Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá
trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay
Đoàn Thị Hả
Người hướng dẫn : PGS. TS. Đỗ Đức Bình
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
KT-XH
: Kinh tế - xã hội
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, có tiềm năng lao động rất lớn với trên
42 triệu lao động, trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 70% (trên 30 triệu lao
động nông nghiệp). Khả năng tạo việc làm cho lao động nói chung và đặc biệt là
lao động nông thôn rất khó khăn, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp có xu
hướng gia tăng, điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến tới sự phát triển kinh tế, xã hội,
chính trị, an ninh của quốc gia, nguyên nhân của vấn đề này là: Nền kinh tế của đất
nước phát triển chậm, khả năng thu hút lao động và tạo việc làm mới hạn chế; trình
độ của độ ngũ người lao động thấp, không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển,
thông tin về thị trường, thông tin về khoa học công nghệ rất yếu, nghèo, thiếu vốn,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
- Đô thị hoá và quản lý đô thị ở Hà Nội do GS. TS. Nguyễn Đình Hương
(chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
- Huy động và sử dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn –
thực trạng và giải pháp do TS. Chu Tiến Quang (chủ biên), NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2005.
- Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004.
- Tạo việc làm ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở đô thị, Luận án Phó
tiến sĩ Kinh tế của Trần Thị Lộc, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 1996.
- Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế của Trần Thị Thu, Trường Đại học Kinh tế quốc dân,
Hà Nội, 2002...
Tuy nhiên, việc nghiên cứu giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp
trong quá trình đô thị hoá chưa được các tác giả đề cập và giải quyết vấn đề một
cách có hệ thống. Gần đây, ở một số địa phương đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, vấn
đề giải quyết việc làm cho nông dân mất đất một phần hoặc suất toàn bộ đất đai do
chuyển mục đích sử dụng đất trở nên bức xúc, một số cơ quan chủ quản ở các địa
phương cũng đã bắt đầu nghiên cứu về giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp, song vấn đề mới dừng lại ở địa bàn các địa phương, thiếu tính hệ thống.
Do vậy, luận văn đã góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất
các giải pháp trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp nước ta
trong quá trình đô thị hoá, đô thị hoá nông nghiệp, nông thôn. Hy vọng góp thêm
tiếng nói cùng các nhà nghiên cứu, quản lý giải quyết tốt vấn đề cấp bách trong
giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về lao động và việc làm của lao động
- Đánh giá được thực trạng, định hướng quá trình đô thị hóa ở nước ta thời
gian qua và tác động của nó tới việc làm của người lao động.
- Đánh giá được thực trạng về việc làm của người lao động nông nghiệp trong
quá trình đô thị hóa hiện nay ở nước ta.
- Đề xuất phương hướng biện pháp tạo việc làm cho lao động nông nghiệp
trong quá trình đô thị hóa hiện nay ở nước ta.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề lý luạn, thực tiễn về việc làm cho lao đông nông
nghiệp trong quá trình đô thị hoá.
Chương 2: Thực trạng về việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình
đô thị hoá ở nước ta hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao
động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở nước ta.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
1.1. Lao động nông nghiệp, ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến việc
làm của lao động nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm lao động nông nghiệp
Khái niệm "lao động" tùy theo góc độ nghiên cứu mà các nhà khoa học đưa
ra các quan niệm về "lao động" tương ứng. Tuy nhiên, các quan điểm đều tập trung
chủ yếu vào hai khía cạnh: Thứ nhất, coi lao động là hoạt động, là phương thức tồn
tại của con người. Thứ hai, coi lao động chính là bản thân con người, là sự nỗ lực
có quy định giới hạn tối đa và giới hạn tối thiểu khác nhau: giới hạn tối thiểu ở
Braxin: 10 tuổi, Úc: 15 tuổi, Mỹ: 16 tuổi,... phần lớn các quốc gia quy định độ tuổi
này từ 14 hoặc 15 tuổi. Ở Việt Nam quy định 15 tuổi, giới hạn tối đa: các nước Bắc
Âu (Đan Mạch, Thụy Sĩ, Na Uy, Phần Lan) quy định độ tuổi này là 74 tuổi. Còn
các nước đang phát triển: Malaixia, Ai Cập, Mêhicô,... quy định độ tuổi này là 65
tuổi. Ở Việt Nam độ tuổi này được quy định: 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối
với nữ [25, tr. 5].
Trong điều kiện ngày nay (nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền kinh tế
khu vực và thế giới, nền kinh tế tri thức,...) việc không ngừng nâng cao chất lượng
nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Số lượng lao động đông đảo không còn
chiếm ưu thế, nhất là với lao động có chất lượng thấp.
Điểm đáng lưu ý của lao động nông nghiệp là mọi hoạt động lao động, sản
xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp đều gắn liền với đối tượng cây trồng,
vật nuôi - là những cơ thể sống với những đặc điểm riêng biệt, không thể xóa bỏ,
làm cho lao động nông nghiệp mang sắc thái riêng, không giống với lao động trong
một số ngành kinh tế khác. Đặc biệt là tính chất thời vụ của lao động nông nghiệp,
làm cho lao động nông nghiệp lúc thì căng thẳng, lúc lại nhàn rỗi; tình trạng thiếu
việc làm tạm thời là khá phổ biến.
1.1.2. Khái niệm việc làm
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao
động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.
Điều 13, chương 2 (việc làm) Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị
pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Khái niệm này được vận dụng
trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam
và được cụ thể hóa thành ba dạng hoạt động sau:
- Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương dưới dạng bằng tiền hoặc
bằng hiện vật.
nhưng không tạo ra thu nhập "trực tiếp" cho người tham gia hoạt động - như công
việc nội trợ của phụ nữ,... lại không được coi là việc làm. Nhờ phụ nữ làm công
việc nội trợ, đã góp phần làm giảm chi tiêu của gia đình; tạo điều kiện cho chồng,
con yên tâm hoạt động sản xuất, kinh doanh đồng thời góp phần tăng thêm lượng
vốn đầu tư vào sản xuất, phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho cả gia đình. Như vậy,
thực chất của vấn đề ở đây là công việc nội trợ của phụ nữ cũng đã góp phần làm tăng thu
nhập của cả gia đình.
Với ý nghĩa đó, tác giả luận văn đồng tình với quan điểm: việc làm là một dạng
hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, có thu nhập hoặc tạo điều kiện tăng
thêm thu nhập cho người thân, gia đình hoặc cộng đồng [39, tr. 32].
Trong nền kinh tế thị trường, ở đâu có lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ tăng
cường sử dụng lao động, tăng sản lượng, khối lượng việc làm sẽ tăng lên. Mặt
khác, khi nhu cầu thị trường suy giảm, các doanh nghiệp sẽ phải cắt giảm sản
lượng, khối lượng việc làm sẽ giảm.
danh môc tµi liÖu tham kh¶o
1.
Nguyễn Thế Bá (Chủ biên, 2004), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị, Nxb
Xây dựng, Hà Nội.
2.
Ban T- t-ởng Văn hóa Trung -ơng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(2002), Con đ-ờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3.
Bộ Xây dựng (1994), Xã hội học trong quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị,
Ch-ơng trình KC.11. Đề tài: KC-11-12, Hà Nội.
9.
Bộ Xây dựng (1999), Quy hoạch xây dựng các đô thị Việt Nam, Nxb Xây
dựng, Hà Nội.
10.
Bộ Xây dựng - Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (1990), Thông t- số 31/TTLBTCCBCP, ngày 20-11 về quy hoạch đô thị, Hà Nội.
11.
Bộ Xây dựng - Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (2002), Thông t- số 02/2002TTLB-TCCBCP ngày 17/2 về quy hoạch đô thị, Hà Nội.
12.
Nguyễn Tiến Dỵ (Chủ biên, 1997), Quy hoạch các đô thị Việt Nam và những
dự án phát triển đến sau năm 2000, Nxb Thống kê - Tạp chí Kinh tế và dự
báo - Bộ Kế hoạch và Đầu t-, Hà Nội.
13.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14.
20.
Đặng Thái Hoàng (Chủ biên, 2004), Hợp tuyển thiết kế đô thị, Nxb Xây
dựng, Hà Nội.
21.
Nguyễn Đình H-ơng (Chủ biên, 2000), Đô thị hóa và quản lý đô thị ở Hà
Nội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22.
V.I. Lênin (1981), Toàn tập, tập 3, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
23.
V.I .Lênin (1981), Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
24.
V.I. Lênin (1981), Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
25.
Trần Thị Lộc (1996), Tạo việc làm tại khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở đô
thị, Luận án phó tiến sĩ Khoa học kinh tế, Tr-ờng Đại học Kinh tế quốc dân,
Hà Nội.
26.
quốc gia, Hà Nội.
32.
Đàm Quang Ph-ờng (1995), Đô thị Việt Nam, ch-ơng trình KC.11, Bộ Xây
dựng, Hà Nội.
33.
Chu Tiến Quang (Chủ biên, 2005), Huy động và sử dụng các nguồn lực trong
phát triển kinh tế nông thôn thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
34.
Số liệu thống kê - lao động - việc làm ở Việt Nam 2004 (2005), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
35.
Sở Lao động Th-ơng binh và Xã hội tỉnh Hải D-ơng, Báo cáo thực hiện đề
tài: Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động
sau khi bàn giao đất cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các khu
đô thị mới trên địa bàn tỉnh Hải D-ơng,
36.
Trần Cao Sơn (1995), Dân số và tiến trình đô thị hóa động thái phát triển và
triển vọng, Luận án phó tiến sĩ Kinh tế, Trung tâm Nghiên cứu dân số và phát
triển - Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Hà Nội.
Phạm Khánh Toàn (2002), Vấn đề sử dụng đất trong quy hoạch và phát triển
các khu dân c- ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa, Luận án tiến sĩ
Kiến trúc, Tr-ờng Đại học Kiến trúc, Hà Nội.
43.
Tổng cục Thống kê (2001), Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm 1991
- 2000, Hà Nội.
44.
Tổng cục Thống kê (2005), Niên giám thống kê 2004, Nxb Thống kê, Hà Nội.
45.
Tổng cục Thống kê (2004), Kinh tế xã hội Việt Nam 3 năm 2001 - 2003, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
46.
Tổng cục Thống kê (2004), Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
47.
ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam (2002), Ph-ơng án hỗ trợ giải phóng mặt
bằng của tỉnh Hà Nam, Hà Nam.