Skkn phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học môn ngữ văn lớp 11, ở trường THPT nguyễn trường tộ - Pdf 41

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO GIA LAI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
----------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài: “Phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh
trong việc sử dụng bản đồ tư duy vào dạy - học môn
Ngữ văn lớp 11, ở trường THPT Nguyễn Trường Tộ”

Người thực hiện:
1) Họ và tên: Hồ Đức Kỳ
2) Năm sinh: 28/01/1982
3) Lĩnh vực giảng dạy: Ngữ văn
4) Chức vụ: Giáo viên, tổ phó
5) Điện thoại: 01667852419
Năm học: 2015 – 2016


MỤC LỤC

I. MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 1
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................... 2
4. Ý nghĩa đề tài ................................................................................................................... 2
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................. 3
II. NỘI DUNG ..................................................................................................................... 4
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài ................................................................................ 4
1.1. Bản đồ tư duy và việc áp dụng BĐTD vào dạy học Ngữ văn hiện nay ........................ 4
1.1.1. Bản đồ tư duy, lịch sử phát triển ............................................................................... 4
1.1.2. Thực tế áp dụng BĐTD vào dạy học môn Ngữ văn hiện nay .................................... 5

sắc, đường nét, từ khóa, hình ảnh) với những yếu tố bên ngoài, mới hơn như: hình
tượng nhân vật, chủ đề đối tượng, tích hợp liên môn, diễn giải, thuyết trình trên
lớp… biến BĐTD thành những “tác phẩm” mang tính nghệ thuật, sẽ làm cho bài
học trở nên sinh động, cuốn hút, tránh sự nhàm chán, áp đặt, thụ động với học sinh,
từ đó đạt được hiệu quả dạy học cao hơn.
Đối với môn Ngữ văn, việc sử dụng BĐTD vốn không dễ như những môn học
khác bởi đặc thù của môn học là tái hiện những kiến thức rất “trừu tượng” (những
nội dung thuộc phạm trù tư tưởng, tình cảm, thẩm mĩ…). Do vậy, nếu áp dụng
phương pháp sử dụng BĐTD theo một lối mòn có sẵn trong dạy học thì hiệu quả
công việc sẽ không cao, ngược lại nếu biết khơi dậy tính chủ động, sáng tạo của
học sinh vào BĐTD thì người giáo viên lại có thể phát huy được tính linh hoạt,
hiệu quả của nó và đạt được hiệu quả tối đa trong công việc của mình.
Từ thực tế trên đây, tôi viết đề tài Phát huy tính chủ động, sáng tạo của học
sinh trong việc sử dụng bản đồ tư duy vào dạy - học môn Ngữ văn lớp 11, ở
trường THPT Nguyễn Trường Tộ nhằm chia sẻ những kinh nghiệm trong việc sử
dụng BĐTD vào hoạt động dạy học môn Ngữ văn của mình. Rất mong nhận được
sự nhận xét, góp ý từ quý thầy cô, đồng nghiệp, mọi người để đề tài được hoàn
thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
1


2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: phương pháp sử dụng BĐTD một cách chủ động,
sáng tạo vào dạy – học môn Ngữ văn ở trường THPT.
- Đối tượng thực nghiệm: học sinh THPT, lớp 11 (ban cơ bản), trường THPT
Nguyễn Trường Tộ, Đức Cơ, Gia Lai;
- Phạm vi nghiên cứu: thuộc chương trình SGK Ngữ Văn, lớp 11 (ban cơ
bản), trong năm học: 2015 – 2016.
3. Mục đích nghiên cứu
- Tìm ra một phương pháp học tích cực, hiệu quả trong việc khai thác, ghi



II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Bản đồ tư duy và việc áp dụng BĐTD vào dạy học Ngữ văn hiện nay
1.1.1. Bản đồ tư duy, lịch sử phát triển
Bản đồ tư duy là một phương pháp học, ghi nhớ thông tin mới mẻ, sáng tạo
do Tony Buzan tìm ra ra vào những năm 60 của thế kỉ XX. Nguyên tắc hoạt động
của BĐTD là sự ghi nhớ, xâu chuỗi, liên kết thông tin về đối tượng một cách logic
từ các yếu tố: đườn nét, màu sắc, hình ảnh và từ khóa. Sự liên kết này giống cách
thức hoạt động của các nơ ron thần kinh trong não người, đồng thời nó cũng cho
phép cả hai bán cầu não trái và phải được kích thích hoạt động một cách tối đa.
Theo các nhà khoa học thì bên não trái của người là nơi đảm nhận các thông tin về:
nhịp điệu, màu sắc, hình dạng, bản đồ, tưởng tượng, mơ mộng; bên não phải đảm
nhận các thông tin về: từ ngữ, con số, đường kẻ, danh sách, lý luận, phân tích, một
khi BĐTD được tái hiện thì tất cả những khả năng của hai bán cầu não đều được
huy động mang lại hiệu quả cao nhất cho việc tái hiện, liên kết và ghi nhớ thông
tin.

Hình 1. Tony Buzan

Hình 2. Các chức năng của hai bán cầu não

4


Chính những ưu việt của phương pháp tái hiện và ghi nhớ thông tin này mà
BĐTD nhanh chóng được áp dụng rộng rãi vào cuộc sống. Người ta coi đó là
“công cụ vạn năng”, điều “thần kỳ” mang lại hiệu quả cao cho công việc. Theo
Wikimidia, hiện nay trên thế giới có hơn 250 triệu người sử dụng BĐTD vào các

Hình 5. Một bản đồ tư duy theo cách sáng tạo (truyện “Hai đứa trẻ”-Thạch Lam)

6


Từ hai trường hợp này có thể nhận thấy, trong hoạt động dạy học nếu áp dụng
BĐTD theo trường hợp thứ nhất thì học sinh có thể ghi nhớ thông tin bài học và
việc lĩnh hội kiến thức chỉ ở mức độ “nhận biết” và “thông hiểu” - những kiến thức
cơ bản trong bài học. Ngược lại trong trường hợp thứ hai, các em không chỉ nhận
biết, thông hiểu nữa mà còn có thể “vận dụng, sáng tạo” cả ở mức độ thấp và mức
độ cao khi tiếp nhận kiến thức. Các em có thể tái hiện kiến thức trong BĐTD một
cách sáng tạo và chủ động, có thể huy động kiến thức ở nhiều cấp độ khác nhau,
trong môn học hoặc liên môn với các môn học khác.
Như vậy, chủ động, sáng tạo khi sử dụng BĐTD trong bộ môn Ngữ văn trở
thành một chìa khóa quan trọng rất lớn để học sinh và giáo viên thành công trong
hoạt động dạy – học của mình. Và đây cũng chính là cơ sở, căn cứ khoa học của đề
tài, SKKN này.
1.2. Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng đề tài trong dạy học ở Trường
THPT Nguyễn Trường Tộ
a) Thuận lợi:
+ Về chương trình giáo dục. Hiện nay với việc áp dụng chương trình dạy học
tích cực phát triển năng lực của học sinh, và dạy học theo chủ đề tích hợp liên
môn, cho phép học sinh có thể thỏa sức sáng tạo và chủ động trong việc nắm bắt
kiến thức bài học. Mục tiêu lớn nhất của Bộ giáo dục và Đào tạo là chuyển từ hình
thức học “đọc chép” sang hình thức “tự học” phát sự chủ động, sáng tạo ở người
học. Do vậy, sử dụng BĐTD tăng cường được khả năng sáng tạo của người học,
giúp định hướng phát triển năng lực toàn diện cho học sinh.
+ Về phương tiện, cơ sở vật chất của nhà trường. Được sự quan tâm tận tình
của lãnh đạo UBND Tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo Gia Lai, cùng với sự chỉ đạo
của BGH, trường THPT Nguyễn Trường Tộ đã trang bị được những phòng học,

học để có thể liên kết giữa các bài học.

8


+ Đặc thù môn Ngữ văn cũng có những khó khăn nhất định. Phần lớn là
những bài học khó, trừu tượng nên các em học sinh và giáo viên cũng khó cho việc
lựa chọn nội dung và bài học để áp dụng BĐTD vào chương trình.
+ Hình thức tổ chức hoạt động nhóm, thảo luận, trình bày, trao đổi, tương
tác… giữa các học sinh còn mới mẻ nên có một số em chưa quen, từ đó khó khăn
cho giáo viên triển khai nội dung bài học…
2. Biện pháp phát huy tích chủ động, sáng tạo của học sinh trong BĐTD
2.1. Hướng dẫn học sinh vận dụng BĐTD một cách sáng tạo
Trong phần này, chúng tôi không tập trung vào kĩ thuật vẽ BĐTD hay những
bước tiến hành cần có của một BĐTD mà chỉ tập trung vào những nội dung, biện
pháp nhằm thể hiện sáng tạo trong BĐTD, từ đó học sinh có thể ghi nhớ, tái hiện,
liên kết thông tin một cách hiệu quả nhất, dựa trên đặc thù của bộ môn Ngữ văn.
a) Xây dựng BĐTD theo chủ đề
Xây dựng BĐTD dựa trên những chủ đề lớn, bao quát từ các tác phẩm trong
SGK Ngữ văn. Mỗi chủ đề học sinh có thể dựa trên những thông tin: nhân vật, các
chuỗi sự kiện, chi tiết nổi bật, hành động, lời đối thoại… trong văn bản để tái hiện.
Mỗi văn bản giáo viên có thể đưa ra nhiều chủ đề để học sinh thể hiện. Như tác
phẩm “Chí Phèo” có thể đưa ra các chủ đề:
- Bi kịch tình duyên của Chí Phèo;
- Bi kịch cự tuyệt quyền làm người;
- Mâu thuẫn giai cấp địa chủ phong kiến với người nông dân…
Tác phẩm “Hai đứa trẻ” có thể có các chủ đề như:
- Số phận những con người nhỏ bé ở phố huyện;
- Hình tượng ánh sáng và bóng tối trong tác phẩm;
- Đoàn tàu và người dân phố huyện

Hình 7. Cách thể hiện nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao

Hình 8. Cách thể hiện nhân vật Hai chị em Liên, An
12


c) Xây dựng BĐTD theo nội dung
Nội dung văn bản văn học ở đây được hiểu là các diễn biến chính của câu
chuyện, nó giống như việc tái hiện lại cốt truyện của tác phẩm. Nếu chủ đề là
những khía cạnh, hay một vấn đề nổi bật thì nội dung là cái nhìn toàn cảnh về văn
bản văn học.
Việc sử dụng BĐTD để thể hiện nội dung văn bản giúp học sinh ghi nhớ
thông tin hiệu quả, đồng thời có thể tóm tắt nội dung văn bản một cách nhanh nhất,
từ đó vận dụng vào việc cảm nhận, phân tích, đánh giá các nội dung tư tưởng và
nghệ thuật của tác phẩm.

Hình 9. Cách thể hiện nội dung vở kịch “Vũ Như Tô”

13


Hình 10. Cách thể hiện nội dung truyện ngắn “Hai đứa trẻ”

d) Xây dựng BĐTD theo cách tổng hợp
Đây là cách dùng BĐTD để thể hiện cái nhìn toàn vẹn, hoàn chỉnh về tác
phẩm văn học. Giống như việc trả lời câu hỏi “em học được những gì từ tác phẩm
này?”, học sinh thông qua BĐTD có cách đánh giá bao quát về tác phẩm dựa trên
những phạm khía cạnh lớn nhất, bao gồm các yếu tố như: tác giả, hoàn cảnh sáng
tác, nội dung, nghệ thuật của văn bản…
Đây là một cách thể hiện tổng hợp nên BĐTD dạng này phù hợp cho các bài

tiến hành theo một quy trình thống nhất, khoa học. Sau đây là các bước tiến hành
của một hoạt động dạy học có sử dụng BĐTD cụ thể.
a) Định hướng, thiết kế bài học
Đây là bước đầu tiên, người giáo viên cần xác định được nội dung bài dạy của
mình có áp dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD. Thực tế cho thấy không phải
bài học nào cũng có thể áp dụng hoặc dùng BĐTD là đạt hiệu quả, mà nó cần sự
phù hợp, linh hoạt nhất định. Việc lựa chọn bài học, nội dung, chủ đề, người thực
hiện BĐTD thể hiện tầm nhìn và kinh nghiệm của giáo viên trong dạy học.
Tiếp theo là việc áp dụng BĐTD như thế nào vào trong tiến trình dạy học, thể
hiện qua giáo án của người giáo viên. Nó có thể nằm ở phần nào, thuộc phần kiểm
tra bài cũ, triển khai bài mới hay làm bài tập, là do cá nhân hay nhóm học sinh tiến
hành… Tất cả đều phải được giáo viên lựa chọn, sắp xếp, bố trí một cách hợp lý.
Điều này đòi hỏi sự chuẩn bị kĩ càng của giáo viên, và có thể linh hoạt thay đổi sau
khi “rút kinh nghiệm” qua mỗi tiết học, bài học và cả những năm học của giáo
viên.
b) Chuyển giao nhiệm vụ
Chuyển giao nhiệm vụ học tập cho học sinh được tiến hành khi giáo viên đã
có định hướng và nội dung cho học sinh, các nhóm học sinh thực hiện BĐTD.
Bước này được thực hiện trên lớp, trước mỗi bài học có áp dụng BĐTD.
Ở bước này, giáo viên và học sinh có thể trao đổi về các nội dung liên quan
đến BĐTD như: cách thức thể thể hiện, đánh giá, thời gian, giao nhiệm vụ, phân
chia nhóm… Lưu ý quan trọng nhất trong hoạt động này: giáo viên chỉ là người tổ
chức, định hướng còn học sinh giữ vai trò trung tâm quyết định, lựa chọn cách thức
thể hiện, trình bày BĐTD của mỗi nhóm.
17


c) Trao đổi thảo luận
Sau khi có BĐTD, mỗi học sinh hoặc các nhóm trình bày lại ý tưởng của
mình và cho học sinh trong lớp trao đổi, đặt câu hỏi thảo luận. Đây là bước học

hiện, vận dụng kiến thức của học sinh trong bài học; kết quả làm bài kiểm tra và
thống kê chất lượng cuối năm trong môn Ngữ văn. Tất cả những tiêu chí này đều
đạt ở mức cao.
Đối với hoạt động dạy học của giáo viên, phương pháp sử dụng BĐTD vào
dạy học mang lại nhiều trải nghiệm, bài học quý giá cho ghề dạy và hiệu quả trong
giáo dục, dạy học. khi vận dụng BĐTD, giáo viên có thể tiết kiệm được thời gian
đứng lớp, tích hợp liên môn, định hướng được sự phát triển năng lực toàn diện cho
học sinh.

19


Từ thực tế dạy học, trong năm học 2015 – 2016 thống kê chất lượng môn Ngữ
văn, khối 11 ở trường THPT Nguyễn Trường Tộ, tỉ lệ học sinh trên trung bình đạt
trên 80%. Có thể ở những vùng thuận lợi, đây là con số thấp nhưng với địa bàn
vùng biên giới còn nhiều khó khăn như ở trường THPT Nguyễn Trường Tộ, chất
lượng học sinh đầu vào thấp thì đây là con số cao và thực sự có ý nghĩa. Thống kê
cụ thể:

Năm học

2015 - 2016

Chất lượng bộ môn Ngữ văn khối 11

Tỉ lệ

Năm học: 2015 - 2016

Trên


27,4

64

51,6

24

19,4

20

TB

80,6%


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Phương pháp sử dụng BĐTD trong bộ môn Ngữ văn là một phương pháp
dạy học tích cực và hiệu quả. Việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh
khi sử dụng BĐTD góp phần tạo ra sự hứng thú và hiệu quả trong việc lĩnh hội và
vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống cho người học.
- Sự chủ động, sáng tạo của học sinh khi sử dụng BĐTD sẽ phát huy tối đa
những đặc điểm về tính trừu tượng, đa nghĩa của văn bản văn học, góp phần phát
huy, định hướng được sự phát triển toàn diện năng lực của học sinh. Đồng thời còn
có thể tích hợp được các bộ môn khác như: Mỹ thuật, Địa lý, Lịch sử… vào trong
môn Ngữ văn.
- Để có được thành công và hiệu quả khi sử dụng phương pháp BĐTD vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status