SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIA LAI
TRƯỜNG THPT LÊ THÁNH TÔNG
TỔ NGỮ VĂN
ĐỀ TÀI:
VẬN DỤNG PISA VÀO THIẾT KẾ PHẦN ĐỌC-HIỂU
TRONG ĐỀ KIỂM TRA (ĐỀ THI)
MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hương
Chức danh: Giáo viên
Năm thực hiện: 2015
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
Mục lục
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................3
I. Lí do chọn đề tài........................................................................................3
II. Mục đích nghiên cứu...............................................................................5
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu..............................................................5
IV. Phương pháp nghiên cứu........................................................................5
V. Lịch sử vấn đề..........................................................................................6
B. NỘI DUNG..................................................................................................8
I. Ưu điểm trong yêu cầu đọc-hiểu của PISA với yêu cầu đọc-hiểu của
chương trình Ngữ văn THPT.............................................................................8
1.
Mục tiêu.........................................................................................8
III. Vận dụng PISA vào thiết kế phần Đọc-hiểu trong đề kiểm tra (đề
thi) môn Ngữ văn lớp 12 ( tập 1, chương trình cơ bản)...........................17
1. Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh...........................................17
2. Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc –
Phạm Văn Đồng.............................................................................20
Trang 2
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
3. Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 –
Cô-phi An-nan....................................................................................23
4. Tây Tiến – Quang Dũng.....................................................................26
5. Việt Bắc (trích) – Tố Hữu...............................................................30
6. Đất Nước (trích) – Nguyễn Khoa Điềm.........................................33
7. Đất nước – Nguyễn Đình Thi........................................................36
8. Dọn về làng – Nông Quốc Chấn....................................................39
9. Đò Lèn – Nguyễn Duy...................................................................41
10.Sóng – Xuân Quỳnh.......................................................................44
11.Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo.............................................47
12.Bác ơi! – Tố Hữu...........................................................................50
13.Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân....................................... ...53
14.Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường..............57
IV. Kết quả nghiên cứu................................................................................59
C. KẾT LUẬN.................................................................................................61
Tài liệu tham khảo............................................................................................63
Trang 3
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
giáo viên và học tập cho học sinh, hướng đến những năng lực tư duy, sáng tạo,
tránh được lối học thụ động, không gắn với thực tiễn cuộc sống. Mặt khác vận
dụng PISA trong đánh giá năng lực đọc – hiểu cho học sinh cũng là để hòa
nhập với giáo dục quốc tế.
3. Bắt đầu từ năm học 2013-2014, đề thi tốt nghiệp môn Ngữ văn có sự
thay đổi lớn, đó chính là sự xuất hiện của phần Đọc - hiểu. Để kiểm tra kĩ
năng đọc - hiểu sẽ có những câu hỏi theo tiêu chuẩn đánh giá năng lực người
học của PISA. Các câu hỏi này sẽ xoay quanh các vấn đề liên quan tới tác giả,
nội dung và nghệ thuật của văn bản đó. Ngoài ra, đề thi còn yêu cầu học sinh
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, do đó tăng cường câu hỏi mở, gắn với thời
sự quê hương, đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các
vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội.
4. Bản thân người viết cũng như các đồng nghiệp khi ra đề kiểm tra (đề
thi) phần Đọc-hiểu cũng còn nhiều lúng túng vì chưa hiểu hết những nguyên
tắc, yêu cầu cụ thể cũng như nguồn tư liệu chưa được phong phú.
5. Theo GS Trần Đình Sử, “Khởi điểm của môn Ngữ văn là dạy học sinh
đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn… Nếu học sinh không trực
tiếp đọc các văn bản ấy, không hiểu được văn bản, thì coi như mọi yêu cầu,
mục tiêu cao đẹp của môn Văn đều chỉ là nói suông, khó với tới, đừng nói gì
tới tình yêu văn học”. Do đó, có thể nói rèn luyện năng lực, kĩ năng đọc – hiểu
văn bản cho học sinh là một trong những yêu cầu quan trọng, khoa học và
đúng đắn để các em tiếp cận môn Ngữ văn, đánh thức tình yêu đối với môn
Văn và có khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức đã học trong nhà trường vào
cuộc sống.
Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học môn
Ngữ văn là nhu cầu thiết yếu đặt ra đối với những người đang làm nhiệm vụ
2. Phạm vi nghiên cứu: chương trình Ngữ văn 12 THPT, tập 1 (Chương
trình Cơ bản).
IV. Phương pháp nghiên cứu
1. Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu.
2. Khảo sát kết quả học tập của học sinh.
Trang 6
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
3. Rút kinh nghiệm qua các bài giảng của bản thân và đồng nghiệp.
V. Lịch sử vấn đề
Các tài liệu mà người viết tìm đọc được đều là những văn bản, những bài
báo cáo, chuyên đề đưa ra một số nguyên tắc, yêu cầu khi thiết kế đề kiểm tra
(đề thi ) và thiết kế một số đề đọc-hiểu.
- Thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết
29/NQ-TW, ngày 6/3/2014 Bộ GD&ĐT đã ban hành kế hoạch số 103/KHBGDĐT về việc tổ chức hội thảo “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học
tập môn Ngữ văn trong trường phổ thông”. Nhiều ý kiến trong hội thảo đã xác
định: bên cạnh việc yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn văn, bài thơ; nhà
trường cần dạy và yêu cầu các em biết đọc hiểu các loại văn bản thông tin,
trong đó có rất nhiều văn bản kết hợp kênh chữ và kênh hình, học sinh phải
biết đọc hình kết hợp với đọc chữ để nắm được thông tin và hiểu đúng ý nghĩa
của văn bản.
Yêu cầu về năng lực đọc-hiểu được hội thảo đưa ra là:
. Kiểm tra kiến thức về tiếng Việt: phát hiện những sai sót về chính tả, ngữ
pháp, chấm câu, dùng từ, logic…. chẳng hạn cho một đoạn văn có nhiều sai
sót và yêu cầu học sinh phát hiện những sai sót trong đoạn văn đó.
. Yêu cầu tóm tắt ý chính của một đoạn văn bản cho trước (văn bản có thể là
hợp, vận dụng điều được đọc vào giải quyết các vấn đề của thực tế đời sống.
- Chuyên đề “Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn cấp THPT theo hướng
đọc-hiểu của PISA” do cô Nhan Thị Hằng Nga biên soạn cũng đã đưa ra sự
cần thiết tiến hành nghiên cứu việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá
môn Ngữ văn cấp THPT theo hướng Đọc-hiểu của PISA; Một số vấn đề cần
biết về PISA và những yêu cầu cơ bản của việc thiết kế đề kiểm tra môn Ngữ
văn cấp THPT theo hướng Đọc-hiểu của PISA.
- Tài liệu “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng
phát triển năng lực của học sinh” của Vụ Giáo dục trung học đã hướng dẫn
Trang 8
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
biên soạn câu hỏi và đề kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh, trong đó có áp dụng cách thiết kế câu hỏi của PISA.
Như vậy, người viết chưa đọc một tài liệu nào tổng hợp hai phần: hướng dẫn
cụ thể về cách ra đề, cách chấm các bài kiểm tra (bài thi) phần Đọc-hiểu có
vận dụng PISA và tài liệu về một số đề đọc-hiểu trong chương trình Ngữ văn
lớp 12, tập 1, vì vậy người viết đã thực hiện đề tài: “Vận dụng PISA vào thiết
kế phần Đọc-hiểu trong đề kiểm tra (đề thi) môn Ngữ văn lớp 12”
B. NỘI DUNG
I. Ưu điểm trong yêu cầu đọc-hiểu của PISA với yêu cầu đọchiểu của chương trình Ngữ văn THPT
1. Mục tiêu
Phần đọc- hiểu bậc học THPT môn Ngữ văn Việt Nam: cung cấp kiến
thức; hình thành và phát triển kĩ năng; bồi dưỡng và giáo dục học sinh những
tình cảm tốt đẹp, trách nhiệm của bản thân với gia đình và cộng đồng. Trong
đó cung cấp kiến thức cho học sinh được coi là số một. Từ đó cho thấy,
đọc hiểu của PISA cao và sâu hơn nhiều so với chương trình của Việt Nam.
4. Đề kiểm tra
Các đề kiểm tra đọc hiểu của chương trình Ngữ văn THPT phần lớn sử dụng
hệ thống câu hỏi tự luận, còn các đề kiểm tra của PISA bao gồm hai phần: trắc
nghiệm và tự luận.
II. Mục đích, nguyên tắc và những yêu cầu khi vận dụng PISA
vào thiết kế phần Đọc-hiểu trong đề kiểm tra (đề thi) môn Ngữ văn
lớp 12
1. Mục đích
- Kiểm tra việc đọc hiểu văn bản: Kiểm tra lại thông tin đã đọc, nhận
diện thông tin tương ứng; kiểm tra lại việc nắm thông tin, phải phù hợp, không
được lệch ra khỏi văn bản; kiểm tra kĩ năng trình bày lại nội dung văn bản dựa
trên những thông tin chính; tìm lại một cách cụ thể những thông tin đã đọc.
Trang 10
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
- Tạo ra nền tảng hiểu văn bản, cụ thể là lọc ra được chủ đề chính
của câu chuyện; tìm ra lý do cho việc lựa chọn của tác giả; hiểu được nội dung
chính của một đoạn văn tự chọn
- Phát triển kĩ năng bình luận văn bản, giữa việc hết hợp thông tin và
đọc biểu đồ; kết hợp thông tin giữa hai văn bản không liền mạch với nhau;
phân biệt mối liên hệ giữa các dữ liệu với nhau.
- Phát triển kĩ năng phân tích văn bản: nhận ra được những đặc điểm
hoặc tính cách nổi bật của nhân vật.
- Phản ánh lại việc suy nghĩ về nội dung văn bản: tạo nên việc so
sánh giữa nội dung văn bản với kiến thức của bản thân.
Bước 5: Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm
Bước 6: Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra
+ Công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học.
Đối với môn Ngữ văn THPT mục đích điều chỉnh để dạy học phù hợp với
chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông , phù hợp với
thời lượng dạy học và điều kiện thực tế các nhà trường, góp phần nâng cao
chất lượng dạy học và giáo dục. Hướng dẫn đã đưa ra nguyên tắc điều chỉnh,
nội dung thực hiện, thời gian điểu chỉnh và từng nội dung chi tiết
GV khi biên soạn đề cần căn cứ vào điều chỉnh để ra đề cho phù hợp.
+ Công văn số 5466/BGDĐT-GDTrH ngày 7 tháng 8 năm 2013 về việc
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2013-2014 đã chỉ
rõ: Đối với các môn khoa học xã hội và nhân văn cần tiếp tục nâng cao yêu cầu
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời
sự quê hương đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các
vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội.
+ Điều chỉnh nội dung dạy học môn Ngữ văn cấp THPT trong công văn
số 872/SGDĐT-GDTrH ngày 30 tháng 9 năm 2011 của Sở Giáo dục Đào tạo
Gia Lai.
Trang 12
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
- Giáo viên khi biên soạn đề cần dựa vào Chuẩn kiến thức – Kĩ năng hiện
hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Khi ra đề, giáo viên cần chú ý đến khả năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn của học sinh.
- Giáo viên còn dựa vào bảng mục tiêu đánh giá kiến thức của học sinh theo
PISA
+ Những câu hỏi thuộc cấp độ 1 nhằm kiểm tra kiến thức của học sinh về tác
giả, tác phẩm, về các chi tiết, dẫn chứng…trong văn bản Ngữ văn.
+ Những câu hỏi thuộc cấp độ 2 nhằm kiểm tra khả năng phân tích, lý giải …
các ý nghĩa, vấn đề trong văn bản Ngữ văn.
Câu hỏi ở cấp độ này có thể yêu cầu học sinh trả lời ngắn hoặc dài nhưng các
em phải hiểu vấn đề trình bày. Có thể yêu cầu các em giải thích nhan đề văn
bản, phân tích được giá trị nội dung, nghệ thuật, nêu được các ý nghĩa của văn
bản Ngữ văn.
Trang 13
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
+ Những câu hỏi thuộc cấp độ 3 của PISA yêu cầu phản hồi và đánh giá. Có
thể vận dụng những câu hỏi ở cấp độ này cho phép học sinh liên hệ từ bài học
(văn bản trong sách Ngữ văn THPT) đến cuộc sống. Từ vấn đề được bàn đến
trong tác phẩm, học sinh trình bày quan điểm cá nhân của mình, suy nghĩ,
nhận xét, bày tỏ ý kiến …
3. Các yêu cầu cụ thể
a. Về ngữ liệu và yêu cầu kiến thức
- Hiện nay, khi thiết kế phần Đọc-hiểu trong các bài kiểm tra và thi, chúng ta
thường lấy ngữ liệu trong các văn bản đã học ở SGK hoặc ngữ liệu ngoài SGK
thuộc các vấn đề văn học, văn hóa, đời sống xã hội…( chủ yếu là văn bản
nghệ thuật và văn bản nhật dụng)
- Cần đảm bảo một số yêu cầu nội dung kiến thức sau:
+ Nhận biết về kiểu (loại), phương thức biểu đạt, cách sử dụng từ ngữ,
câu văn, hình ảnh; nhận biết các biện pháp tu từ, phong cách chức năng ngôn
ngữ…
+ Hiểu đặc điểm thể loại, phương thức biểu đạt, ý nghĩa của việc sử
+ Loại câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựa chọn)
là loại câu được ưa chuộng nhất và có hiệu quả nhất. Một câu hỏi loại này
thường gồm một phần phát biểu chính, thường gọi là phần dẫn (câu dẫn) hay
câu hỏi, và bốn, năm hay phương án trả lời cho sẵn để học sinh tìm ra câu trả
lời đúng nhất trong nhiều phương án trả lời có sẵn. Ngoài câu đúng, các câu
trả lời khác đều có vẻ hợp lý (hay còn gọi là các câu nhiễu).
• Trong việc soạn các phương án trả lời sao cho câu đúng phải đúng một
cách không tranh cãi được (không có điểm sai và những chỗ tối nghĩa), còn
các câu nhiễu đều phải có vẻ hợp lí.
• Các câu nhiễu phải có tác động gây nhiễu với các học sinh có năng lực
tốt và tác động thu hút các học sinh kém hơn.
Trang 15
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
• Các câu trả lời đúng nhất phải được đặt ở các vị trí khác nhau một số lần
tương đương ở mỗi vị trí A, B, C, D, E. Vị trí các câu trả lời để chọn lựa nên
được sắp xếp theo một thứ tự ngẫu nhiên.
• Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, diễn đạt rõ ràng một vấn đề hay nên
mang trọn ý nghĩa. Nên tránh dùng những câu có vẻ như câu hỏi loại “đúng
sai” không liên hệ nhau được sắp chung một chỗ.
• Các câu trả lời trong các phương án cho sẵn để chọn lựa phải đồng nhất
với nhau. Tính đồng nhất có thể dựa trên căn bản ý nghĩa, âm thanh, độ dài,
hoặc cùng là động từ, tính từ hay danh từ.
• Nếu có 4 hoặc 5 phương án để chọn cho mỗi câu hỏi. Nếu số phương án
trả lời ít hơn thì yếu tố may rủi tăng lên. Ngược lại, nếu có quá nhiều phương
án để chọn thì giáo viên khó tìm được câu nhiễu hay và học sinh mất nhiều
khuyến khích học sinh học thuộc lòng.
• Các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau để học sinh không đoán mò,
nên để trống những chữ quan trọng nhưng đừng quá nhiều.
- Câu hỏi TNTL
+ Câu hỏi tự luận ngắn
. Đảm bảo cần có nhiều hơn hai câu trả lời
. Hỏi đề học sinh giải thích lí do cho câu trả lời
+ Câu hỏi nhiều lựa chọn
. Phải có đầy đủ thông tin để chỉ ra bản chất của câu hỏi
. Tất cả các phương án tùy chọn cần phải: phù hợp về ngữ pháp với phần
hỏi; được viết bằng văn phong tương tự phần hỏi; được ngắt câu một cách
chính xác; bắt đầu bằng chử cái in thường và kết thúc bằng dấu chấm câu.
+ Câu hỏi có câu trả lời dài: cần để một khoảng trống để học sinh điền phần
trả lời của mình.
Trang 17
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
c. Về cách mã hóa (chấm điểm)
- Căn cứ vào đáp án do PISA quốc tế qui định, điểm của bài làm của học
sinh sẽ được ghi bằng mã số (coding). Khi chấm điểm bài làm của học sinh sẽ
sử dụng các loại mã số sau:
Mã số cho mức điểm "tối đa": Làm đầy đủ theo qui định tại đáp án,
Mã số cho mức điểm "chưa tối đa": Không hoàn thành đầy đủ theo đáp án.
Mã số cho tình trạng "Không làm hoặc làm khác hoàn toàn so với đáp án"
- Tùy theo mỗi câu hỏi, mỗi mức trên sẽ có một hoặc một vài mã số được qui
định cụ thể
Mã hóa của các câu hỏi thường 0 1 2 9 hoặc 0 1 9 tùy theo từng loại câu hỏi.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm
1791 cũng nói:
"Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi".
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
(Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo
dục Việt Nam, 2013, tr. 39)
Câu a. (0.25 điểm) Hãy cho biết vị trí của đoạn văn trên trong tác phẩm
“Tuyên ngôn độc lập”
Câu b. (0.25 điểm) Đoạn văn bản trên thuộc loại phong cách ngôn ngữ nào?
Câu c. (0.5 điểm) Câu cuối trong đoạn văn, Hồ Chí Minh khẳng định “Đó là
những lẽ phải không ai chối cãi được” Hãy cho biết “những lẽ phải” đó là
gì?
Câu d. (1.0 điểm) Nêu tác dụng của việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn trong
đoạn văn trên.
Câu e. (1.0 điểm) Từ đoạn văn bản trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn
(khoảng 10-15 dòng) trình bày thái độ của mình về việc chủ quyền biển đảo
của dân tộc Việt Nam đang bị xâm phạm.
b. Phần hướng dẫn mã hóa
Câu a
- Mức tối đa (0.25 điểm)
Nêu được một trong các vị trí sau: phần đầu, phần một, phần cơ sở pháp lí
- Không đạt (0 điểm): Câu trả lời khác/ Không trả lời
Trang 19
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
Câu b
- Mức tối đa (0.25 điểm): Phong cách ngôn ngữ chính luận
. Ý 1: Bất bình, căm giận trước hành động ngang nhiên, trái phép
. Ý 2: Xót xa vì chủ quyền lãnh thổ đất nước đang bị xâm phạm trắng trợn.
. Ý 3:
Ý thức rõ sứ mệnh và trách nhiệm của thế hệ mình: hãy là những
người trẻ yêu nước, bằng trái tim ấm nóng và lí trí tỉnh táo để góp phần giành
lại chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu.
- Mức chưa tối đa
+ (0.5 điểm) Viết được đoạn văn, trình bày hai trong ba ý chính đã nêu trên,
mắc ít lỗi diễn đạt, chính tả
+ (0.25 điểm)Viết được đoạn văn, trình bày một trong ba ý chính đã nêu trên,
mắc ít lỗi diễn đạt, chính tả
- Không đạt (0 điểm)
Viết đoạn văn nhưng ý sơ sài, mắc nhiều lỗi diễn đạt/ Không trả lời
2.
Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc -
Phạm Văn Đồng
a. Đề bài (3.0 điểm)
Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi:
“Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải
sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này.
Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của
chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn càng thấy sáng. Văn
thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy. Có người chỉ biết Nguyễn
Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên, và hiểu Lục Vân Tiên khá thiên lệch
về nội dung và về văn, còn rất ít biết thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình
b. Phần hướng dẫn mã hóa
Câu a
- Mức tối đa (0.25 điểm)
Phương thức biểu đạt: nghị luận
- Không đạt (0 điểm)
Trang 22
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
Trả lời khác/ Không trả lời
Câu b
- Mức tối đa (0.25 điểm)
Năm 1963
- Không đạt (0 điểm)
Trả lời khác/ Không trả lời
Câu c
- Mức tối đa (0.5 điểm)
Chọn đáp án đúng là B, C
- Mức chưa tối đa (0.25 điểm)
Chọn đúng một trong hai đáp án trên
- Không đạt (0 điểm)
Trả lời khác/ Không trả lời
Câu d
- Mức tối đa (1.0 điểm)
Nêu được hai ý:
Ý 1 : Biện pháp tu từ ẩn dụ
Ý 2: Tác dụng : khẳng định tài năng, vẻ đẹp và tấm lòng yêu nước của
Nguyễn Đình Chiểu
- Mức chưa tối đa (0.5 điểm)
Cô-phi An-nan
a. Đề bài (5.0 điểm)
Đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi:
“Đó là lý do chúng ta phải công khai lên tiếng về AIDS. Dè dặt, từ chối đối
mặt với sự thật không mấy dễ chịu này, hoặc vội vàng phán xét đồng loại của
mình, chúng ta sẽ không đạt được tiến độ hoàn thành các mục tiêu đề ra, thậm
chí chúng ta còn bị chậm hơn nữa, nếu sự kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn tiếp
tục diễn ra đối với những người bị HIV/AIDS. Hãy đừng để một ai có ảo
tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các
bức rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới khốc liệt của
AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng
nghĩa với cái chết.”
Trang 24
Bùi Thị Thanh Hương- Trường THPT Lê Thánh Tông
(Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003, Cô-phi
An-nan, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr. 82)
Câu a (0.5 điểm) Nêu nội dung chính của đoạn trích?
Câu b (0.5 điểm) Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Câu c (0.5 điểm) Xác định đối tượng “chúng ta” và “họ” trong câu Hãy đừng
để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng
cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ”
Câu d (1.0 điểm) Tại sao “im lặng là đồng nghĩa với cái chết”?
Câu e (1.0 điểm) Nêu thông điệp của tác giả muốn gửi gắm qua đoạn trích
Câu f (1.5 điểm) Từ đoạn trích trên hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 10
dòng) trình bày một giải pháp mà anh/chị cho là hợp lí nhất để phòng chống
dịch bệnh HIV/AIDS.