ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
---------------
NGUYỄN THỊ THỤY HƢƠNG
PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG
TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, 2006
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển thị trường tài chính nhằm tập trung và phân bổ nguồn lực của nền kinh tế một
cách hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các quốc gia
đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế như Việt Nam. Thị trường trái phiếu là một kênh dẫn
vốn hữu hiệu cho nền kinh tế, tạo ra sự đa dạng hoá các công cụ đầu tư, giảm tải cho hệ thống ngân
hàng, cung cấp phương tiện định giá chuẩn cho các nhà đầu tư nhờ vậy hỗ trợ sự phát triển cả thị
trường tiền tệ và thị trường cổ phiếu và cuối cùng là kênh tác động chính sách của NHTW.
Là một bộ phận của thị trường trái phiếu, thị trường TPCP Việt Nam trong những năm gần
đây đã có những bước phát triển quan trọng, từng bước gánh vác được vai trò của mình là tạo kênh
huy động vốn cho ngân sách để bù đắp bội chi ngân sách và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
Theo dự báo của IFM về bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2001-2005 là 2,4% GDP, trong đó tài
trợ trong nước khoảng 1,67%; giai đoạn 2006-2010 bội chi ngân sách là 2,3% GDP, trong đó tài trợ
trong nước là 1,8% GDP. Nếu nhu cầu vay trong nước được tài trợ thông qua phát hành TPCP thì nhu
cầu vốn cần huy động thời kỳ 2001-2010 là 137.000 tỷ đồng. Để thực hiện chiến lược tăng trưởng
toàn diện và xoá đói giảm nghèo thì lượng vốn cần huy động sẽ khoảng 840 đến 970 nghìn tỷ đồng.
Dự báo nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, vay vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) và thu hút vốn
nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu dựa trên cơ sở
đánh giá các yếu tố thị trường và phi thị trường trong phát hành và giao dịch TPCP ở Việt Nam. Do
vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về thực trạng phát hành và giao dịch TPCP ở Việt Nam; đồng
thời, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện thị trường TPCP để nó thực sự trở thành kênh
huy động vốn hiệu quả của Chính phủ.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu bản chất và vai trò của thị trường TPCP trong bối cảnh thị trường tài
chính Việt Nam, từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường TPCP, đánh
giá thực trạng thị trường TPCP ở Việt Nam trong thời gian qua thông qua hoạt động phát hành niêm
yết và giao dịch TPCP qua đó làm rõ những kết quả đã đạt được, những mặt còn hạn chế, tồn tại để
rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như những điều kiện cần thiết cho việc phát triển thị trường
TPCP ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP ở
Việt Nam để tăng cường vốn cho đầu tư phát triển, đồng thời làm nòng cốt để phát triển thị trường
nợ nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các hoạt động liên quan đến thị trường
phát hành và thị trường giao dịch TPCP trong nước. Ngoài ra, Luận văn còn nghiên cứu kinh
nghiệm phát triển thị trường TPCP của một số nước để có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho phát
triển thị trường TPCP ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, kết hợp với các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, lôgíc và
phương pháp quy nạp, thống kê, so sánh... Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của Đảng
và Nhà nước về phát triển kinh tế định hướng XHCN.
6. Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn
Trong thời gian thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, hệ thống tài chính của Việt Nam
chủ yếu dựa vào hoạt động của hệ thống ngân hàng. Đến giữa những năm 1980 (năm 1986), Việt
Nam đã tiến hành công cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường. Điều này đòi hỏi hệ thống tài
chính phải được thiết kế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Quá trình cải cách hệ
thống hệ thống tài chính nước ta được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng vào tháng
5/1990, theo đó hệ thống Ngân hàng một cấp được chuyển thành mô hình hệ thống Ngân hàng hai
cấp (NHTW Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và thực thi chính sách tiền
tệ; hệ thống NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ). Cho đến nay, hệ thống tài chính Việt
Nam, đặc biệt là NHTW và khu vực NHTM vẫn tiếp tục được cải cách, từng bước hoàn thiện nhằm
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay, cơ cấu của thị trường tài chính Việt Nam
gồm: Khu vực Ngân hàng (NHTM QD, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng liên
doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Quỹ tín dụng Nhân dân) và khu vực phi Ngân hàng
(Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính và Công ty cho thuê tài chính, Công ty chứng khoán).
Thị trường tài chính là nơi mua và bán các loại hình công cụ tài chính. Có thể nói rằng, thị
trường tài chính mang lại lợi nhuận quan trọng cho các thành viên tham gia vì thị trường có thể tái
phân phối vốn trong hệ thống tài chính hay nói cách khác là dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi cần vốn.
Bên cạnh đó, thị trường tài chính cũng cho phép các đơn vị kinh tế điều chỉnh các loại nợ họ nắm
giữ và phát hành để họ có thể đảm bảo khả năng trả nợ, quản lý rủi ro và có khả năng thanh toán;
thực hiện phát hành nợ để có thể đa dạng hoá các loại hình tài sản và có khả năng thanh toán.
Các thị trường cấu thành cơ bản của thị trường tài chính Việt Nam đã được hình thành tương
đối đầy đủ.
- Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, là nơi mua bán ngắn hạn các giấy tờ có giá.
Các giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trường tiền tệ bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu
NHTW, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung
ương thanh toán, công trái và các loại giấy tờ có giá khác do Thống đốc NHTW quy định trong từng
thời kỳ.
Thị trường tiền tệ bao gồm: Thị trường nội tệ liên ngân hàng (được thành lâp và đi vào hoạt
động năm 1993) và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (hoạt động từ tháng 10/1994), thị trường đấu
thầu tín phiếu kho bạc (hoạt động từ năm 1995), nghiệp vụ thị trường mở (hoạt động từ tháng 7/2000).
Thị trường tiền tệ là cơ sở quan trọng để NHTW điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, là điều kiện
Hoạt động tín dụng ngân hàng còn một số vấn đề cần lưu ý như: chất lượng tín dụng của hệ
thống ngân hàng còn thấp, chứa đựng nhiều rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn còn thấp so với thông lệ quốc tế,
hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
Huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng khá mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân giai
đoạn 2001-2004 khoảng 25%/năm, chủ yếu là nguồn tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn
nhất chiếm khoảng 50%, tiền gửi tiết kiệm chiếm khoảng 22%. Nguồn vốn không kỳ hạn và ngắn
hạn chiếm tỷ trọng khoảng 70%. Nguồn vốn trung dài hạn chiếm tỷ trọng thấp khoảng 30% tổng
nguồn vốn, chủ yếu là nguồn vốn có thời hạn từ 1 đến 2 năm, nguồn vốn có thời hạn từ 5 năm trở
lên có tỷ trọng không đáng kể (khoảng 7% tổng nguồn vốn trung dài hạn).
- Thị trường chứng khoán đã được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 đã có
những đóng góp ban đầu trong việc huy động nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế. Trung tâm giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK TP. HCM) là nơi niêm yết và thực hiện các
giao dịch tập trung của thị trường chứng khoán. Bên cạnh thị trường chính thức còn có thị trường
phi chính thức. Đây là nơi diễn ra các giao dịch chứng khoán không niêm yết như cổ phiếu của các
công ty nhỏ, của các công ty chuẩn bị niêm yết. Thị trường trái phiếu- một bộ phận của thị trường
chứng khoán bắt đầu hoạt động từ năm 1995. Trái phiếu ở Việt Nam được phát hành bao gồm 3
loại: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đầu tư và trái phiếu công ty. Chính phủ là chủ thể phát hành
trái phiếu lớn nhất của Việt Nam. Các loại trái phiếu được giao dịch trên thị trường là trái phiếu
Chính phủ và trái phiếu công ty. Từ ngày hoạt động đến nay, trái phiếu công ty chỉ có duy nhất trái
phiếu của ngân hàng Đầu tư và Phát triển giao dịch trên thị trường.
1.1.2. Cấu trúc của thị trường tài chính
Theo cách thức huy động vốn, người ta có thể phân loại thị trường tài chính thành thị trường
nợ và thị trường vốn cổ phần.
1.1.2.1. Thị trường vốn cổ phần
Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty cổ phần. Công cụ
trên thị trường này là cổ phiếu không có kỳ hạn mà chỉ có thời điểm phát hành, không có ngày đáo
hạn. Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lại cổ phiếu trên thị trường hoặc khi
công ty tuyên bố phá sản. Cổ tức nhận được từ việc nắm giữ cổ phiếu chủ yếu phụ thuộc vào hiệu
Bộ Tài chính (1998), "Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển tài chính 5 năm 2001-2005",
Hà Nội.
5.
Bộ Tài chính (2000), “Thông tư số 55/2000/TT- BTC ngày 09/6/2000 của Bộ Tài chính hướng
dẫn việc đấu thầu trái phiếu Chính phủ qua thị trường giao dịch chứng khoán tập trung”.
6.
Bộ Tài chính (2000), “Thông tư số 58/2000/TT- BTC ngày 16/6/2000 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện một số điểm về bảo lãnh và đại lý phát hành trái phiếu Chính phủ”.
7.
Bộ Tài chính (2003), "Đề án phát hành TPCP để đầu tư một số công trình thuộc hạ tầng kinh
tế - xã hội quan trọng của Nhà nước", Hà Nội.
8.
Bộ Tài chính (2003), “Thông tư số 88/2003/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Quyết định số
182/2003/QĐ-TTg ngày 05/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát hành trái phiếu
Chính phủ để đầu tư một số công trình giao thông, thuỷ lợi quan trọng của đất nước”.
9.
Bộ Tài Chính (2004), "Thông tư 100/2004/TT-BTC ngày 20/10/2004 về thuế giá trị gia tăng
và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực chứng khoán".
phát hành TPCP theo lô lớn”.
16.
TS. Phạm Trọng Bình (2001), "Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển thị trường trái
phiếu ở Việt Nam", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Hà
Nội.
17.
Chính phủ (1994), "Nghị định số 72/CP ngày 26/7/1994 của Chính phủ về việc ban hành Quy
chế phát hành TPCP".
18.
Chính phủ (1995), "Nghị định số 23/CP ngày 22/3/1995 của Chính phủ về việc phát hành trái
phiếu quốc tế".
19.
Chính phủ (2005), "Nghị định 161/CP (thay thế cho NĐ 22/CP) về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán"
20.
Chính phủ (2005), "Nghị định số 01/2000/NĐ-CP ngày 13/01/2000 của Chính phủ về ban
hành Quy chế phát hành trái phiếu Chính phủ".
21.
33.
Thủ tướng Chính phủ (2002), "Quyết định số 453/QĐ-TTg ngày 14/6/2002 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phát hành TPCP để cấp vốn bổ sung vốn điều lệ cho các ngân hàng thương
mại Nhà nước".
34.
Thủ tướng Chính phủ (2003), "Quyết định số 163/2003/QĐ-TTg ngày 05/8/2003 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lược phát triển Thị trường chứng khoán Việt Nam đến
năm 2010".
35.
Thủ tướng Chính phủ (2003), “Quyết định số 182/2003/QĐ-TTg ngày 05/9/2003 của Thủ
tướng Chính phủ về việc phát hành trái phiếu Chính phủ để đầu tư một số công trình giao
thông, thuỷ lợi quan trọng của đất nước”.
36.
Thủ tướng Chính phủ (2005), "Quyết định số 189/2005/QĐ-TTg ngày 27/7/2005 của Thủ
tướng Chính phủ về việc thành lập Trung tâm lưu ký chứng khoán độc lập".
37.
Kho bạc Nhà nước (1994), “Thông tư số 75 TC/KBNN ngày 14/9/1994 hướng dẫn quy chế
phát hành và thanh toán các loại trái phiếu chính phủ”.
38.
Ministry of Finance of Vietnam, ASEAN Secretarial & Normura Research Institute (2004),
"Workshop on Bond Market Development in VietNam", 30 July 2004.
45.
Ministry of Finance of Vietnam, Vietcombank & Deutsche Bank (2004), "Developing the
Bond Market in VietNam", 5 July 2004.
46.
Orlin Grabbe, "International Financial Markets", Prentice Hall International, Inc.
47.
Robert Zipf, "How the Bond Market Work", New York Institute of Finance.
48.
WB & IMF (Handbook), "Developing Goverment Bond Markets".