài tập trắc nghiệm khách quan bằng đồ thị và hình vẽ trong chương trình
hóa học 10 THPT – Nâng cao” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn, xây dựng các bài tập trắc nghiệm khách quan bằng đồ thị và hình
vẽ nhằm làm phong phú thêm hệ thống bài tập góp phần đổi mới phương pháp dạy
học, nâng cao chất lượng dạy học hoá học phổ thông.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu hệ thống lí luận về bài tập hóa học, phương tiện trực quan, bài tập
có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng và đồ thị.
- Phân tích hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng và đồ thị trong
SGK, SBT trung học phổ thông.
- Điều tra cơ bản tình hình sử dụng bài tập hóa học có sử dụng hình vẽ, sơ đồ,
biểu bảng và đồ thị ở trường phổ thông hiện nay.


- Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan bằng đồ thị và hình vẽ trong
chương trình hóa học THPT.
7.2. Về mặt thực tiễn
- Xây dựng và phân loại một cách đầy đủ và hợp lú hệ thống hóa bài tập bằng
đồ thị và hình vẽ trong chương trình hóa THPT.
- Áp dụng có hiệu quả hệ thống bài tập trong chương trình hóa học ở trường
THPT.
- Tài liệu tham khảo bổ ích cho GV và HS trong quá trình dạy và học hóa học.
-5-

Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị hiện nay còn rất ít, nhất là
những bài tập về hình vẽ và đồ thị. Chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về mảng bài
tập này. Chúng tôi xin giới thiệu một vài công trình có liên quan đến đề tài như sau:
1.1.1. Các tài liệu đã xuất bản
• Bài tập lý thuyết và thực nghiệm hóa học – tập 1 – hóa học vô cơ – của tác
giả Cao Cực Giác (2009), NXB Giáo dục.
Tác phẩm gồm 7 chương viết về các bài tập thực nghiệm lý thuyết và thực
nghiệm hóa học vô cơ. Đáng chú ý là ở trong chương 7, tác giả đã viết về “Bài tập
hóa học thực nghiệm có sử dụng các hình vẽ mô phỏng thí nghiệm”. Ở đây tác giả
đã đưa ra 35 bài tập có sử dụng hình vẽ để giả thấy được việc khai thác các bài tập
hóa học có sử dụng hình vẽ mô phỏng thí nghiệm là việc rất cần thiết để rèn luyện
kĩ năng thực hành và tăng cường tính thực tiễn của môn học.
• Ôn tập và hệ thống hóa nhanh giáo khoa hóa vô cơ – của tác giả Quan Hán
Thành (2003), NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Trong tác phẩm, tác giả chia theo từng vấn đề, mỗi vấn đề tác giả hệ thống hóa
kiến thức, sau đó đưa ra các sơ đồ phản ứng hóa học để học sinh vận dụng, khắc

- Những ưu điểm của việc sử dụng hình vẽ trong dạy học
- Một số biện pháp sử dụng hình vẽ trong dạy học hóa học: khi truyền
thụ kiến thức mới, khi củng cố kiến thức và sự kết hợp hình vẽ với lời giảng và
thí nghiệm.
• Sử dụng tranh ảnh, hình vẽ trong dạy học hóa học ở trường THPT – của
tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang (2000) – có nêu lên một số điểm đáng chú ý:
- Lợi ích, vai trò của tranh ảnh, hình vẽ trong dạy học
- Phạm vi và phương pháp sử dụng tranh ảnh, hình vẽ để dạy học.
• Sử dụng sơ đồ, biểu bảng và hình vẽ trong giải bài tập hóa học ở trường
THPT – của tác giả Trương Đăng Thái (2001) – đã đề cập đến:
- Tác dụng của việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu và hình vẽ trong BTHH
- Các loại bài tập có thể sử dụng đồ thị, bảng biểu và hình vẽ để giải
cùng với phương pháp sử dụng chúng.
Các khóa luận tốt nghiệm trên đã nêu lên vai trò, tác dụng, phạm vi và một số
phương pháp sử dụng tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng trong dạy học.
Nhận xét chung:
Các tài liệu trên đã:
- Phần nào khái quát được vai trò, tác dụng của hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng và đồ thị.
- Đưa ra một số phương pháp sử dụng HV, SĐ, BB, ĐT trong dạy học hóa học.
-7-

- Giới thiệu một số BTHH có sử dụng HV, SĐ, BB, ĐT.
Tuy nhiên, các tài liệu trên
- Chưa giới thiệu được nhiều bài tập, nhất là bài tập có sử dụng hình vẽ, đồ thị hóa học
10
- Chưa nêu được tác dụng của bài tập có sử dụng HV, SĐ, BB, ĐT.
- Chưa đề xuất được phương pháp sử dụng các bài tập có HV, SĐ, BB, ĐT trong dạy
học hóa học.
Đây là những vấn đề chúng tôi sẽ nghiên cứu trong đề tài này.
1.2. Phương tiện trực quan trong dạy học hóa học.

- Máy chiếu và bản trong
- Máy ghi âm
- Tivi
- Máy vi tính
- Loa
- Máy ảnh, ….
1.2.3. Vai trò của phương tiện trực quan
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, nó thay thế
cho những sự vật, hiện tượng, các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không
thể tiếp cận được. Phương tiện dạy học giúp cho HS phát huy tối đa các giác quan
trong quá trình tiếp thu kiến thức, do đó HS dễ dàng tái hiện kiến thức và vận dụng
kiến thức vào thực tiến.
Phương tiện trực quan trong dạy học hóa học có các vai trò quan trọng sau đây:
- Cung cấp cho học sinh các kiến thức một cách chắc chắn và chính xác
giúp học sinh nhớ lâu.
- Giúp cho việc giảng dạy của GV trở nên cụ thể hơn, giúp HS dễ dàng
tiếp thu sự vật, hiện tượng và các quá trình phức tạp mà học sinh bình thường
khó nắm vững.
- Giúp GV tiết kiệm thời gian
- Giúp GV đỡ vất vả hơn
- Dễ dàng gây được cảm tình và sự chú ý của HS, giúp cho bài giảng hấp
dẫn, HS hứng thú học tập
- Giúp cho lớp học sinh đông
- Giúp GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiến
thức cũng như sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho HS.
1.2.4. Sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học
Có ba nguyên tắc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học hóa học:
-9-

1.2.4.1. Sử dụng đúng lúc

hoạt động. Bài tập chỉ có thể thực sự là “bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động
-10-


Những điều kiện
Những yêu cầu

Phương pháp giải
Phương ện giải
của chủ thể, khi có một người nào đó chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức
là khi có một “người giải”. Vì vậy, bài tập và người học có mối liên hệ mật thiết tạo
thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau.
Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập:
Bài tập không chỉ cung cấp cho học sinh hệ thống các kiến thức mà còn giúp
cho học sinh thấy được niềm vui khám phá và kết quả của quá trình nghiên cứu tìm tòi
khi tìm ra kết quả của bài tập .
1.3.2. Phân loại bài tập hóa học
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên cơ sở khác nhau:
a/ Dựa vào mức độ kiến thức: (cơ bản, nâng cao)
b/ Dựa vào hình thái hoạt động của học sinh: (lý thuyết, thực nghiệm)
c/ Dựa vào mục đích dạy học: (nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, luyện tập, kiểm
tra)
d/ Dựa vào cách tiến hành trả lời: (trắc nghiệm khách quan, tự luận)
e/ Dựa vào kỹ năng, phương pháp giải bài tập: (lập công thức, phương pháp bảo
toàn: khối lượng, electron, nguyên tố )
f/ Dựa vào loại kiến thức trong chương trình: (cấu tạo nguyên tử, bảng tuần
hoàn , phản ứng oxi hóa khử, tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học)
g/ Dựa vào đặc điểm bài tập:
- Bài tập định tính: (giải thích hiện tượng, nhận biết, điều chế, tách hỗn hợp )
- Bài tập định lượng: (có lượng dư, giải bằng trị số trung bình, giải bằng đồ thị )

Hiện nay, ngoài SGK và SBT còn rất nhiều sách tham khảo về BTHH ở trường
phổ thông. Tuy nhiên, tùy theo từng điều kiện cụ thể mà GV cần lựa chọn các BT cho
phù hợp. Khi chọn BT cần chú ý đến các yếu tố sau.
- Cắn cứ trên khối lượng kiến thức HS nắm được để lựa chọn bài tập phù hợp
vời trình độ HS.
- Qua việc giải quyết BT của HS có thể đánh giá được chất lượng học tập,
phân loại được HS, kích thích được toàn lớp học.
- Căn cứ vào chương trình giảng dạy, nen xây dựng một ngân hàng bài tập
phù hợp với mức độ của từng lớp.
-12-

- Nên chọn các bài tập có nội dung gắn hóa học với các môn học khác, với
thực tiễn, bài tập có nhiều cách giải, qua đó đòi hỏi HS phải suy nghĩ thông
minh để có cách giải nhanh và ngắn nhất, sẽ tạo hứng thú, nâng cao chất
lượng giải bài tập.
- Sau mỗi bài giảng, cần rèn luyện cho HS có thói quen làm hết các bài tập có
trong SGK.
1.3.4.2. Chữa bài tập
- Khi chú trọng chất lượng: Giáo viên nên chữa bài kiểm tra viết, chữa các bài
tập chọn lọc điển hình.
+ Chữa chi tiết, trình bày rõ ràng, chính xác, nên kết hợp chữa các lỗi điển hình
mà HS đã mắc phải.
+ Hướng dẫn cho HS cách phân tích BT, nên có ví dụ về bài làm của HS từ việc
phân tích sai đến giải sai.
+ Cần lựa chọn các bài tập điển hình, các dạng bài tập bắt buộc.
- Khi chú trọng tới số lượng: HS phổ thông cần phải chữa nhiều BT, kiểm tra
để khuyến khích HS học tập, đánh giá kịp thời chất lượng dạy học. GV có thể tiến
hành theo các hình thức sau:
+ Tiến hành kiểm tra vào đầu hoặc cuối giờ học, kiểm tra một lúc nhiều HS
+ Kiểm tra trắc nghiệm

2
, CO
2
và H
2
S.
Ví dụ 2: Tiến hành thí nghiệm như hình vẽ sau:
a. Khả năng hấp phụ của than gỗ thuộc tính chất vật lý hay hóa học của cacbon?
b. Vì sao than gỗ có tính hấp phụ, các dạng thù hình khác của cacbon có tính chất này
hay không ? Vì sao ?
c. Nêu ứng dụng thực tế về tính hấp phụ của than gỗ.
Bài tập có sử dụng đồ thị
Ví dụ 3: Nung nóng đều dần một chất rắn A trong thời gian 20 phút. Nhiệt độ gây ra
sự biến đổi trạng thái của chất rắn A được biểu diễn bằng đồ thị sau:
Từ đồ thị, hãy cho biết:
-14-

a. Ở nhiệt độ nào thì chất A nóng chảy ?
b. Ở nhiệt độ nào thì chất A sôi ?
c. Ở nhiệt độ cao nhất là bao nhiêu để chất A tồn tại ở trạng thái rắn ?
d. Hãy cho biết chất A ở trạng thái nào (rắn, lỏng, khí) khi A ở những nhiệt độ sau:
25
0
C, 50
o
C và 100
0
C.
e. Ở nhiệt độ nào thì chất A vừa tồn tại ở trạng thái rắn, vừa tồn tại ở trạng thái lỏng ?
Vừa tồn tại ở trạng thái lỏng vừa tồn tại ở trạng thái khí ?

Z T HNO
→
→
¬ 
→
→
¬ 
↓ ↑
Ví dụ 2: So sánh Cacbon và Silic:
Đặc điểm/Nguyên tố Cacbon Silic
Cấu hình elecdtron
Các dạng thù hình
Các số oxi hóa
Tính oxi hóa
Tính khử
Ứng dụng
1.4.3. Vài trò của bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị
Hóa học là môn học vừa lí thuyết vừat hực nghiệm, ngoài thực nghiệm của PTN
còn có thực nghiệm của sản xuất hóa học. HV, SĐ, BB, ĐT là ngôn ngữ diễn tả rất
ngắn và hiệu quả về bản chất của thực tiễn hóa học, vì thế sẽ giúp HS dễ gắn lý thuyết
với thực tế, vận dụng lí thuyết vào thực tế. Hơn nữa, sử dụng HV, SĐ, BB, ĐT sẽ tạo
điều kiện cho các em học sinh vận động nhiều giác quan, phát huy tính tích cực, tự lực
và chủ động, sáng tạo của học sinh. Do đó, ngoài những tác dụng chung của BTHH,
các BT về HV, SĐ, BB, ĐT còn có những tác dụng thiết thực khác.
1.4.3.1. Bài tập có sử dụng hình vẽ
Hiện nay, BT bằng hình vẽ còn quá ít do vậy cũng ít được sử dụng. Đây là dạng
BT mang tính trực quan, sinh động gắn liền với kiến thức và kỹ năng thực hành HỖN
HỢP. BT có sử dụng hình vẽ có tác dụng:
- Mô tả, thay thế những thí nghiệm khó, phức tạp hoặc điều kiện thực tế
không thể tiến hành được, từ đó giúp HS dễ tái hiện và vận dụng kiến thức.

Qua nghiên cứu, chúng tôi thống kê được bảng so sánh giữa số lượng BT có sử
dụng HV, SĐ, BB, ĐT với BTHH được đưa ra trong SGK, SBT trung học phổ thông
như sau:
Bảng 1.1: Thống kê tỉ lệ BT có sử dụng HV, SĐ, BB, ĐT trong số lượng BTHH
Khối
lớp
BT có sử dụng
HV, SĐ, BB, ĐT
(1)
BTHH
(2)
Tỉ lệ
(1)/(2)
Chương trình
nâng cao
10 38 631 6,02 %
6,71
%
11 63 735 7,92 %
12 47 781 6,02 %
Chương trình
cơ bản
10 11 590 1,86 %
3,83%
11 40 586 6,82 %
-17-

12 19 654 2,91 %
Nhận xét:
Tỉ lệ bài tập có sử dụng HV, SĐ, BB, ĐT so với hệ thống BTHH ở SGK và

28
(38,9%)
15
(20,8%)
2
Bài tập thực
nghiệm
2
(2,8%)
9
(12,5%)
28
(38,9%)
20
(27,8%)
13
(18,1%)
3
Bài tập có sử
dụng hình vẽ
1
(1,4%)
9
(12,5%)
24
(33,3%)
21
(29,2%)
17
(23,6%)

7 Bài tập tính toán
8
(11,1%)
13
(18,1%)
16
(22,2%)
20
(27,8%)
15
(20,8%)
Như vậy, đa số giáo viên đều đồng ý với việc bổ xung bài tập có sử dụng HV,
SĐ, BB, ĐT để đa dạng hệ thống BTHH phổ thông.
Nội dung 2:
Bảng 1.3. Ý kiến của GV về số lượng và dạng BT có sử dụng HV, SĐ, BB, ĐT
Nội dung Ý kiến của GV
1. Số lượng BT có sử dụng HV,
SĐ, BB, ĐT trong SGK và
SBT phổ thông hiện nay
Nhiều Trung bình Ít
2
(2,8%)
16
(22,2%)
54
(75%)
2. Việc bổ xung BT có sử
dụng HV, SĐ, BB, ĐT vào hệ
thống BTHH phổ thông hiện
nay

(11,1%
)
11
(15,3%
)
17
(23,6%
)
20
(27,8%
)
16
(22,2%)
2 Sách bài tập
5
(6,9%)
9
(12,5%
)
25
34,7%)
22
(30,6%
)
11
(15,3)
3 Sách tham khảo
3
(4,2%)
5

(31,9%
)
24
(33,3%
)
9
(12,5%
)
9
(12,5%)
-19-

Như vậy, đa số GV sử dụng BT có HV, SĐ, BB, ĐT từ nhiều nguồn, chưa có
nguồn nào là chủ yếu. Vì thế, cần phải có một nguồn bài tập về dạng này để giáo viên
sử dụng trong hoạt động dạy học của mình.
Bên cạnh đó, qua trò chuyện, trao đổi trực tiếp với GV và HS cũng thu được kết
quả tương tự.
- Cô Nguyễn Thị Bình – Giáo viên trường THPT Nam Sách II - Hải Dương –
cho biết: BT có sử dụng HV, SĐ, BB, ĐT trong SGK và SBT hiện nay còn rất ít, nhất
là BT về HV và ĐT, cho nên cô cũng ít sử dụng dạng BT này trong giờ học. Hơn nữa,
những BT này cũng hiếm khi cho vào trong các kì thi học kì, thi tốt nghiệp hay đại
học. Vì thế, GV thường hay bỏ qua và ít đầu tư để soạn giảng.
- Đinh Thị Thu Hiền - Giáo viên trường THPT Hoa Lưu A – Ninh Bình -
Cho biết: Cô cũng ít khi đầu tư soạn những BT về HV, BB, ĐT cho HS giải mà chỉ
cho HS giải một số bài tập có sẵn trong SGK và SBT, tại vì những dạng BT này ít mà
cũng hiếm
Hiếm khi cho thi. Cô nghĩ những BT này cũng rất cần thiết để HS tư duy, tìm ròi ra
những cái hay mà ở những BT tính toán hay làm chưa có.
- Em Nguyễn Thị Bích Hiền – Học sinh lớp 11H, trường THPT Chuyên Tuyên
Quang – Tuyên Quang – cho biết: Em nhớ ở năm lớp 9 và lớp 10 trong SBT có một số

-21-

CHƯƠNG II:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM VỀ HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC THPT.
o O o
2.1: Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng
và đồ thị
• Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học
Bài tập là phương tiện để tổ chức hoạt động của HS, nhằm giúp HS khắc sâu
kiến thức, vận dụng và phát triển hệ thống tri thức đã học, hình thành và rèn
luyện các kỹ năng cơ bản. Vì thế, bài tập phải bám sát mục tiêu và góp phần
thực hiện mục tiêu môn học.
• Hệ thống bài tập phải bám sát nội dung học tập
Căn cứ vào mục tiêu của chương, bài và từng nội dung trong từng bài để xây
dựng và lựa chọn bài tập cho phù hợp với mực tiêu đó.
• Đảm bảo tính chính xác, khoa học và hiện đại
Nội dung bài tập đưa ra phải được cập nhật phù hợp với việc đổi mới chương
trình học. Kiến thức phải chính xác, tránh ra bài tập với những mảng kiến thức
còn đang tranh cãi.
• Đảm bảo tính logic, hệ thống
Các bài tập được sắp xếp theo thứ tự:
+ Từng dạng bài tập theo thứ tự hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị
+ Từng chương, từng bài, mức độ tăng dần theo trình độ phát triển của
HS
• Đảm bảo tính sư phạm
Các kiến thức bên ngoài khi đưa vào làm bài tập phải qua khâu xử lí sư phạm
để phù hợp với phương pháp giảng dạy và thức đẩy khả năng tiếp thuc của HS.
• Các hình vẽ đúng quy chuẩn, có tính thẩm mỹ, các đường nét cân đối, hài hòa
• Phù hợp với trình độ và phát huy tính tích cực nhận thực của học sinh

2.4. Hệ thống bài tập
Câu 1: Cho những nguyên tử của các nguyên tố sau:

1 2 3 4
Những nguyên tử nào sau đây là đồng vị của nhau ?
A. 1 và 2 B. 2 và 3 C. 1, 2 và 3 D. Cả 1, 2, 3, 4
Câu 2: Nguyên tử nào trong hình vẽ dưới đây có số e lớp ngoài cùng là 5?

1 2 3 4
A. 1 và 2 B.1 và 3 C. 3 và 4 D.1 và 4
Câu 3: Trong các AO sau, AO nào là AOs ?
z
x
y

z
x
y

y
z
x

x
y
z
1 2 3 4
A. Chỉ có 1 B. Chỉ có 2 C. Chỉ có 3 D. Chỉ có 4
Câu 4: Trong các AO sau, Ao nào là AOp
x

 

 
 

 


1 2 3 4
A. 1 và 2 B.Chỉ có 3 C. 3 và 4 D.Chỉ có 2
Câu 6: Hình vẽ nào sau đây vi phạm nguyên lý Pauli khi điền electron vào AO?
a b c d
A. a B. b C. a và b D.c và d
Câu 7: Hình vẽ nào sau đây mô tả đúng nguyên lý Pauli khi điền electron vào AO?

a b c d
A. a B. b C. a và b D. c và d
Câu 8: Cho các cấu hình sau của
7
N. Hình vẽ nào sau đây đúng với quy tắc Hund?
A.
B.
C.
D.
Câu 9: Cấu hình của nguyên tử sau biểu diễn bằng ô lượng tử. Thông tin nào không
đúng khi nói về cấu hình đã cho?

1s
2
2s


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status