I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đọc hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi THPT
Quốc gia môn Ngữ văn. Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm nhưng lại
là phần có vị trí rất quan trọng bởi nó quyết định số điểm cao hay thấp trong
toàn bài thi của học sinh. Nếu học sinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm
của cả bài mặc dù các phần còn lại có làm tốt đến mấy cũng chỉ đạt khoảng 6,0
điểm. Tuy nhiên, nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em sẽ có nhiều cơ hội
đạt điểm văn 7,0 hoặc 8,0. Như vậy, phần đọc hiểu góp phần không nhỏ vào kết
quả thi môn Văn của các em. Vì vậy việc định hướng để các em học sinh lớp 12
làm tốt phần đọc hiểu nói riêng và làm tốt cả bài thi của mình nói chung càng trở
nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Câu hỏi đọc hiểu là kiểu dạng câu hỏi khá mới mẻ được đưa vào đề thi
THPT Quốc gia ba năm nay nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng
trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông. Dạng câu hỏi này cũng
không có nhiều tài liệu, bài viết chuyên sâu để tham khảo. Mặt khác kiến thức
đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình môn Ngữ văn từ THCS đến THPT.
Trường THPT Trần Khát Chân đóng ở địa bàn khu I Thị trấn Vĩnh Lộc,
huyện Vĩnh Lộc, ngôi trường mang tên vị danh tướng nổi tiếng đời nhà Trần,
thành lập mới được hơn mười năm, đội ngũ giáo viên đa số tuổi đời còn trẻ,
chưa có nhiều kinh nghiệm, đối tượng học sinh của nhà trường đầu vào rất thấp,
đã mất gốc kiến thức, học sinh thi vào đây chủ yếu với mong muốn để lấy được
tấm bằng tốt nghiệp rồi đi làm công ty, đi học nghề. Do đó mà không ít giáo viên
ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn của nhà trường tỏ ra lúng túng khi hướng
dẫn học sinh làm bài. Điều đó ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi
của học sinh.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy và với tư cách của một người giáo viên có
nhiều năm ôn thi Tốt nghiệp, luôn trăn trở với nghề mình, đồng thời góp phần
tháo gỡ những khó khăn nói trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một vài kinh nghiệm
giúp học sinh làm tốt phần đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ
văn”
+ Mối quan hệ, ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng.
+ Ý đồ, mục đích của tác giả.
+ Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm.
+ Giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật.
+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản.
+ Thể lọai của văn bản, hình tượng nghệ thuật…
Như vậy, đọc hiểu là quá trình người học thâm nhập vào văn bản để giải mã
các tầng ý nghĩa của văn bản với thái độ tích cực, chủ động. Đây là một năng lực
cần thiết mà người học nói chung và học sinh THPT nói riêng cần quan tâm.
Nếu chúng ta không có trình độ, năng lực đọc thì ta không thể hiểu đúng, đánh
giá đúng văn bản. Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp
nhận, bồi đắp được tri thức nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ và cũng không có
cơ sở để sáng tạo.
Trong chương trình Ngữ văn của nước ta, hai loại văn bản được đưa vào để
dạy đọc hiểu là: Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật) và văn bản nhật dụng.
2
Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và
khám phá thế giới tình cảm, tư tưởng, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người,
được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng và thuộc về một
thể loại nhất định. Văn bản nhật dụng là loại văn bản có nội dung gần gũi, bức
thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện
đại. Hai loại văn bản này cũng chính là các ngữ liệu để học sinh khai thác.
Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản của học sinh, bắt đầu từ
năm học 2013-2014, Bộ GD và ĐT chính thức đưa câu hỏi đọc hiểu vào đề thi
tốt nghiệp môn Văn. Khi có quyết định này rất nhiều học sinh, các thầy cô giáo
tỏ ra lúng túng vì cho rằng đây là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Tuy nhiên bản chất
của vấn đề không hoàn toàn mới. Bởi vì hoạt động đọc hiểu vẫn diễn ra thường
toàn quốc thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong kì thi tốt
nghiệp THPT năm học 2013-2014. Vấn đề đọc hiểu thu hút sự chú ý của rất
nhiều các thầy cô và học sinh, nhất là học sinh lớp 12. Cùng với việc chuyên
viên của Bộ GD và ĐT giải đáp những thắc mắc về hướng ra đề phần đọc thì
một số thầy cô giáo luyện thi có nhiều kinh nghiệm cũng đăng tải trên trang cá
nhân của mình những bài ôn tập đọc hiểu. Song những hướng dẫn ôn tập đó còn
chưa chi tiết, chưa cụ thể và chưa có tính hệ thống.
Sang năm 2015 – 2016, vấn đề ôn luyện phần đọc hiểu vẫn là đề tài thu hút
sự chú ý của các thầy cô ôn thi và các em học sinh THPT. Một số cuốn sách
phục vụ cho ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn đã ra mắt bạn đọc.
Cuốn Hướng dẫn ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn của tác giả Lê
Quang Hưng, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 và cuốn Bộ đề
luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn cũng của tác giả Lê Quang Hưng, nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016 có đề cập tới dạng câu hỏi đọc
hiểu. Song ở trong hai cuốn sách đó có đề đọc hiểu nhưng sách không cung cấp
kiến thức lý thuyết, hướng dẫn học sinh ôn luyện phần đọc hiểu một cách chi tiết
cụ thể, bài bản mà chỉ hướng dẫn chung chung.
Năm học 2016-2017, cuốn Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ
văn của các tác giả Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Phạm Thị Thu Hiền, Phạm Thị
Huệ, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có đề cập tới các dạng câu hỏi đọc hiểu
nhưng cũng không có phần ôn tập kiến thức lí thuyết mà chỉ đưa ra gợi ý câu trả
lời câu hỏi cho phần này.
Vậy là dạng câu hỏi đọc hiểu đã xuất hiện liên tiếp trong các kì thi THPT
quốc gia. Các bài nghiên cứu, các cuốn sách hướng dẫn ôn luyện đều đề cập tới
tất cả các phần trong đề thi môn văn THPT Quốc gia, tuy nhiên chưa có sách
nghiên cứu riêng phần đọc hiểu một cách bài bản những kiến thức lí thuyết, bài
tập thường gặp trong đề đọc hiểu và cũng chưa phân loại hệ thống kiến thức để
học sinh dễ ôn tập.
3. Các giải pháp của sáng kiến kinh nghiệm.
Phần đọc hiểu trong môn Ngữ văn là một phần quan trọng, quyết định tới
- Kiểm tra đọc hiểu nội dung chính, các thông tin quan trọng của văn bản, hiểu ý
nghĩa của văn bản, xác định chủ đề, bố cục, đặt tên cho văn bản,...
- Vận dụng: đề thi có thể bao gồm một số dạng như: từ chủ đề của văn bản, thí
sinh trình bày ý kiến bản thân liên quan đến chủ đề đó; trích một phần văn bản
và yêu cầu hoàn thiện nó; hoặc yêu cầu đưa thêm những ý kiến riêng của bản
thân ngoài quan điểm, chính kiến của tác giả văn bản,…
Đây là một bước không mấy dễ dàng đối với những thầy cô ôn thi THPT
Quốc gia nói chung, đặc biệt là các giáo viên mới ra trường hoặc năm đầu ôn thi
THPT Quốc gia. Vì phần kiến thức lý thuyết liên quan đến dạng câu hỏi đọc
hiểu khá rộng, kiến thức không quy tụ thành một bài, hay ở một khối lớp nào mà
nằm rải rác từ lớp 6 cho đến lớp 12. Vì vậy giáo viên phải mất rất nhiều thời
gian để thu thập, thanh lọc, xử lý kiến thức để hướng dẫn học sinh dễ ghi nhớ.
Để tháo gỡ khó khăn trên, tôi đã nghiên cứu và phân loại kiên thức lý thuyết
có liên quan đến dạng câu hỏi đọc hiểu và hướng dẫn ôn tập cho học sinh. Đặc
biệt tôi hệ thống hóa các kiến thức lý thuyết thành những bảng hệ thống để giúp
các em dễ dàng nhận diện và khắc sâu kiến thức.
5
* Các phương thức biểu đạt.
Phương thức
biểu đạt
Tự sự
Miêu tả
Biểu cảm
Thuyết minh
có hại của sự vật hiện tượng, để
cảnh, nhân vật
người đọc có tri thức và có thái độ - Trình bày tri thức và
đúng đắn với chúng.
phương pháp trong khoa
học.
- Trình bày ý kiến đánhgiá, bàn
- Cáo, hịch, chiếu, biểu.
luận, trình bày tư tưởng, chủ
- Xã luận, bình luận, lời
trương quan điểm của con người
kêu gọi.
đối với tự nhiên, xã hội, qua các
- Sách lí luận.
luận điểm, luận cứ và lập luận
- Tranh luận về một vấn
thuyết phục.
đề trính trị, xã hội, văn
hóa.
- Trình bày theo mẫu chung và
- Đơn từ
chịu trách nhiệm về pháp lí các ý - Báo cáo
kiến, nguyện vọng của cá nhân,
- Đề nghị
tập thể đối với cơ quan quản lí.
* Các loại phong cách ngôn ngữ.
6
Phong cách ngôn ngữ
- Dùng trong lĩnh vực chính trị - xã hội,
chính luận
người giao tiếp thường bày tỏ chính kiến,
bộc lộ công khai quan điểm tư tưởng, tình
cảm của mình với những vấn đề thời sự
nóng hổi của xã hội.
Phong cách ngôn ngữ
- Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương,
nghệ thuật
không chỉ có chức năng thông tin mà còn
thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người, từ
ngữ trau chuốt, tinh luyện…
Phong cách ngôn ngữ
- Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực
khoa học
nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học,
đặc trưng cho các mục đích diễn đạt chuyên
môn sâu.
Phong cách ngôn ngữ
- Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực
hành chính
giao tiếp điều hành và quản lí xã hội (giao
tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, Nhân dân
với Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan…)
* Các thao tác lập luận.
TT
1
So sánh
lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối
tượng.
- Đưa ra những cứ liệu - dẫn chứng xác đáng để
làm sáng tỏ một lí lẽ, một ý kiến để thuyết phục
người đọc, người nghe tin tưởng vào vấn đề.
- Chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề, trên cơ sở đó
đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến, lập
trường đúng đắn của mình.
- Bàn bạc, đánh giá vấn đề, sự việc, hiện
tượng… đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi /
hại,… để nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù
hợp và có phương châm hành động đúng.
- Nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng
hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những
nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được
giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình
quan tâm.
* Các biện pháp tu từ.
Biện pháp tu từ
So sánh
Ẩn dụ
Nhân hóa
Hoán dụ
Điệp từ/ngữ/cấu trúc
Nói giảm/nói tránh
Thậm xưng /phóng đại
Phép lặp từ ngữ
Phép liên tưởng
Phép thế
Phép nối
Đặc điểm nhận diện
- Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu
trước.
- Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/
trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã
có ở câu trước.
- Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay
thế các từ ngữ đã có ở câu trước
- Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối
kết)với câu trước
* Câu phân loại theo mục đích nói và cấu trúc ngữ pháp.
TT
1
2
Phân loại câu
Câu phân loại theo theo mục đích nói:
- Câu tường thuật (câu kể)
- Câu cảm thán (câu cảm)
- Câu nghi vấn ( câu hỏi)
- Câu mệnh lệnh (cầu khiến)
Câu phân loại theo cấu trúc ngữ pháp:
– Các thể thất ngôn bát cú Đường luật: tám
câu, mỗi câu bảy chữ
- Rất đa dạng và phong phú: năm tiếng, bảy
tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ – văn
xuôi…câu thơ dài ngắn khác nhau.
9
* Xác định nội dung, chi tiết chính có liên quan đến văn bản
** Đặt nhan đề, xác định câu chủ đề.
Văn bản là một chỉnh thể thống nhất về nội dung, hài hòa về hình thức. Khi
hiểu rõ được văn bản, học sinh dễ dàng tìm được nhan đề cũng như nội dung
chính của văn bản.
Đặt nhan đề cho văn bản cũng giống như nhà văn khai sinh ra đứa con tinh
thần của mình. Đặt nhan đề sao cho đúng, cho hay không phải là dễ. Vì nhan đề
phải khái quát được toàn bộ nội dung tư tưởng của văn bản, phải khái quát được
cái thần, cái hồn của văn bản. Học sinh chỉ có thể đặt tên được nhan đề cho văn
bản khi hiểu được nghĩa của nó. Vì thế giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh
đọc kĩ văn bản để hiểu hết ý nghĩa của văn bản sau đó mới xác định nhan
đề. Nhan đề của văn bản thường nằm ở những từ ngữ, những câu lặp đi, lặp lại
nhiều lần trong văn bản.
Muốn xác định được câu chủ đề của đoạn, chúng ta cần xác định xem đoạn
văn đó trình bày theo cách nào. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch
thì câu chủ đề thường ở đầu đoạn. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp
thì câu chủ đề nằm ở cuối đoạn. Còn đoạn văn trình bày theo cách móc xích hay
song hành thì câu chủ đề là câu có tính chất khái quát nhất, khái quát toàn đoạn.
Câu đó có thể nằm bất cứ vị trí nào trong đoạn văn.
** Xác định nội dung chính của văn bản.
Muốn xác định được nội dung chính của văn bản, giáo viên cần hướng dẫn
Học sinh cần phải trình bày bài khoa học, không nên tẩy xóa, viết chèn dòng
trong bài. Nếu có sai thì gạch chéo và làm lại. Cần dùng các kí hiệu thống nhất
với đề bài đã cho.
b. Về cách trả lời.
Văn bản đọc hiểu thường không dài nên yêu cầu học sinh đọc văn bản để
chọn câu trả lời cho phù hợp. Câu trả lời cần trực tiếp, ngắn gọn, chính xác, đầy
đủ. Hỏi gì trả lời đó, không trả lời thừa.
Thực tế chấm thi cho thấy, nhiều học sinh làm phần đọc hiểu lan man, nhất là
những dạng câu hỏi: nêu nội dung chính, lý giải vì sao tác giả lại cho là vậy,
hoặc đưa ra ý kiến của bản thân,… có em viết gần một trang giấy. Các em làm
không đúng yêu cầu, vừa mất thời gian mà điểm số cũng không cao hơn được.
c. Thời gian.
- Nên giành thời gian cho phần đọc hiểu khoảng từ 20 đến 30 phút.
3.4. Luyện tập rèn kĩ năng đọc hiểu.
Sau khi giáo viên hướng dẫn các em có một hệ thống kiến thức lí thuyết liên
quan đến câu hỏi đọc hiểu và lưu ý các em về cách thức làm bài. Giáo viên cần
rèn kĩ năng làm các dạng đề đọc hiểu cho học sinh thông qua các bài tập.
Hệ thống bài tập giáo viên cung cấp cần đa dạng, bao quát được các dạng
kiến thức lý thuyết đã ôn tập. Các câu hỏi, bài tập đọc hiểu nên theo các mức độ
nhận thức của học sinh.
- Nhận biết: Câu hỏi thường ra về xác định đề tài, thể loại, phương thức biểu đạt,
phong cách ngôn ngữ, chỉ ra các biện pháp tu từ, các chi tiết chính,….trong văn
bản; Nhận biết các thông tin được thể hiện, phản ánh trực tiếp trong văn bản;
Diễn đạt hoặc mô tả lại nội dung của văn bản bằng ngôn ngữ của mình.
- Thông hiểu: Nêu chủ đề hoặc nội dung chính của văn bản; Sắp xếp, phân loại
được thông tin trong văn bản. Cắt nghĩa, lý giải nội dung, hiệu quả các biện
11
bức ảnh thứ hai có thể hiểu là sức mạnh của lòng vị tha, tình
yêu thương, của sự vượt thắng bản năng để nhường cơ hội
sống xót cho người khác.
Thông điệp sâu sắc nhất của văn bản trên là:
1.0
- Tiến bộ khoa học giúp con người chinh phục thiên nhiên
nhưng không thể chế ngự được nó.
- Thiên nhiên có thể phá hủy những công trình vĩ đại do con
người làm ra nhưng không thể hủy diệt được sức mạnh tinh
thần, sức mạnh tình yêu nơi con người.
ĐỀ SỐ 2 – ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
…Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm
Bầm ơi có rét không bầm
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu
Bầm ơi sớm sớm chiều chiều
Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe…
(Trích Bầm ơi - Tố Hữu)
13
ĐỀ SỐ 3 – ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi:
(1) Vấn đề nhìn nhận đánh giá đúng vị trí, vai trò của lịch sử là vô cùng
quan trọng bởi vì lịch sử chính là điểm tựa của chúng ta, là nơi hội tụ, kết tinh
những giá trị tinh thần vô giá của dân tộc. Lịch sử giúp cho chúng ta có quyền
tự hào và tin tưởng vào truyền thống anh hùng, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của
tổ tiên và hy vọng vào tiền đồ, tương lai tươi sáng của dân tộc. Chính vì vậy, tất
cả chúng ta cần phải hăng hái, tự giác học lịch sử nước nhà để có thể đón nhận
được những thông tin, tiếp thu được những kinh nghiệm quí báu từ xa xưa vận
dụng vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc.
(2) Lịch sử không chỉ truyền dạy cho chúng ta nguồn gốc con Rồng, cháu
Tiên mà lịch sử còn tiếp thêm sức mạnh cho chúng ta, truyền lại cho chúng ta
quá khứ vẻ vang của dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, thời nào đất
nước ta cũng xuất hiện những nhân tài có công trị nước yên dân, xây dựng cuộc
sống thanh bình, hạnh phúc. Đặc biệt là những khi Tổ quốc bị xâm lăng, từ
những người nông dân áo vải bình dị đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt có
14
lòng yêu nước nồng nàn, có tài cầm quân thao lược đánh Bắc, dẹp Nam giữ
yên bờ cõi, trở thành tấm gương sáng, để lại tiếng thơm cho muôn đời.
(TS. Phạm Ngọc Trung, Học viện Báo chí và Tuyên truyền)
Câu 1. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề đoạn trích?
Câu 2. Vì sao tác giả của bài viết lại cho rằng: tất cả chúng ta cần phải hăng hái,
tự giác học lịch sử nước nhà ?
Câu 3. Đoạn văn trên tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?
Câu 4. Anh chị rút ra được bài học gì qua đoạn trích trên?
Gợi ý trả lời các câu hỏi:
1.0
ĐỀ SỐ 4 – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc bài thơ và thực hiện các yêu cầu sau
Nếu có thể đo xương máu tiền nhân
Trường Sơn ngút ngàn dễ gì so được
Bao người mẹ, người vợ, người em – nước mắt
Hồng Hà, Cửu Long đâu thể sánh cùng
Bão trường chinh ào ạt mấy ngàn năm…
Ào ạt mấy ngàn năm châu thổ
Những bờ đê chắn lũ, ngăn thù
Cùng bọc trứng trăm con đi muôn ngả
Vẫn thắm lòng dưa hấu chốn biển xa
15
Ào ạt mấy ngàn năm…
Thánh Gióng
Mới lên ba đã giáp sắt, tre ngà
Câu thơ thần nhuộm đỏ sông Như Nguyệt
Đỏ Bạch Đằng cuồn cuộn sóng bể xa
Mấy ngàn năm… Vọng Phu xứ Bắc
Phụ Tử bùi ngùi doi đất trời Nam
Những cuộc chia ly, những vành khăn trắng
Chẳng nguôi ngoai dù xác giặc chất chồng
Chẳng thể dịu nỗi Rạch Gầm, Xoài Mút
Hiền Lương, Khâm Thiên, Sơn Mỹ, Thổ Chu
Máu Vị Xuyên, Gạc Ma bầm chát
Vạn nghĩa trang hương khói nguyện cầu
Ôi Tổ quốc, biên cương chưa yên giấc
Điểm
0.5
0.75
0.75
1.0
16
ĐỀ SỐ 5 – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
2.10.1971...Nhiều lúc mình không ngờ rằng mình đã đến đây. Không ngờ
rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến
với mình tự nhiên quá, bình thản quá, và cũng đột ngột quá.
Thế là thế nào? Cách đây ít lâu mình còn là sinh viên. Bây giờ thì xa rồi
những ngày cắp sách lên giảng đường, nghe thầy Đường, thầy Đạo...không biết
bao giờ mình sẽ trở laị những ngày như thế. Hay chẳng còn bao giờ nữa! Có thể
lắm. Mình đã lớn rồi. Học bao lâu, mà đã làm được gì đâu, đã sống được gì đâu?
Chỉ còm cõi vì trang sách, gầy xác đi vì mộng mị hão huyền.
28 ngày trong quân ngũ, mình hiểu được nhiều điều có ích. Sống được
nhiều ngày có ý nghĩa. Dọc đường hành quân, có dịp xem lại lòng mình, soát lại
lòng mình. Mình bắt đầu sống có trách nhiệm từ đâu, từ lúc nào ? Có lẽ từ 9.3.71
tháng 3 của hoa nhãn ban trưa, của hoa sấu, hoa bằng lăng nước.
...Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ có bạn:
Kia là ngôi sao Hôm yêu dấu...Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ, ta đọc trong
ngôi sao ấy, ánh lửa cầu vồng của trận công đồn, màu áo đỏ của lửa, của máu...
Ta như thấy trong màu kì diệu ấy có cả hồng cầu của trái tim ta.
17
4
+ Việc học chỉ có ý nghĩa khi nó áp dụng vào cuộc sống.
+ Sự sống không phải chỉ biết cho cá nhân mình.
+ Khi Tổ quốc lên tiếng gọi tuổi trẻ sẵn sàng xếp bút nghiên lên
đường vì Tổ quốc.
Thông điệp của đoạn trích: Tuổi trẻ phải biết sống, biết cống
hiến, biết hi sinh cho Tổ quốc...
1.0
ĐỀ SỐ 6 – ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
“ [...] Đất nước vốn là khái niệm trừu tượng, mà thoạt đầu con người khó có thể
cắt nghĩa cho thật gãy gọn, rõ ràng. Nhưng những người thân như ông bà, cha
mẹ, anh em... thì lại vô cùng cụ thể và được mỗi người cảm nhận trong những
mối quan hệ cũng vô cùng cụ thể. Đó là mối quan hệ gắn bó máu thịt hình thành
ngay từ khi ta cất tiếng khóc chào đời và sẽ đi theo ta suốt cuộc đời với biết bao
biến cố, thăng trầm, buồn vui, hi vọng... Từ cái nôi gia đình, mỗi người đều có
một tuổi thơ gắn liền với kỉ niệm về cây đa, bến nước, sân đình, lũy tre, mái
trường, thầy cô, bè bạn. Theo thời gian, những kỉ niệm ấy dần dần trở thành sợi
dây tình cảm neo giữ tình yêu của mỗi con người với gia đình, quê hương... Và
có thể nói, chính tình yêu đối với gia đình, quê hương sẽ khơi nguồn cho tình
yêu đất nước.”
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên ?
Câu 2. Nêu nội dung chính của văn bản trên ?
Câu 3. Hãy tìm câu chủ đề của đoạn văn. Từ đó, cho biết đoạn văn được triển
+ Mỗi người: chủ ngữ
+ Đều có........ bè bạn: vị ngữ
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong quá trình kiểm định đề tài, với cách dạy bằng phương pháp đã nêu
trong đề tài vào lớp phụ trách, tôi thấy học sinh nắm kiến thức một cách chắc
chắn và dễ dàng hơn, khi làm bài kiểm tra đạt kết quả cao.
Năm học 2016 - 2017, tôi đã thử nghiệm đề tài này ở 2 lớp 12 có mức học
lực hoàn toàn như nhau, với hai phương pháp dạy khác nhau. Cụ thể:
- Lớp 12 B4 tôi dạy theo phương pháp của đề tài này.
- Lớp 12 B3 tôi dạy theo phương pháp khác.
Kết quả khi kiểm tra khảo sát phần đọc hiểu ở hai lớp này, s ố liệu thống kê
như sau:
Lớp
Sĩ số
12B3
12B4
33
34
2.5-3.0 điểm
1.5-2.0 điểm
1.0-1.5điểm
0-0.5 điểm
0
0
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận.
Đọc hiểu là một phần thi bắt buộc được đưa vào kì thi THPT Quốc gia môn
Ngữ văn từ năm học 2013- 2014 nên đang là vấn đề được nhiều thầy cô và học
sinh quan tâm, nhất là học sinh lớp 12. Là giáo viên đang trực tiếp ôn thi lớp 12
với mong muốn để học sinh yêu thích môn văn học và đạt kết quả cao trong kì
thi sắp tới nên tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu. Với các bước thực hiện như
hướng dẫn ở trên, tôi nhận thấy sau khi giáo viên ôn luyện lý thuyết cũng như
luyện đề cho học sinh các em không còn lúng túng khi làm phần đọc hiểu.
Trong khi nhiều thầy cô, nhiều học sinh vẫn đang lúng túng khi ôn luyện
phần đọc hiểu thì sáng kiến kinh nghiệm này có thể coi như cuốn tài liệu hữu ích
tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, giúp các em học sinh lớp 12 tự tin khi làm
bài thi.
2. Kiến nghị.
Đọc hiểu văn bản một phần thi bắt buộc trong đề thi THPT Quốc gia nhưng
thực tế trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT chưa xuất hiện
một bài học riêng để giáo viên và học sinh được trang bị phương pháp, kĩ năng
19
dạy học kiểu bài này. Thiết nghĩ Bộ giáo dục nhân kì thay sách lần tới nên bổ
sung tiết dạy về kiểu bài đọc hiểu có tính đặc thù vào chương trình sách giáo
khoa bậc THPT.
Sở giáo dục đào tạo nên tổ chức các lớp tập huấn về phương pháp ôn luyện
phần đọc hiểu để các thầy cô giáo được trao đổi, thảo luận về chuyên môn, để ôn
luyện cho học sinh dự thi THPT Quốc gia một cách tốt hơn, giúp học sinh tự tin