PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN ÂN THI
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG HOA THÁM
----------------'&'---------------
Lĩnh vực: Quản lý
Họ và tên: Đàm Thị Ngân
Chức vụ: Tổ trưởng Chuyên môn tổ 2 + 3
Tài liệu đính kèm:.........................................................................................
====================T&
Năm học : 2014 - 2015 &T======================
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN ÂN THI
TRƯỜNG TIỂU HỌC HOÀNG HOA THÁM
----------------'&'---------------
Lĩnh vực: Quản lý
Họ và tên: Đàm Thị Ngân
Chức vụ: Tổ trưởng Chuyên môn tổ 2 + 3
Tài liệu đính kèm:......................................................................................................
====================T&
2
Năm học : 2014 - 2015 &T======================
7
7
7
8
8
8
9
9
10
Biện pháp tích cực bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên
1.3. Giải pháp 3: Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn
14
1.4. Giải pháp 4: Một số vấn đề thảo luận thường gặp phải
16
trong sinh hoạt tổ chuyên môn
1.5. Giải pháp 5: Tổ trưởng chuyên môn luôn tự bồi dưỡng
năng lực tổ chức, điều hành các buổi sinh hoạt chuyên môn
2. Khả năng áp dụng
3. Lợi ích
3.1. Về tinh thần, thái độ của tổ trưởng và giáo viên
3.2. Hiệu quả giảng dạy của giáo viên, chất lượng học tập
của học sinh, phong trào chung của nhà trường
PHẦN III - KẾT LUẬN
1. Những điều kiện kinh nghiệm được áp dụng
2. Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp
loa đại khái cho đủ thủ tục hành chính.
- Bên cạnh đó, tổ trưởng chưa phát huy hết vai trò của mình, thường có
tâm lí coi mình cũng như giáo viên bình thường khác, chỉ lo hồ sơ đầy đủ, sạch
đẹp; chưa phân công nhiệm vụ cho giáo viên theo đúng yêu cầu, nhiệm vụ; chưa
chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch, chưa mạnh dạn trong việc đề xuất các
ý kiến để nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn. Bên cạnh đó, còn chưa kể
đến nhiều tổ trưởng chuyên môn có trình độ và nghiệp vụ non kém, ngại va
chạm hoặc có thái độ quân bình chủ nghĩa khi dự giờ, rút kinh nghiệm và đánh
giá tiết dạy. của các tổ viên. Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn chưa phong phú,
hình thức còn đơn điệu, gò bó, chưa đi sâu vào các vấn đề trọng tâm đổi mới
phương pháp dạy học và tháo gỡ những khó khăn cho giáo viên trong tổ. Trong
các buổi sinh hoạt, không khí thường trầm lắng, giáo viên ít phát biểu ý kiến;
những vấn đề mới và khó ít được mang ra bàn bạc, thảo luận.
- Xuất phát từ những hiện trạng và tính cấp thiết của vấn đề trên, với nhiệm
vụ là tổ trưởng chuyên môn đồng thời là giáo viên trực tiếp giảng dạy nhằm giúp
bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tôi mạnh dạn trình bày các giải
pháp nhằm: “Nâng cao hiệu quả hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn ở
trường tiểu học”
2- Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
- Tìm hiểu và tổng kết những vấn đề lý luận về tổ chuyên môn nói chung
và nhiệm vụ của tổ trưởng nói riêng.
- Tìm hiểu nội dung và cách tiến hành một số biện pháp sinh hoạt tổ
chuyên môn.
- Làm cho các thành viên trong tổ hoạt động đều tay, đồng lòng dưới sự
quản lí của tổ trưởng sẽ thay đổi bộ mặt và nâng cao hiệu quả làm việc của tổ
5
khối chuyên môn.
- Giúp cho việc sinh hoạt tổ chuyên môn trong nhà trường đi đúng hướng,
bám sát yêu cầu, mục tiêu dạy học, nội dung chương trình, sách giáo khoa và
nhiệm vụ năm học, tháo gỡ kịp thời những khó khăn trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy của giáo viên, phong trào thi đua dạy và học tốt, chất lượng
học tập của học sinh từng bước được nâng lên.
- Ngược lại, trường nào công tác chuyên môn thiếu khoa học, buông lỏng
thì việc sinh hoạt tổ chuyên môn không đảm bảo thời gian, thời lượng, nội dung
sơ sài, không thu hút được giáo viên, nền nếp và chất lượng ở trường đó không
cao. Chính vì vậy việc nghiên cứu thực trạng, nghiên cứu các giải pháp để tìm ra
các biện pháp hữu hiệu nhằm tháo gỡ khó khăn nhằm mục đích nâng cao chất
lượng hoạt động của tổ chuyên môn trong nhà trường.
- Công tác chuyên môn là hoạt động quan trọng, chủ yếu, quyết định sự tồn
tại và phát triển của nhà trường. Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành, nơi
thực thi nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh. Động lực quan trọng để giúp
nhà trường phát triển chính là mối quan hệ, sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau trong
khối đoàn kết và sự nỗ lực vươn lên của mỗi cá nhân là vô cùng cần thiết.
2- Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp:
2.1. Biện pháp tiến hành:
- Nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu sách, báo, sách tham khảo trong suốt quá
trình tích lũy kinh nghiệm.
- Quan sát: Thông qua việc nghiên cứu, lên chương trình dự thảo và thực
hiện các cuộc họp của tổ 2 + 3, quan sát hoạt động của tổ khối bạn trong trường.
- Điều tra: Tìm hiểu thực trạng sinh hoạt tổ khối ở trường trong những năm
học trước.
- Thực nghiệm: Tổ chức sinh hoạt tổ khối chuyên môn của khối mình phụ
trách, nắm bắt các mặt khó khăn của năm trước để có sự điều chỉnh kịp thời từ
đó có những đề xuất hợp lý cho đề tài.
- Thống kê: Thống kê kết quả dạy và học trong lớp về học lực, hạnh kiểm,
HS lên lớp, HS lưu ban, sự tiến bộ của HS yếu các năm học gần đây.
2.2. Thời gian thực hiện:
7
- Việc triển khai các chuyên đề cần được thực hiện có kế hoạch, được tổ
chức, kiểm tra, đánh giá và triển khai, áp dụng vào thực tiễn thì mới có chất
lượng và hiệu quả tốt. Trong một năm học cần cơ cấu hợp lý các mảng đề tài,
mỗi giáo viên chỉ nên đảm trách một chuyên đề, phân bổ thời gian phù hợp với
điều kiện cụ thể của nhà trường. Sau khi xác định được các chuyên đề, việc triển
khai nên gồm các bước:
+ Phân công cá nhân chuẩn bị chuyên đề;
+ Tổ trưởng duyệt bản thảo;
+ Báo cáo chuyên đề ở tổ, nhóm, các tổ viên góp ý, phản biện;
+ Cá nhân phụ trách hoàn thiện chuyên đề phần lí thuyết và thực hành
(nếu có);
+ Nhân bản cho toàn thể tổ viên áp dụng và lưu hồ sơ để áp dụng nhiều
năm
- Khi trao đổi, thảo luận ở tổ cần làm rõ những vấn đề mấu chốt. Chẳng
hạn, chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học cần nhận thức đúng đắn, đầy
đủ về dạy học tích cực. Tránh hiểu sai lầm, thuyết trình là không tích cực, chỉ có
tổ chức dạy học theo nhóm mới là tích cực. Vấn đề là làm sao để học sinh suy
nghĩ nhiều hơn, hành động nhiều hơn, hợp tác nhiều hơn, bày tỏ ý kiến nhiều
hơn. Cũng vậy, chuyên đề về ứng dụng CNTT trong dạy học cần quan tâm đến
liều lượng và hiệu quả: Sử dụng CNTT đến mức độ nào trong bài giảng cụ thể
này? Kết hợp giữa viết bảng và trình chiếu trên màn hình như thế nào để đạt
hiệu quả? Điều quan trọng là, trong mỗi tiết dạy, giáo viên biết lựa chọn phương
pháp thích hợp, biết kết hợp các phương pháp hiện đại với các phương pháp
truyền thống tùy thuộc vào từng bài giảng, không nên lạm dụng phương pháp
nào. Giáo viên phải coi trọng các thủ pháp dẫn dắt học sinh tiếp nhận kiến thức
một cách tự nhiên, lôgíc.
1.2. Giải pháp 2: Tổ chức tốt các tiết dự giờ, thao giảng – Biện pháp
tích cực bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên
nghiệp hoặc tâm lí cho rằng đi dự giờ là kiểm tra tiết dạy của giáo viên. Cần
10
tránh dự giờ để đối phó nhằm đạt chỉ tiêu số lượng theo quy định. Nên tăng
cường các tiết dạy mẫu và quan tâm dự giờ các tiết ôn tập, trả bài cho học sinh.
- Khi đánh giá, rút kinh nghiệm các tiết dạy cần thẳng thắn, chân tình với
tinh thần giúp nhau cùng tiến bộ, phải đánh giá thực chất, nêu ra được những
điểm mạnh, những hạn chế của người dạy về kiến thức, kỹ năng, thái độ, về nội
dung, phương pháp, phong cách. Cần phê phán lối dạy đọc chép, dạy chay trong
khi có và cần sử dụng đồ dùng dạy học. Đối với những tiết học mà giáo viên gặp
nhiều khó khăn thì cần trao đổi kỹ, có thể tổ chức cho một giáo viên có kinh
nghiệm trong nhóm dạy mẫu tiết đó để cùng nhau học hỏi. Các giờ được dự cần
được xếp loại và lưu lại ý kiến cũng như kết quả xết loại; đối với tiết dạy được
thanh tra hoặc dùng để xếp loại giáo viên cần lưu cả phiếu đánh giá giờ dạy.
- Đánh giá giờ dạy phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Chẳng hạn khi
phân tích khía cạnh rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của học sinh, các giáo
viên đã lưu ý đến đặc điểm môn học. Đối với môn Tiếng Việt, giáo viên thấy
hạn chế của nhiều học sinh trong viết và trình bày bài; bài viết thường dài dòng,
không rõ ý, chữ viết xấu, viết sai ngữ pháp, trình bày cẩu thả. Do vậy, rèn luyện
rèn luyện kỹ năng viết bài, vận dụng kiến thức đã học vào bài viết của mỗi em là
rất quan trọng. Cần thay đổi cách viết khuôn sáo theo bài mẫu, ít sáng tạo. Trong
dạy học cần chấm dứt tình trạng đọc chép, cần hạn chế việc ghi nhớ máy móc,
ghi nhớ nhiều số liệu, nhiều sự kiện; trong các tiết ôn tập chú ý rèn luyện hành
văn; chấm trả bài cần kỹ hơn, chỉ lỗi cụ thể từng em để giúp các em sửa chữa.
Đối với môn Toán thì lại chú trọng đến việc giúp học sinh vận dụng kiến thức
vào giải các bài tập ở các cấp độ khác nhau tùy theo yêu cầu. Các tiết luyện tập,
ôn tập phải phân loại được hệ thống các các bài tập theo dạng phù hợp. Mỗi
dạng bài tập cần chỉ ra định hướng và các bước giải.
luyện thêm kĩ năng chuyên môn:
+ Phong cách lên lớp mà chúng ta mong muốn là chững chạc, tự tin, làm
chủ bài giảng. Chú ý đến giọng nói, cử chỉ đi đứng, động tác tay, ánh mắt, nụ
12
cười,... Mọi cái nên vừa phải, trong lớp tránh đi lại quá nhiều, vung tay quá
mạnh. Nói chung, giáo viên cần chú ý đến cả yếu tố phi ngôn ngữ. Tổ chuyên
môn nên chọn giáo viên có tác phong lên lớp tốt làm mẫu để các tổ viên học hỏi
và xây dựng cho mình một phong cách phù hợp.
+ Ngôn ngữ (nói và viết) là kênh quan trọng để học sinh lĩnh hội kiến
thức. Những giáo viên dạy tốt, cuốn hút học sinh không chỉ họ có ưu thế về kiến
thức và thủ thuật sư phạm mà họ còn sử dụng lời nói chính xác, với âm lượng
vừa phải, rõ ràng, truyền cảm, có ngữ điệu. Do vậy, trong sinh hoạt tổ chuyên
môn, cần làm cho giáo viên có ý thức rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, khi
góp ý các giờ dạy cần chú trọng đến yếu tố này. Làm sao để trên lớp, giáo viên
có giọng nói chuẩn, chỉ dùng từ phổ thông, ít trùng lặp, ít sai sót.
+ Ứng dụng CNTT, trình chiếu trong dạy học là cần thiết nhưng không
thể thay thế phấn và bảng. Trình bày bảng cùng với trình chiếu nhờ CNTT là
kênh thông tin chữ viết-hình ảnh quan trọng tới học sinh. Trình bày bảng cẩn
thận, đẹp, đúng chính tả, ngữ pháp, rõ ràng có ảnh hưởng chẳng những đến chữ
viết, đến bài làm của học sinh, mà còn ảnh hưởng tốt hay xấu đến bệnh về mắt
của học sinh. Một số lời khuyên khi viết bảng là: Chữ viết rõ ràng, đúng chính
tả, ngữ pháp, cỡ chữ vừa phải làm sao để học sinh ở cuối lớp thấy được bình
thường; Tên bài, tên tiểu mục nên viết bằng phấn màu khác để học sinh dễ phân
biệt; Không nên viết quá nhiều, chữ quá dày; Hạn chế viết tắt, xóa bảng nhiều
lần. Trong sinh hoạt chuyên môn, các tổ, nhóm cần lưu ý để giáo viên rèn luyện
kỹ năng trình bày bảng khoa học, chuẩn xác, chữ viết đẹp sẽ góp phần hình
thành nhân cách cho học sinh.
+ Ngoài ra, kỹ năng phối hợp linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học: cá
ý kiến phát biểu của đồng nghiệp và đặc biệt phải suy nghĩ, phát biểu ít nhất 1 ý
kiến, hiến mưu hiến kế cùng tổ để có thêm những ý kiến hay bổ sung vào kế
hoạch, có như vậy công tác mới trôi chảy, thực hiện dân chủ hóa trong hội họp.
* Sau khi các thành viên trong tổ góp ý, tổ trưởng tóm tắt lại, lấy ý kiến
thống nhất bổ sung vào biên bản tổ và đó là nghị quyết của tổ, mọi thành viên
14
trong tổ phải có nhiệm vụ thực hiện. Tránh tình trạng họp tổ maø tổ trưởng đưa
ra ý kiến một chiều, áp đặt, không thảo luận mà bắt mọi thành viên phải thực
hiện.
- Tổ trưởng phải đúng là người công minh, cầm cân, nảy mực, là tấm
gương cho tổ viên, đầu tàu trong mọi hoạt động cho các thành viên trong tổ noi
theo.
- Khi đồng nghiệp trong tổ vi phạm, tổ trưởng phải là người cương quyết,
nhưng nhẹ nhàng, phân tích chính xác cho đồng nghiệp hiểu rõ đúng, sai để
GV đó tự nhận thấy và quyết tâm sữa chữa.
- Khi phân công công viêc tổ trưởng phải công bằng, hợp lí, tương đối
phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, năng lực, sở trường, biết khơi dậy lòng
nhiệt tình, sở thích và mặt mạnh của từng thành viên, biết khuyến khích kịp
thời các đóng góp của họ để họ đưa hết sức lực trí tuệ ra làm việc…
- Trong các cuộc họp, phải làm sao cho giáo viên có tranh luận trên tinh
thần xây dựng. Những buổi sinh hoạt chuyên môn mà tổ trưởng báo cáo xong
phần đánh giá kết quả hoạt động của tuần vừa qua và nêu phương hướng chuẩn
bị cho hoạt động tuần tới mà giáo viên nhất trí hoàn toàn coi như thất bại. Yêu
cầu là mỗi giáo viên cần có quan điểm riêng của mình để thảo luận sau đó thống
nhất cả khối, tránh việc áp đặt từ trên xuống.
- Ngoài ra để cho tổ chuyên môn hoạt động có hiệu quả trước hết tổ
trưởng phải làm được vai trò trung tâm, xây dựng tốt mối đoàn kết, thương yêu,
tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ, làm chỗ dựa tinh thần và chuyên
bài tập đọc, do vậy ở một số bài, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài đến
đâu (từng khổ thơ, đoạn văn, đoạn thơ) có thể rèn đọc ngay đến đó (kết hợp tìm
hiểu bài và rèn từ khó)
Giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp để học sinh tìm hiểu bài
như: làm phiếu học tập, đọc nối tiếp, thảo luận trả lời câu hỏi, ... từ đó phát huy
tính tích cực, chủ động tìm hiểu bài của học sinh.
16
Nội dung 3: Tổ chức trò chơi ở các môn học như thế nào?
- Tổ trưởng cùng giáo viên trong tổ nêu lên các trò chơi phù hợp với từng
bài và từ đó lựa chọn phương án tối ưu, trò chơi phù hợp cho tiết đó.
- Qua trò chơi kích thích khả năng sáng tạo và tư duy, óc phán đoán, tìm
hiểu nhanh, chính xác của học sinh qua đó giúp cho lớp học sinh động, học sinh
tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, các em nắm vững bài học, giúp cho
tiết học đạt hiệu quả hơn.
Nội dung 4: Tổ chức hoạt cảnh, đóng vai và hoạt động nhóm trong các
phân môn ra sao?
- Giáo viên phải tìm ra được những nội dung phù hợp hạn chế nêu lên ý
kiến riêng chẳng hạn: phương pháp hoạt cảnh đóng vai có ưu điểm tạo ra cách
ứng xử trong các trường hợp cụ thể giúp các em tích cực hoạt động. Mặt khác sử
dụng phương pháp đóng vai chưa phù hợp như hành động, cử chỉ của các nhân
vật chỉ được học sinh diễn lại chưa thể hiện việc tự ứng xử của các em, ngoài ra
áp dụng vào những bài không thích hợp sẽ làm cho giờ học gượng gạo mất tự
nhiên..vv…
- Hình thức học nhóm có ưu điểm học sinh tích cực, chủ động tìm ra kiến
thức nhưng nếu giáo viên tổ chức không chặt chẽ thì chưa phát huy được tác
dụng của nó vì thực tế các thành viên trong nhóm hoạt động không đều chỉ một
vài em làm việc, không có sự thảo luận, tranh luận hay phát biểu ý kiến riêng
Ví dụ: Dạy bài “Câu kiểu Ai là gì?” lớp 2:
- Giáo viên chuẩn bị: những mảnh bìa hình chữ nhật; mỗi mảnh bìa được
chia làm hai bên; một bên (phần A) ghi các từ ngữ chỉ sự vật (Bộ phận trả lời
câu hỏi Ai?), một bên (phần B) ghi các từ ngữ có thể trả lời câu hỏi là gì? trong
câu, sau đó cắt rời 2 phần A; B như sau:
Ghi các mảnh bìa theo hai phần (A/ B)với những từ hoặc cụm từ dưới đây:
A
Bạn Lan
18
B
là tương lai đất nước
Người
Cô giáo em
Trẻ em
là người mẹ thứ hai của em
là người Hà Nội
là vốn quý nhất
- Đồ dùng dạy học trên được sử dụng trong phần luyện tập.
1.5. Giải pháp 5: Tổ trưởng chuyên môn luôn tự bồi dưỡng năng lực
tổ chức, điều hành các buổi sinh hoạt chuyên môn
- Thực tế cho thấy một buổi sinh hoạt chuyên môn thành công hay không
phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và chuyên môn của người điều hành.
- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra đánh giá và tổ chức giải quyết, quản lí
những việc liên quan đến chuyên môn theo phạm vi, nhiệm vụ và chức năng của
mình một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan.
môn thể hiện được tính dân chủ, cởi mở. Các thành viên chủ động, tích cực phát
biểu ý kiến đóng góp cho nội dung sinh hoạt. Mối quan hệ đồng nghiệp gắn bó
hơn, đoàn kết hơn.
3.2. Hiệu quả giảng dạy của giáo viên, chất lượng học tập của học
sinh, phong trào chung của nhà trường:
* Hiệu quả giảng dạy của giáo viên:
- Giáo viên đã xác định đúng mục tiêu chuẩn kiến thức, kĩ năng tiết dạy,
chuẩn bị phương tiện, thiết bị dạy học chu đáo, phối hợp linh hoạt các phương
pháp và hình thức dạy học, tổ chức được các hoạt động học tập cho học sinh,
giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng một cách chủ động.
- Các tiết dạy đã thể hiện được rõ việc phân hóa đối tượng học sinh trong
lớp theo trình độ, theo khả năng đáp ứng và sở thích nhất. Đã thực hiện được
việc bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu trong các tiết dạy buổi thứ
hai bằng hệ thống bài tập từ dễ đến khó.
- Cuối mỗi năm học, chất lượng xếp loại của tổ tôi phụ trách có những
chuyển biến tích cực.
* Chất lượng học tập của học sinh:
20
- Nhiều học sinh biết tự học, tham gia thảo luận nhóm hăng hái, biết hỗ
trợ nhau hoàn thành công việc chung. Học sinh nghe, đọc, nói viết và tính toán
thành thạo, tham gia các hoạt động học tập và giáo dục một cách chủ động và tự
giác.
- Nhiều em biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống như giải thích
một số hiện tượng thiên nhiên, thực hành đo đạc, tính toán chu vi một số vật
thường gặp, thường dùng trong thực tiễn.
- Nhiều học sinh biết trình bày và trình bày vấn đề một cách lưu loát. Giờ
học nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn, hiệu quả hơn.
khuyến khích và đánh giá chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn trên cơ sở kết
quả sinh hoạt chuyên môn của tổ, thể hiện ở hiệu quả công việc và tinh thần,
thái độ của giáo viên trong từng tổ.
* Đối với giáo viên: Thực hiện tốt nhiệm vụ của giáo viên được quy định
trong Luật Giáo dục, Luật Phổ cập Giáo dục Tiểu học, Điều lệ trường Tiểu học,
Pháp lệnh cán bộ công chức và các quy định của nhà trường. Tham gia xây dựng
và thực hiện tốt quy định về nền nếp dạy học của nhà trường. Tích cực, chủ
động trong việc giảng dạy học sinh, đổi mới phương pháp dạy học; khi có khó
khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cần phản ánh với tổ trưởng hoặc Ban
giám hiệu; chủ động đề xuất những sáng kiến hay trong sinh hoạt tổ chuyên
môn.
Trên đây là một số kinh nghiệm khi thực hiện việc sinh hoạt chuyên môn
tổ chuyên môn. Tôi mong rằng sẽ được các đồng nghiệp giúp đỡ, nhận xét và bổ
sung góp ý thêm để đề tài của tôi thêm hoàn thiện hơn, góp phần hoàn thành tốt
công tác chuyên môn được các cấp tin tưởng giao phó. Góp phần cùng giáo viên
trong trường hoàn thành nhiệm vụ năm học và các năm học tiếp theo để góp một
phần nhỏ đưa sự nghiệp giáo dục của nhà trường ngày một đi lên.
Hoàng Hoa Thám, ngày 15 tháng 3 năm 2015
Người viết:
22
Đàm Thị Ngân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hệ thống văn bản pháp quy quản lý chỉ đạo chuyên môn giáo dục Tiểu học.
2. Kế hoạch chuyên môn nhà trường.
3. kế hoạch chuyên môn Tổ 2 + 3
4. Sổ theo dõi chất lượng chuyên môn Tổ 2 + 3 các năm