Hướng dẫn HS kỹ năng làm phần đọc hiểu trong đề thi vào lớp 10 THPT môn ngữ văn - Pdf 57

1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.1. Cơ sở lý luận
Tháng 10/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI đã thông qua Nghị quyết 29 - NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế”. Xác
định được nhiệm vụ quan trọng đó nên những năm qua Bộ Giáo dục đã không
ngừng đưa ra những giải pháp mang tính cải tiến như: chuẩn bị đổi mới chương
trình sách giáo khoa, đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy
học… Những thay đổi đó nhằm phát triển năng lực người học, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu hội nhập Quốc tế của đất nước.
Năm học 2018 – 2019, Sở GD và ĐT Thanh Hóa tiến hành lớp chuyên đề
“Đổi mới kiểm tra, đánh giá môn học theo định hướng phát triển năng lực người
học” đối với tất cả các môn. Riêng môn Ngữ văn, yêu cầu đề thi môn gồm có
hai phần: Đọc hiểu và làm văn. Chuyên đề được triển khai rộng khắp trong cả
tỉnh. Sở Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các Phòng Giáo dục triển khai đến toàn
thể giáo viên trên địa bàn các thành phố, thị xã, cũng như các huyện. Sở Giáo
dục cũng yêu cầu các trường lưu ý việc ra đề phải phù hợp với đối tượng học
sinh. Cụ thể là tập trung đánh giá hai kỹ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn
bản và kĩ năng tạo lập văn bản. Đề thi gồm hai phần: Đọc hiểu và tạo lập văn
bản, trong đó tỷ lệ điểm của phần tạo lập văn bản nhiều hơn phần Đọc hiểu. Đây
là hướng đổi mới kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh
chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh (tự mình khám
phá văn bản). Cũng từ đó dạng câu hỏi Đọc hiểu bắt đầu được đưa vào đề thi để
thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức. Có thể nói đây là sự đổi mới tích
cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới. Nếu dạng câu hỏi tái hiện
kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu,
nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chương trình hay không
thì dạng câu hỏi Đọc hiểu đã nâng cao hơn một mức vận dung thấp, vận dụng
sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng lực tự cảm nhận một văn bản bất kì (có

huyết với nghề, nhiều năm ôn thi vào lớp 10 THPT, đồng thời góp phần tháo gỡ
những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm : Một số kinh
nghiệm hướng dẫn học sinh kỹ năng làm phần Đọc hiểu trong đề thi vào lớp
10 THPT môn Ngữ văn (Dành cho học sinh lớp 9b trường THCS Quảng
Hùng)
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh ôn luyện
kiến thức lý thuyết, lưu ý cách làm bài, luyện tập các dạng đề Đọc hiểu, tôi
muốn nâng cao chất lượng làm dạng câu hỏi Đọc hiểu của học sinh THCS nói
chung, học sinh trường THCS Quảng Hùng nói riêng, nhất là các em học sinh
lớp 9 chuẩn bị bước vào kì thi vào lớp 10 THPT. Vì thế khi nghiên cứu và thực
hiện đề tài này tôi đã hướng tới các mục đích cụ thể sau:
- Nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câu hỏi Đọc hiểu
- Nhận diện, phân loại các loại câu hỏi Đọc hiểu theo phạm vi kiến thức.
- Hiểu được phương pháp, cách thức làm dạng câu hỏi này đạt kết quả
cao.

2


- Luyện tập một số đề Đọc hiểu để rèn kĩ năng làm bài
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
- Đề tài này cũng có thể coi là tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạy
các tiết ôn tập, ôn thi học kì, ôn thi vào lớp 10 THPT, ôn thi học sinh giỏi.
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh kỹ năng làm phần Đọc hiểu
trong đề thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ văn (Dành cho học sinh lớp 9b trường
THCS Quảng Hùng).
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sáng kiến đã sử dụng các phương pháp sau

chức và xây dựng; Ý đồ, mục đích.
+ Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; Giá trị đặc sắc
của các yếu tố nghệ thuật.
+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; Thể lọai của văn
bản, hình tượng nghệ thuật…
Theo Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm
khoa học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ
năng lực văn của người đọc”. “Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa
văn bản”. Còn với Giáo sư Trần Đình Sử “Đọc hiểu văn bản như một khâu đột
phá trong việc đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với
việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”. Phó
giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thị Hạnh, dựa trên cơ sở ngôn ngữ học, khẳng định : “
Đọc hiểu là một hoạt động giao tiếp ở đó người đọc lĩnh hội lời nói đã được viết
thành văn bản nhằm làm thay đổi những hiểu biết, tình cảm hoặc hành vi của
chính mình, đọc hiểu là hoạt động đọc cho mình”
Như vậy, Đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn
bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh. Đọc hiểu là tiếp úc với văn bản,
hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu
các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình

4


tượng nghệ thuật. Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất
phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc hiểu văn
bản ngày càng được quan tâm .
2.1.2. Văn bản Đọc hiểu
Trong chương trình Ngữ văn của Việt Nam nêu hai loại văn bản để dạy
Đọc hiểu, đó là: Văn bản văn học và văn bản nhật dụng. Trong đó các văn bản
được xếp theo tiến trình lịch sử hoặc theo thể loại. Các văn bản văn học đa dạng

5


Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ
động. Đây là một năng lực cần thiết mà người học nói chung và học sinh THCS
cần quan tâm. Nếu chúng ta không có trình độ năng lực đọc thì hiểu đúng, đánh
giá đúng văn bản. Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp
thu, bồi đắp được tri thức và cũng không có cơ sở để sáng tạo. Vì thế vấn đề Đọc
hiểu môn ngữ văn trong nhà trường là rất cần thiết. Hiện nay Đọc hiểu văn học
trong nhà trường THCS thường hướng tới các vấn đề cụ thể sau:
- Nhận biết đúng, chính xác về văn bản
+ Thể loại của văn bản: Các thể thơ, truyện, kí,...
+ Hiểu đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt được các nội dung của văn bản
+ Hiểu các phương thức biểu đạt của văn bản (phương thức tự sự, biểu
cảm, thuyết minh, miêu tả,...)
+ Hiểu các thao tác lập luận (thao tác phân tích, bình luận, chứng minh,
bác bỏ...)
- Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản
+ Cảm nhận được những đặc sắc, nổi bật của văn bản: từ ngữ, hình ảnh,
chi tiết quan trọng, đặc sắc, các biện pháp tu từ...
+ Hiểu được ý nghĩa hàm ẩn của văn bản, đánh giá được nội dung, ý
nghĩa của văn bản bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình.
- Vận dụng văn bản để giải quyết một vấn đề cụ thể.
+ Liên hệ mở rộng một vấn đề nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến
của mình
+ Vận dụng văn bản để trình bày phƣơng hƣớng, biện pháp giải quyết
một vấn đề cụ thể của cuộc sống, của xã hội.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.2.1.Thực trạng nghiên cứu đề Đọc hiểu môn Văn THCS
Ngay từ khi Sở GD&ĐT thông báo và hướng dẫn, các trường THCS thực

Thực trạng đề thi có dạng câu hỏi Đọc hiểu xuất hiện phong phú như vậy
nhưng trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn của trung học cơ sở lại
không có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho thầy cô giáo cũng như các
em học sinh nắm được phương pháp làm dạng đề này một cách hiệu quả nhất.
Chính vì vậy mà như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài nhiều em học sinh tỏ
ra rất lúng túng, băn khoăn về cung cấp kiến thức lý thuyết như thế nào, rèn
luyện kĩ năng ra sao để các em tự làm tốt được phần đọc hiểu trong bài thi.
Đứng trước thực trạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân đang trực tiếp ôn thi
vào lớp 10 THPT, qua những năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề
cũng như trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất cách hướng dẫn học sinh thi vào
lớp 10 THPT ôn tập dạng câu hỏi Đọc hiểu theo hướng sau:
2.3.1. Ôn luyện lý thuyết Đọc hiểu:
2.3.1.1. Những vấn đề liên quan đến đọc hiểu: Giáo viên nghiên cứu tài liệu
và hướng dẫn cho học sinh nắm bắt được những dạng kiến thức lý thuyết liên
quan đến câu hỏi Đọc hiểu trong đề thi. Bao gồm các dạng như:
- Các phương thức biểu đạt: Miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh, nghị
luận.
- Các biện pháp tu từ: Nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, nói
quá, …
- Các câu hỏi liên quan đến kiến thức Tiếng Việt lớp 9: Các phương châm
hội thoại; Sự phát triển của từ vựng; Khởi ngữ; Các thành phần biệt lập;....

7


- Các câu hỏi liên quan đến kiến thức tiếng Việt lớp 9: Các phương châm
hội thoại; Sự phát triển của từ vựng; Cách dẫn trực tiếp, gián tiếp; Nghĩa tường
minh và hàm ý; Các thành phần biệt lập; Khởi ngữ.
- Xác định nội dung, chi tiết, hình ảnh chính trong văn bản (nhan đề, chủ
đề, chi tiết, hình ảnh đặc sắc)

+ Dạng văn bản tồn tại: các văn bản chính luận, trình bày tư tưởng, chủ
trương quan điểm của con người đối với tự nhiên, xã hội, qua các luận điểm,
luận cứ và lập luận thuyết phục.

8


- Thể loại:
+ Văn nghị luận trung đại: hịch, cáo, chiếu, biểu…
+ Văn nghị luận hiện đại: xã luận, bình luận, lời kêu gọi; sách lí luận; bài
viết tranh luận về một vấn đề trính trị, xã hội, văn hóa.
* Phương thức thuyết minh: Giới thiệu, cung cấp, giảng giải những tri thức về
một sự vật, hiện tượng nào đó cho người đọc, người nghe - Giới thiệu đặc điểm
tình chất, cấu tạo, công dụng.
- Cách nhận biết:
+ Dạng văn bản: Các văn bản giới thiệu sản phẩm, giới thiệu di tích, thắng
cảnh, nhân vật; trình bày tri thức và phương pháp trong khoa học….
Sau khi hướng dẫn cụ thể cách nhận biết các phương thức biểu đạt, giáo viên
yêu cầu học sinh hệ thống bằng bản đồ tư duy để giúp học sinh khắc sâu kiến
thức.

b) Các biện pháp tu từ
Các biện pháp tu từ thường gặp khi các em làm bài tập phần đọc hiểu Ngữ
văn bao gồm: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, điệp ngữ, nói quá, nói giảm nói
tránh, liệt kê, tương phản, đối lập, Câu hỏi tư từ.
Để làm tốt nội dung này, giáo viên gợi dẫn, giúp học sinh hệ thống hóa
kiến thức về những nội dung có liên quan bằng bản đồ tư duy, từ đó giúp các em
ghi nhớ, khắc sâu kiến thức.

9

đúng phương thức biểu đạt chính, tránh hiện tượng liệt kê tất cả các phương thức
biểu đạt được học. Với câu hỏi liên quan đến nội dung, ý nghĩa, cảm nhận đòi
hỏi học sinh phải đọc thật kĩ ngữ liệu, xác định xem vấn đề mà ngữ liệu đề cập,
chú ý các từ ngữ quan trọng (từ khóa), khi xác định được từ khóa chắc chắn học
sinh sẽ làm bài tốt.
2.3.1.4. Bài tập rèn kĩ năng Đọc hiểu
Sau khi giáo viên ôn tập, hướng dẫn học sinh nắm chắc lý thuyết, tôi cung
cấp cho các em học sinh các đề Đọc hiểu thuộc văn bản nhật dụng và văn bản
văn học. Phần này người viết đưa 5 đề với các loại câu hỏi thường gặp trong đề

12


thi để học sinh luyện tập, rèn kĩ năng làm bài. Các câu hỏi thể hiện ở các mức:
nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Sau mỗi đề có đáp án để các em đối chiếu, giáo
viên sửa bài cho học sinh. Nếu học sinh còn lúng túng, chưa nắm vững nội dung
cũng như cách thức xác định vấn đề, qua từng đề, giáo viên củng cố, nhắc lại
một lần nữa để học sinh ghi nhớ và khắc sâu kiến thức. Từ đó, giúp học sinh làm
tốt phần đọc hiểu trong đề thi.
ĐỀ SỐ 1:
I. ĐỀ BÀI
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Chích đi kiếm mồi, tìm được những hạt kê ngon lành ấy, bèn gói lại thật cẩn
thận vào chiếc lá, rồi mừng rỡ chạy đi tìm người bạn thân thiết của mình. Vừa
gặp Sẻ, Chích đã reo lên:
- Chào bạn Sẻ thân mến! Mình vừa kiếm được mười hạt kê rất ngon! Đây
này, chúng mình chia đôi: cậu năm hạt, mình năm hạt.
- Chia làm gì cơ chứ? Không cần đâu! – Sẻ lắc lắc chiếc mỏ xinh xắn của
mình, tỏ ý không thích. – Ai kiếm được thì người ấy ăn!
- Nhưng mình với cậu là bạn của nhau cơ mà. Đã là bạn thì bất cứ cái gì

người thầy giáo đã có công dạy ta nên người.

14


ĐỀ SỐ 3:
1. PHẦN ĐỌC HIỂU (3 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
“Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều.
Chiều chiều trên bãi thả, đám trẻ mục đồng chúng tôi hò hét nhau thả diều thi.
Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi sung sướng đến phát dại nhìn
lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè…như gọi
thấp xuống những vì sao sớm.
Ban đêm trên bãi thả diều còn gì huyền ảo hơn. Có cảm giác diều đang
trôi trên dải Ngân Hà. Bầu trời tự do đẹp như một thảm nhung khổng lồ. Có cái
gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm hồn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu đấy là
khát vọng. Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo
xanh bay xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi
diều ơi! Bay đi!” Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi mang theo nỗi khát khao của
tôi”
(Cánh diều tuổi thơ, Ta Duy Anh, Tiếng Việt 4, tập 1, NXB GD VN, 2017)
Câu 1 ( 0,5 điểm): Xác định những phương thức biểu đạt chính được sử dụng
trong văn bản.
Câu 2 ( 0,5 điểm): Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh diều?
Câu 3(1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ có trong văn
bản.
Câu 4 (1,0 điểm): Theo em tác giả muốn nói điều gì qua hình ảnh cánh diều ?
II. ĐÁP ÁN
Câu 1: Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên: Tự sự
Câu 2: Những chi tiết tác giả đã lựa chọn để tả cánh diều:

phẩy tay cười: “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây giờ tôi
chẳng phải đang rất khỏe là gì...”.
Và nhờ cái “bình thường” của mẹ con bà Thảo, giờ đây có thêm hai gia
đình được hạnh phúc vì người thân của họ khỏe mạnh trở lại. Ở Bắc Ninh, gia
đình bà Thảo cũng đang rất vui vẻ. Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi,
giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài như chứng nhân về quyết định rất
đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của
mình.
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kỳ lạ, nhưng khi gặp họ và
trò chuyện, chúng tôi mới thấy mẹ con bà Thảo không kỳ lạ chút nào, họ chỉ
muốn tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ hạnh phúc tinh thần nào đó
mà tôi không thể nào định danh được!
(Trích “Hai mẹ con cùng hiến thận” Lan Anh, Báo Tuổi Trẻ ngày 31/5/2018)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 3. (1,0 điểm): Xác định và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong
câu văn sau: “Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai
mẹ con là hai vết sẹo dài như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc
sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình”.
Câu 4. (1,0 điểm): Theo em “ thứ hạnh phúc tinh thần mà người viết không thể
nào định danh được” đã nêu ra trong văn bản trên là gì?

16


II. ĐÁP ÁN
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: phương thức nghị luận.
Câu 2: Lời dẫn trực tiếp: "Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây
giờ tôi chẳng đang rất khỏe là gì..."
Câu 3:


17


Câu 2 (0,5 điểm): Xác định thành phần biệt lập trong câu thơ:
“Biết nói gì trước biển em ơi!”
Câu 3 (1,0 điểm): Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong sáu
câu thơ đầu đoạn trích?
Câu 4 (1,0 điểm): Em hiểu như thế nào về nội dung hai câu thơ:
“Bao kiếp vùi trong đáy lặn mù tăm
Nhưng muôn đời vẫn những cánh buồm căng”
II. ĐÁP ÁN
Câu 1:Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn thơ: Biểu cảm
Câu 2: Thành phần biệt lập trong câu thơ: “em ơi” - Thành phần goi đáp
Câu 3: Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê:
- Thể hiện rõ nét, cụ thể những cảm nhận về biển của nhân vật trữ tình;
khơi gợi trong nhân vật trữ tình những khát khao chinh phục;
- Tạo âm điệu hào hứng, hân hoan, sôi nổi cho đoạn thơ.
Câu 4: Nội dung hai câu thơ:
- Viết về những mất mát của con người trên hành trình chinh phục biển cả
nhưng vẫn không ngăn cản được con người tiếp tục ra khơi.
- Hai câu thơ gợi liên tưởng đến những khó khăn, mất mát trong hành
trình thực hiện khát vọng. Bằng tinh thần lạc quan và niềm tin vào cuộc sống,
con người vẫn không ngừng vươn tới để khám phá, chinh phục.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Thực hiện ý tưởng của mình, trên cơ sở bám sát chương trình phân môn,
trong các bài kiểm tra thường xuyên và định kì về nghị luận văn học của học
sinh, tôi đã kiểm tra câu hỏi Đọc hiểu. Đồng thời tôi đã trao đổi với đồng nghiệp
về cách hướng dẫn học sinh ôn tập về dạng đề này, được các thầy cô ủng hộ và
cũng nhân rộng ra các lớp, nhất là các lớp học cuối cấp nhằm trang bị cho các


Số HS
44

Điểm 2,5 - 3
8

Điểm 1,5 – 2,5
12

* Lần 3: Sau khi học sinh được luyện các dạng đề đọc hiểu
Lớp
9b

Số HS
44

Điểm 2,5 - 3
15

Điểm 1,5 – 2,5
14

Điểm 1
10

Điểm dưới 1
5
18


năng dạy học kiểu bài này. Vậy thiết nghĩ Bộ Giáo dục nhân kì thay sách lần tới
nên bổ sung tiết dạy về kiểu bài Đoc - hiểu có tính đặc thù vào chương trình
sách giáo khoa bậc THCS.
Sở Giáo dục nên tiếp tục tổ chức lớp tập huấn về phương pháp ôn luyện
phần Đoc- hiểu để thầy cô ôn luyện cho học sinh dự thi vào lớp 10 THPT một
cách bài bản, giúp học sinh tự tin trong kì thi, đem lại kết quả học tập cao hơn.

19


Trên đây là một vài suy nghĩ của cá nhân tôi, vì vậy không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của hội đồng
khoa học và đồng nghiệp để sáng kiến được đầy đủ , hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sang kiến
kinh nghiệm của mình viết, không
sao chép lại nội dung của người
khác.

Nguyễn Thị Thu

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9.
2. Sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status