Một số giải pháp nâng cao kỹ năng làm bài phần đọc hiểu trong đề thi THPT quốc gia - Pdf 47

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do viết sáng kiến
Từ năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã có những đổi mới căn
bản về kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi THPT quốc
gia - thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh. Cấu trúc, yêu cầu, nguyên tắc,
kỹ năng, kiến thức của đề thi cũng có những điều chỉnh. Về cấu trúc đề có hai phần:
Phần đọc hiểu và phần làm văn.
Phần “Đọc hiểu” văn bản là một trong hai phần bắt buộc. Phần này
chiếm 30% tổng số điểm toàn bài, vì thế nó có vị trí rất quan trọng bởi nó quyết định
điểm cao hay thấp trong một bài thi. Nếu học sinh làm sai hết phần này thì chắc chắn
điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũng chỉ đạt khoảng 6,0 điểm. Ngược lại nếu học
sinh làm tốt phần đọc hiểu với các em có học lực từ khá trở lên sẽ có nhiều cơ hội đạt
điểm văn 7,0 hoặc 8,0 và đối với những học sinh trung bình, yếu cũng có thể đạt từ
3,5 đến 6,5 điểm cũng không phải là khó. Như vậy phần Đọc hiểu góp phần không
nhỏ vào kết quả thi môn Văn cũng như tạo cơ hội cao hơn cho các em xét tốt nghiệp
và xét tuyển Đại học.
Tuy nhiên đa số học sinh khi làm phần đọc hiểu, điểm số thường không cao. Có
thể thấy một số khó khăn như sau:
Thứ nhất, câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi
THPT Quốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chương
trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông. Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài
viết chuyên sâu để tham khảo. Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trong sách
giáo khoa mà chỉ được định hình trong các bài kiểm tra thường xuyên (15 phút),
kiểm tra định kì.
Thứ hai, lượng kiến thức vận dụng để giải quyết câu hỏi đọc hiểu nằm rải rác
trong chương trình học môn Văn từ THCS đến THPT. Lượng kiến thức lớn cùng với
thời gian học xong đã lâu, nên nhiều học sinh thường quên hoặc nhớ không chính
xác.
Thứ ba, nhiều HS phổ thông còn thụ động trong việc học tập, khả năng sáng
tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc
sống còn hạn chế.

3.3. Thời gian:
- Từ tháng 9 năm 2016 đến 15 tháng 4 năm 2017

2

2


B. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở viết sáng kiến
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Quan niệm về Đọc hiểu .
Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa. Khái niệm
Đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú có nhiều cấp độ
gắn liền với lí luận dạy học Văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết
giao tiếp thi pháp học, tường giải học văn bản học …
Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ
viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ
máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe. Hiểu là phát hiện và
nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối
quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống.
Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?
Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát,
biện luận đúng- sai về lôgic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt. Mục
đích trong tác phẩm văn chương, Đọc hiểu là phải thấy được: Nội dung của văn bản;
mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng; thấy được tư tưởng
của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; nghĩa
của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản, hình tượng nghệ
thuật…
Lâu nay trong dạy học Văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng văn,

sống thì có bấy nhiêu loại được dạy trong nhà trường. Điều đó cũng có nghĩa là văn
bản Đọc hiểu trong các đề thi rất rộng. Đề thi có thể là văn bản các em đã được tiếp
cận, đã được học, hoặc cũng có thể là văn bản hoàn toàn xa lạ. Từ năm 2014 Bộ GD
& ĐT đưa phần Đọc hiểu vào đề thi môn Ngữ văn đã đổi mới kiểm tra, đánh giá
năng lực Đọc hiểu của học sinh. Việc làm này có tác động tích cực đến quá trình rèn
khả năng tiếp nhận văn bản Đọc hiểu của các em.
1.1.2. Phần Đọc hiểu trong đề thi THPT quốc gia năm 2017
Từ đề thi thử của Bộ GD&ĐT có thể thấy:
*Về cấu trúc đề thi phần đọc: Phần đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia
năm 2017 yêu cầu thí sinh đọc hiểu một văn bản. Trong đó có thể là văn bản nghệ
thuật (thơ, truyện, kí, kịch, nhưng nhiều nhất là thơ); có thể là văn bản thuộc bất cứ
phong cách ngôn ngữ nào (nhưng thường là văn bản chính luận hoặc nghị luận nói
chung, văn bản khoa học hoặc báo chí) Đề thường yêu cầu thí sinh trả lời 4 câu hỏi
nhỏ (3 điểm). Mỗi câu hỏi có mức điểm thấp nhất là 0,25 và cao nhất là 1,0. Về yêu
cầu kiến thức và kĩ năng, câu 1 hướng đến mức độ nhận biết; câu 2, câu 3 hướng
đến mức độ thông hiểu; câu 4 hướng đến mức độ vận dụng thấp.
4

4


*Những dạng câu hỏi thường xuất hiện trong phần đọc hiểu và mức điểm
cho từng câu hỏi: Đề minh họa của Bộ GD&ĐT cho thấy nội dung kiểm tra chỉ còn
một văn bản và bốn câu hỏi thành phần được phân bố theo ba cấp độ: nhận biết
(nhận diện thể loại, phương thức biểu đạt/phong cách ngôn ngữ của văn bản; chỉ ra
chi tiết, hình ảnh, biện pháp tu từ,... nổi bật trong văn bản), thông hiểu (xác định
được nội dung chính của văn bản; hiểu được quan điểm, tình cảm, thái độ của tác
giả; hiểu được hiệu quả biểu đạt, tác dụng của việc sử dụng từ ngữ, chi tiết, hình ảnh,
biện pháp tu từ,... trong văn bản, một số nét đặc sắc về nghệ thuật và nội dung của
văn bản) và vận dụng thấp (rút ra thông điệp, bài học nhận thức từ văn bản; đánh giá

phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”.
Tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng
của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập
trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập
nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
dạy và học”; “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá
kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan. Việc thi, kiểm tra và đánh
giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và
cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá
trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với
tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của
xã hội”.
1.2.2. Cơ sở pháp lý:
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết
định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới
phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"; "Đổi mới kỳ
thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm
bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá
trong quá trình giáo dục với kết quả thi".
Công văn số 1231/BGDĐT-VP ngày 25/3/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về việc tổ chức ôn thi trung học phổ thông quốc gia năm 2016 đã chỉ rõ: “Các trường
THPT, trung tâm GDTX yêu cầu tổ chuyên môn, giáo viên dạy các môn thi THPT
quốc gia cần đánh giá rút kinh nghiệm công tác tổ chức ôn tập, thi tốt nghiệp năm
2015 có thêm căn cứ xây dựng kế hoạch, nội dung ôn tập thi năm 2016”, “cần tiếp
tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, bày tỏ chính kiến của mình


HS

đánh giá,
XL

TỐT

KHÁ

TB

YẾU

GIỎI

KH
Á

TB

YẾU

KÉM

10

10

397


48

33

6

4

151

169

9

1

12

9

283

283

213

52

18

8

389

585

30

2

KHỐI

Số HS dự

HẠNH KIỂM

HỌC LỰC

Để đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục trong năm học 2016-2017, BGH đã
nắm vững chủ trương đổi mới, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho GV thực hiện
đổi mới PPDH, KTĐG, động viên GV tích cực đổi mới; đã chú trọng tăng cường cơ
sở vật chất phục vụ đổi mới PPDH, KTĐG: đầu tư xây dựng các phòng học bộ môn;
mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ dạy học, KTĐG; xây dựng nguồn học liệu;
7

7


trang bị máy tính và mạng internet phục vụ GV và HS; đẩy mạnh sinh hoạt tổ chuyên
môn, sinh hoạt cụm chuyên môn, thực hiện có hiệu quả hoạt động dạy học; Cử CB,

sách giáo khoa, nếu không cung cấp cho HS thì các em không thể tìm hiểu được.
Chính vì thế lượng kiến thức ôn tập trong mỗi tiết thường rất hạn chế, GV không có
8
8


thời gian để liên hệ, củng cố, hệ thống hóa kiến thức. Những khó khăn này đặt ra đòi
hỏi phải giải quyết nếu muốn nâng cao kỹ năng cho HS khi làm phần đọc hiểu.
Về tài liệu chưa được biên tập thành hệ thống, chuẩn xác. GV chủ yếu dựa vào
các nguồn tài liệu từ năm học trước, hoặc xin của đồng nghiệp, sưu tầm trên mạng
internet để hướng dẫn, ôn tập cho HS. Các nguồn tài liệu này nếu sử dụng ngay đa
phần không đáp ứng được yêu cầu. Có thể chưa được sắp xếp trình tự, thống nhất, tài
liệu cũ chưa được chỉnh lý, biên tập lại theo yêu cầu của năm học 2016-2017. Một số
tài liệu thiếu chính xác về kiến thức, nội dung thì thừa, nội dung thì thiếu…Đây cũng
là khó khăn không nhỏ trong việc củng cố kiến thức, nâng cao kĩ năng làm bài cho
HS.
Đối với học sinh: Có thể thấy một số HS đã tích cực, chủ động trong học tập;
ngoài hoạt động học trên lớp, các em đã tìm kiếm tài liệu tham khảo để tự học, tự rèn
luyện; một số HS có kĩ năng trong việc sử dụng CNTT vào khai thác các nguồn tài
liệu trên mạng để học…Nhưng phần lớn các em vẫn còn thiếu tính chủ động, tích
cực trong chuẩn bị, học bài chưa cao; kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong
học tập còn thấp; kĩ năng thực hành còn hạn chế; khả năng tự học chưa cao...
Trong quá trình giảng dạy, hướng dẫn ôn tập tôi nhận thấy khi ôn lại kiến thức
THCS đa số các đã quên kiến thức, hoặc nhớ rất ít, kiến thức không theo chủ đề, hệ
thống. Tôi đã tiến hành khảo sát, kết quả như sau:
Bảng kết quả khảo sát về nắm kiến thức của HS
Nắm chắc lý
thuyết.

Tổng số HS tham

thấy đa phần học sinh chưa nắm chắc kiến thức lý thuyết.
Một trong những vấn đề của HS là lài liệu tham khảo, tài liệu dùng để học tập.
(Bao gồm tài liệu ôn tập lý thuyết và tài liệu thực hành). Đa phần các em không có
hoặc có rất ít nguồn tài liệu để phục vụ cho học tấp, ôn thi. Các nguồn tài liệu tham
9
9


khảo chủ yếu là tài liệu thực hành ( các đề thi minh họa). Các tài liệu này tính chính
xác, khoa học cũng không cao. Một phần là tài liệu của các anh chị từ năm trước để
lại, một phần là các em tự sưu tầm trên mạng.
Bảng kết quả khảo sát về kỹ năng làm bài
Tổng số
HS tham
gia khảo
sát
115

Làm bài tốt

Biết làm bài

Lúng túng khi làm
bài

SL

%

SL

dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quả.
2.3. Một số nguyên nhân của hạn chế:
Nhìn một cách tổng thể chương trình SGK Ngữ văn 12 (CTC) THPT có khối
lượng kiến thức ngôn ngữ rất “nặng”, đặc biệt là ở học kỳ II với phần văn xuôi.
Trong khí đó kiến thức vận dụng làm bài đọc hiểu lại trải rộng từ THCS đến THPT
đòi hỏi GV phải có kỹ năng khái quát, biên tập tổng hợp lại để ôn tập cho HS. Tuy
nhiên mặc dù đã có nhiều cố giắng nhưng nguồn tài liệu chưa được biên tập hệ
thống, khoa học, chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức các hoạt động
dạy và học giáo viên còn gặp phải một số khó khăn nhất định cụ thể như sau: trình
độ giữa các học sinh không đồng đều; nhiều bài đọc dài trong khi thời gian giới hạn
nên giáo viên thường phải dạy lướt ở một số phần nên không có nhiều thời gian để
10
10


tích hợp ôn tập phần đọc hiểu. Mặt khác việc ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy
đòi hỏi GV mất nhiều thời gian, công sức hơn trong việc chuẩn bị bài, giáo án,
nghiên cứu phần mềm dạy học, chuẩn bị phòng học có máy chiếu. Chính vì thế nhiều
GV ngại ứng dụng CNTT vào trong dạy học mà lựa chọn cách dạy truyền thống
phấn trắng bảng đen.
Đa số học sinh trường THPT Sốp Cộp là người dân tộc miền núi đời sống,
kinh tế xã hội còn thấp, không đồng đều. Nhiều em gia đình khó khăn không có tiền
mua tài liệu ôn tập. Nguồn tài liệu học tập ít hoặc không có. Nhiều em chỉ có phương
tiện học tập duy nhất là SGK, các loại sách tham khảo khác dường như không có.
Những khó khăn này tác động không nhỏ tới kết quả của học sinh, đặc biệt là kỹ
năng làm phần đọc hiểu. Về mặt nhận thức hầu hết các em còn hạn chế hiểu biết, ít
có khả năng khái quát hóa kiến thức do vậy thường gặp khó khăn trong việc xác định
nội dung chính của bài đọc, chỉ có khả năng hiểu được những vấn đề cụ thể còn
nhiều hạn chế trong tư duy trìu tượng, thường hay dập khuôn, máy móc, ít sáng tạo.
Các em thường có tâm lý ngại và thiếu tích cực khi vận dụng kiến thức. Hầu hết các

* Các thức tiến hành:
1) GV hệ thống hóa kiến thức thuyết bằng vẽ sơ đồ tư duy (Thực hiện khi thiết
kế bài học)
- Các biện pháp tu từ từ vựng:

12

12


- Các phương thức biểu đạt:

13

13


-Các thao tác lập luận:

- Phong cách ngôn ngữ:
+ Các thể loại của loại phong cách ngôn ngữ ( dạng văn bản):

14

14


+ Các thể loại của loại phong cách ngôn ngữ ( Các đặc trưng):

- Các thể thơ:

Từ nghiên cứu các tài liệu liên quan tới kiến thức vận dụng làm bài đọc hiểu,
ứng dụng phần mềm vào vẽ sơ đồ tư duy. Tôi đã vẽ, tổng hợp Sơ đồ tư duy như
phần ôn tập lý thuyết vận dụng làm phần đọc hiểu. Với HS, các em vừa biết sử dụng
sơ đồ tư duy để ghi bài, tái hiện kiến thức mà biết sử dụng nó như một công cụ tư
duy sáng tạo
Một số kinh nhiệm từ cách khái quát kiến thức bằng sơ đồ tư duy: GV phải
nghiên cứu, rèn luyện kỹ năng xây dựng về SĐTD, sử dụng phần mềm vẽ sơ đồ tư
duy; cần xác định đúng kiến thức cơ bản, trọng tâm để thiết kế SĐTD tức là phải
biết chọn lọc những ý cơ bản, những kiến thức thật cần thiết; kết hợp sử dụng CNTT
trong dạy học gắn với hướng dẫn HS tự học ở nhà.
Một số hình ảnh chụp từ vở ghi của HS

17

17


3.2. Biên soạn, biên tập bộ đề đọc hiểu để ôn tập, thực hành, KTĐG HS:
Biên soạn, biên tập đề là giải pháp vô cùng quan trọng trong việc nâng cao
năng lực làm phần đọc hiểu cho HS. Đề đọc hiểu vừa là ngữ liệu để học sinh thực
hành, vận dụng những kiến thức lý thuyết đã được ôn tập củng cố vừa là thước đo
đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề cụ thể. Chính vì
thế biên soạn đề phải đúng quy trình, đảm bảo theo cấu trúc, mức độ như đề thi minh
họa của Bộ GD&ĐT.
* Mục đích, yêu cầu
Để nâng cao kỹ năng làm bài cho HS, GV cần biên soạn, biên tập bộ đề thi
phần đọc hiểu để phục vụ cho kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kì, đưa vào tích
hợp các bài học chính khóa và hướng dẫn ôn tập.
Biên soạn, biên tập đề thi cần đảm bảo đúng quy trình, bám sát cấu trúc, mức
độ vận dụng kiến thức kỹ năng, các dạng văn bản theo đề minh họa của Bộ Giáo dục

Ví dụ: Thực hiện các bước biên soạn theo quy trình như sau:
Bước 1: Xác định mục đích của đề kiểm tra:
Xây dựng đề phần đọc hiểu để phục vụ cho mục đích kiểm tra trong bài viết số
4 ( Kiểm tra học kỳ).
Bước 2: Xác định hình thức đề kiểm tra: Đề kiểm tra tự luận.
Bước 3: Thiết lập ma trận đề kiểm tra:
MA TRẬN ĐỀ PHẦN ĐỌC HIỂU TRONG KIỂM TRA 90 PHÚT
Mức độ

Vận dụng
Nhận biết Thông hiểu

Thấp

Chủ đề
I.
Đọc Hiểu

19

Nhận - Hiểu được
- Rút ra
diện được nội dung của được
thông
thể thơ
văn bản
điệp, ý nghĩa
Nhận - Hiểu tác của văn bản và
diện được dụng của một liên hệ với bản
phong


Điểm: 1.0

Số điểm:3

Tỉ lệ:30%

Điểm: 0.5

Tỉ lệ:15%

Tỉ lệ:10%

Tỉ lệ: 30 %

Tỉ lệ:5%
Bước 4: Chọn ngữ liệu và biên soạn câu hỏi theo ma trận:
Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu:
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc
sống trí tuệ... Không đọc sách tức là không có nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và
khi không còn nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn
mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm
túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng thật nghiêm túc, lâu dài.
Tôi chỉ muốn thử nêu nên ở đây một đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta,
bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc vận động đọc sách
trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình. Gần đây
có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy
20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong
một năm đọc lấy một cuốn sác,. cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó. Việc
nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.

0,5

- Việc nhỏ: là vận động đọc sách và gây dựng tủ sách trong
mỗi gia đình, mỗi người có thể đọc từ vài chục dòng mỗi
ngày đến một cuốn sách trong một năm

0,5

- Công cuộc lớn: đọc sách trở thành ý thức, thành nhu cầu
của mỗi người, mỗi gia đình trong xã hội, phấn đấu đưa
việc đọc sách trở thành văn hóa của quốc gia, dân tộc

0,5

- Thông điệp: từ việc khẳng định đọc sách là biểu hiện của
con người có cuộc sống trí tuệ, không đọc sách sẽ có nhiều
tác hại tác giả đưa ra lời đề nghị về phong trào đọc sách ở
mọi người. Đọc sánh nét đẹp trong đời sống

0.5

- Bản thân thay đổi nhận thức, hình thành thới quen tốt đẹp

0.5

Bước 6: Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra
- Đối chiếu câu hỏi với ma trận để kiểm tra về sự phù hợp giữa chúng: Đã phù
hợp
- Đối chiếu nội dung câu hỏi với chuẩn kiến thức kĩ năng, với nội dung chương
trình và trình độ của học sinh: Phù hợp

rơi, tôi đã nhặt giúp ông lên, bây giờ tiền của tôi rơi, xin phiền ông cũng nhặt giúp
nó lên cho tôi”. Khán giả đứng xung quanh xì xào nhận xét, người đàn ông thoáng
mỉm cười, cúi xuống nhặt những đồng xu để vào hộp đàn rồi bỏ đi.
Người đàn ông ấy là một trong những vị giám khảo của Học viện âm nhạc
Paris đã bất ngờ đi qua quảng trường, nghe Pablo chơi đàn và quyết định thử anh.
Ông nói: “Một người nghệ sỹ chân chính cần phải có nhân phẩm tốt nữa”. Và ông
đã quyết định thêm Pablo vào danh sách học viên mới. Đúng như ông suy nghĩ,
Pablo sau này đã trở thành một nghệ sỹ đàn vĩ cầm nổi tiếng về tài danh và nhân
đức.
(Theo An ninh Thủ đô)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên.
Câu 2. Anh/chị hiểu thế nào về hành động Pablo liền cúi xuống nhặt hết
những đồng xu ấy và đưa lại cho người khán giả nọ?
Câu 3. Theo anh/chị, vì sao vị giám khảo của Học viện âm nhạc Paris đã
quyết định thêm Pablo vào danh sách học viên mới?
Câu 4. Văn bản trên gửi gắm bức thông điệp gì đối với anh/chị?
II. Hướng dẫn chấm
Câu

Nội dung

Điểm

1

Phương thức biểu đạt chính: tự sự

0,5

2

giây phút khó khăn vì khi ấy nhân phẩm của chúng ta bị chà
đạp. Phản kháng lại gay gắt là bản năng của con người khi gặp
phải những điều này nhưng có thể lại làm cho tình hình tệ hại
hơn.
- Bạn đừng dùng lý trí mà hãy dùng một tâm thái khoan dung,
độ lượng để đối lại, bạn sẽ bảo vệ được danh dự của mình. Bởi
vì, khi đứng trước chính nghĩa, không dã tâm nào có thể đứng
vững. Hãy biết cúi xuống để thể hiện phẩm chất sáng ngời của
bạn.
ĐỀ SỐ 2

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
“Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không?
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
23

23

0.5

0.5

- Sóng ở câu thơ thứ nhất là con sóng thực, con sóng ngoài
biển khơi; nguy cơ hiểm họa đang bủa vây quanh biển.
- Sóng ở câu thơ thứ hai có ý nghĩa biểu tượng đó là con
sóng của lòng người, con sóng của lòng yêu nước, ý thức về
chủ quyền đất nước, tinh thần sẵn sàng bảo vệ Tổ Quốc.

0,25
0.25

3

- Biện pháp tu từ ẩn dụ : mưa nguồn chớp bể, mây mù, sóng 0.5
dữ, bão tố.
- Hiệu quả : Thể hiện một cách kín đáo những hiểm họa đang
đe dọa cuộc sống trên biển, nguy cơ cao về mất an toàn lãnh
thổ của dân tộc ta. Bộc lộ suy nghĩ, trăn trở, lo lắng suy tư
0.5
của nhà thơ.

4

+ Thanh niên phải nhận thức được biển đảo Việt Nam hiện
nay đang phải đối mặt với sự nguy hiểm, sự phức tạp và các
hoạt động từ phía Trung Quốc.
+ Điều đó đòi hỏi thanh niên phải sáng suốt, mưu trí, cảnh
giác trước âm mưu của các thế lực phản động trong và ngoài
nước; dũng cảm, chủ động, sáng tạo, tự lực tự cường, sẵn
sàng hi sinh xương máu, kiên quyết đứng lên bảo vệ độc lập
chủ quyền dân tộc, thống nhất và toàn vẹn bảo vệ an


6

Nội dung tích hợp vào bài học

Viết bài làm văn số Phần đọc hiểu (3 điểm)
1 – Nghị luận xã hội Đánh giá năng lực, kiến thức.

Hình thức
Thực hành, vận
dụng.

7 – Tuyên ngôn Độc lập Nhận diện phong cách ngôn ngữ, Thực hành
8
(tiếp theo – phÇn nội dung văn bản;
t¸c phÈm )
10,
11
12
25

Nguyễn
Đình Nhận diện phong cách ngôn ngữ, Thực hành
Chiểu, ngôi sao nội dung văn bản;
sáng trong vãn
nghệ dân tộc.
Đọc thêm: Mấy ý Nhận diện phong cách ngôn ngữ, Thực hành
nghĩ về thơ; Đô25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status