BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------------***-------------
NGUYỄN THỊ YẾN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN BÌNH GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------------***-------------
NGUYỄN THỊ YẾN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI HUYỆN BÌNH GIANG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Yến
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
3
1.2.2
Mục tiêu cụ thể
3
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
1.3.1
Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2
Phạm vi nghiên cứu
3
II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
29
2.2.1
Kinh nghiệm về công tác thu BHXH
29
2.2.2
Một số bài học kinh nghiệm rút ra về công tác thu BHXH
33
III
ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
35
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
35
3.1.1
Điều kiện tự nhiên của huyện Bình Giang
Phương pháp xử lý, phân tích thông tin
51
3.2.3
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
52
IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
53
4.1
Thực trạng công tác thu BHXH trên địa bàn huyện Bình Giang
53
4.1.1
Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Bình Giang
53
4.1.2
4.2.1
Chính sách tiền lương, chính sách lao động
82
4.2.2
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
83
4.2.3
Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của người lao động và người sử
dụng lao động, Công tác tuyên truyền phối hợp giữa các ngành
84
4.2.4
Các nhân tố khác
85
4.3
Đánh giá chung công tác thu BHXH giai đoạn vừa qua
92
4.4.2
Giải pháp
95
V
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
107
5.1
Kết luận
107
iv
5.2
Kiến nghị
109
Chữ viết tắt
STT
Nguyên nghĩa
1
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
2
BHXH
Bảo hiểm xã hội
3
BHYT
Bảo hiểm y tế
4
DN
Doanh nghiệp
10
KH
Kế hoạch
11
KHTC
Kế hoạch tài chính
12
PL
Pháp luật
13
TNLĐ-BNN
Tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp
14
UBND
Uỷ ban nhân dân
3.3
38
45
Số lượng CBCCVC công tác tại BHXH huyện Bình Giang từ năm
2012-2014
47
3.4
Trình độ CBCCVC của BHXH huyện Bình Giang từ năm 2012– 2014
49
3.5
Số lượng mẫu điều tra
51
4.1
Bảng tổng hợp các đơn vị tham gia BHXH ở huyện Bình Giang giai
đoạn 2012 – 2014
4.2
4.7
Tình hình nợ đọng BHXH theo khối hình quản lý năm 2012-2014
69
4.8
Danh sách các Doanh nghiệp nợ BHXH năm 2014
70
4.9
Đánh giá của cán bộ BHXH về công tác thu BHXH bắt buộc
75
4.10
Tình hình thực hiện chính sách BHXH của doanh nghiệp
77
4.11
Những khó khăn chủ yếu khi tham gia BHXH của doanh nghiệp
78
vii
91
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Tên sơ đồ
STT
Trang
2.1 Cơ chế hoạt động của BHXH
14
2.2 Quy trình công tác thu BHXH
23
2.3 Sơ đồ mô hình tổng quan về phân cấp thu BHXH
25
3.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức của BHXH huyện Bình Giang
43
73
4.6 Đánh giá của cán bộ BHXH về chất lượng thực hiện thu BHXH của các
đơn vị tham gia BHXH
75
4.7 Khảo sát tình hình tham gia BHXH của người lao động
80
4.8 Khảo sát mức độ hiểu biết của người lao động về BHXH
85
viii
I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình tồn tại và phát triển của con người do rất nhiều nhân tố quyết định,
trong đó không thể không nói đến hệ thống an sinh xã hội với nòng cốt là chính
sách Bảo hiểm xã hội (BHXH). BHXH là một chính sách xã hội được nhiều quốc
gia coi trọng, nhằm đảm bảo về mặt thu nhập cho người lao động, giúp họ trang trải
những nhu cầu thiết yếu khi không may gặp phải những rủi ro, biến cố, bị ốm đau,
tai nạn, thai sản hay vĩnh viễn mất khả năng lao động. Trong những năm qua, Đảng
và Nhà nước ta rất quan tâm đến công tác BHXH và xác định đây là một trong
những chính sách xã hội cơ bản nhất nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho hàng
triệu người lao động cùng các đối tượng hưởng các chế độ BHXH, góp phần quan
các chế độ chính sách. Thông qua những chế độ, chính sách mà người lao động được
hưởng sẽ làm cho người lao động an tâm làm việc, chủ doanh nghiệp có nguồn nhân
lực ổn định, có khả năng hoạch định chính sách, chiến lược kinh doanh và phát triển, từ
đó thúc đẩy kinh tế phát triển.
Ở Việt Nam hiện nay, còn rất nhiều người lao động làm việc nhưng lại không
được tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Bảo hiểm thất
nghiệp (BHTN), nhiều doanh nghiệp cố tình né tránh không tham gia BHXH cho lao
động của mình, dẫn đến thiệt thòi quyền lợi của người lao động, khiến họ không an
tâm làm việc và ổn định công tác. Tăng thu BHXH chính là tăng số lượng doanh
nghiệp, đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH, tăng số lao động tham gia BHXH
để góp phần giúp ngày càng nhiều lao động được hưởng các chế độ BHXH, đảm bảo
pháp luật về lao động được thực thi, giảm bớt gánh nặng cho xã hội trong tương lai.
Bình Giang là một tỉnh đang có sự chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp, đã và đang thu hút rất nhiều dòng vốn đầu tư trong nước và
nước ngoài. Hiện nay khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) ngày càng
lớn mạnh, tỷ lệ thu BHXH, BHYT ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu quỹ
BHXH. Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Tuy nhiên
sự biến động liên tục về số lượng, cơ cấu, tính chất lao động ở khu vực kinh tế này
cũng tạo ra không ít khó khăn cho cơ quan BHXH trong việc quản lý đối tượng
tham gia BHXH. Từ đó quyền lợi của người lao động không được bảo đảm và làm
giảm nguồn thu cho quỹ BHXH. Điều đó cũng đặt ra những thách thức lớn đối với
2
ngành BHXH, mà cụ thể là vấn đề thu BHXH như thế nào để vừa tạo điều kiện
khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển, vừa bảo vệ được quyền lợi người lao
động phải làm việc trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Vì vậy thực hiện tốt việc
thu BHXH có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn xét cả trên bình diện quốc gia
cũng như tại huyện Bình Giang nói riêng. Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
2.1.1. Khái niệm, vai trò, yêu cầu về BHXH và thu BHXH
2.1.1.1. Một số khái niệm
Khái niệm Bảo hiểm xã hội
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam [13]: “Bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp
định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, của
người sử dụng lao động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ giúp vật
chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu
nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất
nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc chết”.
Theo điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ
bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất
nghiệp, hết tuổi lao động, chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.[3, tr36]
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và
người sử dụng lao động có trách nhiệm phải tham gia.
Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung hai khái niệm này đều thể hiện
rõ bản chất và đặc trưng cần có của BHXH. Cụ thể, đã nêu lên được một số điểm
chủ yếu sau:
- BHXH là những quy định của nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho người
lao động.
- Người lao động được trợ giúp vật chất trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết.
- Người lao động phải có trách nhiệm đóng góp để bảo đảm quyền lợi cho
chính họ.
Như vậy, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập của người lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao
4
5
- Thu kịp thời: Là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động, tiền
công, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia BHXH.
Chế độ BHXH thường xuyên thay đổi để phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội
từng thời kỳ, ở mỗi thời điểm thay đổi đó cần phải tổ chức thực hiện thu BHXH của
người sử dụng lao động và người lao động đảm bảo kịp thời, không để tồn đọng tiền
thu, không bỏ sót lao động tham gia BHXH
- Cơ chế thu BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH tập trung
quản lý, điều tiết ở Trung ương là BHXH Việt Nam.
- Việc tham gia BHXH của người lao động, người sử dụng lao động đảm bảo
công khai, thực hiện công bằng ở các thành phần kinh tế. Các đơn vị tham gia
BHXH đều phải công khai minh bạch số lao động phải đóng BHXH và số tiền đóng
theo đúng quy định, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm soát của Nhà nước và giám sát
của các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị-xã hội. Tính công bằng được thể
hiện trong việc thu nộp BHXH, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế,
tức là đều có tỷ lệ phần trăm thu BHXH như nhau.
Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH theo chế độ quản lý tài chính của
Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục đích. Nguồn thu BHXH do được tồn tích
cộng đồng, nên thường có khối lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn chưa sử dụng cần
được đầu tư tăng trưởng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng, vừa an toàn tiền thu
BHXH về mặt giá trị do các yếu tố trượt giá. Vì vậy, thông qua cơ chế quản lý
nghiêm ngặt về thu BHXH để tránh lạm dụng, thất thoát; Đồng thời nghiên cứu các
lĩnh vực đầu tư để đảm bảo thu hồi được vốn và có lãi, tức là hiệu quả sử dụng
nguồn thu.
Khái niệm quỹ BHXH
Trong đời sống KT-XH, người ta thường nói đến rất nhiều các loại quỹ khác
nhau như: quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ phúc
phí cho các hoạt động nghiệp vụ BHXH, góp phần đảm bảo an toàn xã hội và phát
triển kinh tế của đất nước.
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng;
nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện, cơ sở vật
chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Nguồn hình thành quỹ
Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những người tham gia
BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được hưởng
7
BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng
lao động hoặc mất việc làm.
Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng;
nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật
chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải quyết những rủi ro
của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc giàn trải rủi
ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm
thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả Ngân sách
nhà nướcvà ngân sách gia đình.
Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Trước hết đó là phần đóng
góp của người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước, đây là nguồn chiếm tỉ
trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ. Thứ hai là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi
tương đối của quỹ được tổ chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời.
Thứ ba là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về
BHXH. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn nêu trên. Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên
tham gia có khác nhau.
tại cái gọi là quỹ BHXH ) mà phải sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi
tương đối dài ( như đối với chế độ hưu trí ) số tiền ấy mới được chi ra, cùng thời
gian ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do lạm phát, điều này đặt
ra yêu cầu quỹ BHXH không chỉ phải bảo đảm về mặt số lượng mà còn phải bảo
toàn về mặt giá trị. Điều đó lý giải tại sao trong điều 40 Điều lệ BHXH nước ta quy
định “ Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng
trưởng theo quy định của chính phủ ”.
Tính tích luỹ.
Quỹ BHXH là “ của để dành ” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi
già... và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động.
Trong quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi ở một thời điểm
hiện tại để chi trả trong tương lai, khi người lao động có đủ các điều kiện cần thiết
để được hưởng trợ cấp ( chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH ).
Số lượng tiền trong quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên
tham gia và bởi thực hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ.
Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả.
9
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để chi
trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất hay
giảm thu nhập. Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối
tượng nhận trợ cấp. Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi người sẽ
khác nhau, điều đó phụ thuộc vào những rủi ro mà họ gặp phải cũng như mức độ
đóng góp và thời gian tham gia BHXH.
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có
đóng- có hưởng, đóng ít- hưởng ít, đóng nhiều- hưởng nhiều nhưng như vậy không
có nghĩa là những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắn đưọc hưởng một
khoản trợ cấp như nhau. Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng có người được
những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khoẻ
mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người “yếu thế hơn” hay gặp phải
những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống.
Năm là, BHXH trực tiếp thể hiện mục tiêu, lý tưởng, bản chất tốt đẹp của
chế độ chính trị, xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang phấn đấu, xây
dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Với vai trò và chức năng “trụ cột” của BHXH trong hệ thống chính sách xã hội
như vậy, cho nên tại Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam Đại hội XI chỉ rõ: "Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ
thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã
hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội,
nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương".
Vai trò của công tác thu BHXH
Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một công quỹ
độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ
BHXH cho người lao động. Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu
quan trọng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chính
sách BHXH.
Công tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành
BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung thống nhất :
Thu đúng góp BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ trung ương đến địa
phương cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở nguồn tài
chính tập trung từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH. Đồng thời tránh
11
được tình trạng nợ đọng BHXH từ các cơ quan đơn vị, từ người tham gia BHXH.
Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH
nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng.
đóng vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống
của người lao động cũng như các đơn vị doanh nghiệp được hoạt động bình thường.
2.1.1.3. Đặc điểm của BHXH và thu BHXH
Đặc điểm của bảo hiểm xã hội:
Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến
thì càng đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của BHXH. BHXH được hình thành trên cơ
sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH.
Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan
chuyên trách (cơ quan BHXH), thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động BHXH. Chủ
sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ
BHXH. Người lao động và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH
khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định. Đó chính là mối quan hệ của
bên tham gia BHXH.
Từ mối quan hệ về BHXH, nếu xem xét một cách toàn diện thì BHXH hàm
chứa và phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, mục đích hoạt động của BHXH không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi
của người lao động, của cả cộng đồng; là hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội
cao, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá trình tổ
chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý BHXH
đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH.
Thứ hai, BHXH là một loại hàng hoá tư nhân mang tính bắt buộc do Nhà
nước quản lý và cung cấp dịch vụ, nên việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt
buộc đối với mọi người lao động (một số nước trên thế giới do khu vực tư nhân quản
lý và cung cấp dịch vụ).
Thứ ba, cơ chế hoạt động của BHXH là theo cơ chế 3 bên: Cơ quan BHXH Chủ sử dụng lao động và Người lao động, cộng thêm cơ chế quản lý Nhà nước,
BHXH bắt buộc là do Nhà nước đứng ra làm, do vậy thực sự chưa có thị trường
BHXH ở Việt nam, xét thực chất thị trường BHXH ở Việt Nam thể hiện độc quyền:
Cung BHXH do Nhà nước độc quyền cung, cầu thì bắt buộc và mức hưởng BHXH
còn thấp nên dẫn đến chất lượng dịch vụ kém.
thống BHXH ở Việt nam, công tác thu có một số đặc điểm cụ thể sau:
- Công tác thu là khâu đầu tiên trong hoạt động BHXH, có tính chu kỳ, lặp đi
lặp lại. Các cán bộ, công chức viên chức làm công tác thu phải theo dõi kết quả thu
nộp BHXH của từng cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động theo từng
14
tháng, từng quý, từng năm, từng thời ký để kịp thời nắm bắt được tình hình đóng
BHXH của từng cá nhân, từng đơn vị và của toàn ngành, từ đó làm cơ sở để lập báo
cáo kết quả lên cơ quan BHXH cấp trên. Có thể nói, công tác thu là một công việc
vất vả, khối lượng công việc rất lớn, cần một nguồn nhân lực lớn đủ năng lực, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ để làm tốt công việc; cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại để
có thể phục vụ và làm tốt công tác thu.
- Công tác quản lý thu rất phức tạp và đa dạng thể hiện ở một số điểm như:
+ Là một bộ phận trong hoạt động BHXH, công tác thu BHXH liên quan
trực tiếp đến cả người lao động và người sử dụng lao động.
+ Số lượng lao động, số đơn vị sử dụng lao động tham gia BHXH ngày càng
tăng đòi hỏi công tác quản lý phải chặt chẽ, kịp thời năm bắt thông tin về các đối
tượng thuộc diện tham gia.
+ Mức thu BHXH được xác định dựa trên mức lương mà người lao động trả
cho người lao động cho nên việc xác định tổng quỹ lương của doanh nghiệp, đơn vị
tham gia phải được thực hiện đồng thời với việc xác định mức thu bảo hiểm. Các
cán bộ làm công tác thu BHXH có nhiều hình thức để thu nhưng hiện nay chủ yếu
là thu thông qua người sử dụng lao động. Công việc này đòi hỏi phải có sự giám sát
chặt chẽ, đôn đốc của cán bộ thu để tránh tình trạng người sử dụng lao động sử
dụng tiền đóng BHXH sai mục đích.
2.1.2. Nội dung nghiên cứu công tác thu BHXH
2.1.2.1. Đối tượng thu BHXH bắt buộc
Việc xác định đối tượng tham gia BHXH là một trong những nhiệm vụ lớn