I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
I.1.1 Cơ sở lí luận
Để tiếp tục sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, chúng ta rất
cần một thế hệ, một đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực làm
việc. Là một người giáo viên tôi luôn suy nghĩ cần làm gì và dạy như thế nào
để tạo ra một thế hệ mới luôn có đủ 4 tố chất: Đức – Trí – Thể – Mĩ, để tiếp
cận với nền khoa học. Kiến thức các em tiếp cận được sẽ là công cụ trên con
đường xây dựng đất nước tươi đẹp của các em. Đó chính là điều mong ước của
Bác: “Dân tộc Việt Nam ta sánh vai với các cường quốc Năm Châu chính là
nhờ một phần lớn ở công học tập ở các cháu”.
Đảng và nhà nước ta từ xưa tới nay luôn đề cao nhiệm vụ giáo dục là quốc
sách hàng đầu và luôn quan tâm đầu tư cho giáo dục. Tương lai của đất nước
đều trông chờ vào thế hệ trẻ. “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”.
Đứng trước tầm quan trọng đó, trong công cuộc giáo dục, Giáo dục Tiểu
học được coi là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu
giáo dục đã được cụ thể hoá thành nhiệm vụ của bậc học trong nhà trường. Nếu
xác định và thực hiện tốt nhiệm vụ đó chính là chúng ta đã góp phần cống hiến
công sức nhỏ bé của bản thân vào sự nghiệp giáo dục nước nhà.
Trong nhà trường các môn học đều rất quan trọng và cần thiết, các môn
học hỗ trợ nhau để giúp phát triển toàn diện cho học sinh. Trong các môn học
thì Toán học có vị trí đặc biệt quan trọng nó là nền tảng khoa học là cơ sở phát
triển toàn diện.
Toán học là môn khoa học suy diễn trừu tượng. Môn Toán ở Tiểu học có
tính chất trực quan là hình thành những biểu tượng Toán học ban đầu rèn luyện
kĩ năng tính toán cho các em. Từ đó tạo cơ sở để phát triển tư duy và phương
pháp học Toán cho các em sau này.
1
Toán học có tính chất thực tiễn và kiến thức Toán học cũng bắt đầu từ
dễ nhớ hơn các câu chữ hình tượng khô khan. Các em ở cấp Tiểu học trí tưởng
tượng tư duy có phát triển nhưng còn tản mạn ít có tổ chức và còn chịu nhiều
tác động của nhiều hứng thú và kinh nghiệm sống các hình mẫu đã biết.
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu tài liệu của các nhà khoa học về tâm
sinh lí lứa tuổi học sinh. Đây là giai đoạn phát triển tư duy, nó được gọi là giai
đoạn thao tác tư duy. Vì vậy việc sử dụng đồ dùng trực quan vào dạy học đúng
lúc, đúng cách thì kết quả học tập của các em sẽ khả quan rất nhiều.
I.1.2 Cơ sở thực tiễn
Trải qua gần 30 năm giảng dạy, tôi thấy ở lứa tuổi học sinh Tiểu học nói
chung và của học sinh lớp 2 nói riêng rất hiếu động. Học tập và làm việc đều
theo ý thích là chính. Các em thích chơi hơn học, vì vậy việc truyền thụ kiến
thức cho các em phải lựa chọn sao cho phù hợp với lứa tuổi của các em. Nhiều
năm nay nền giáo dục của nước ta đã nghiên cứu thực nghiệm và áp dụng thực
tế để phù hợp với lứa tuổi của các học sinh. Phương pháp dạy học mới là: “Lấy
học sinh làm nhân vật trung tâm" tạo cho các em “Học mà chơi – Chơi mà
học” ”. Đã làm cho các giờ học thêm sinh động, phát triển sự hứng thú của học
sinh trong học tập. Vì vậy để học sinh nắm bắt sâu và chú ý hơn người giáo
viên cần nghiên cứu và biết sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học để
giờ học đạt hiệu quả. Ngoài những đồ dùng trong bộ đồ dùng dạy Toán người
giáo viên cần nghiên cứu sưu tầm nhiều đồ dùng dạy học để giờ dạy đạt hiệu
quả cao.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận, nghiên cứu cơ sở thực tế gắn với việc
dạy và học của các trường trong Huyện Tiên Yên nói chung và trường Tiểu
Học Thị Trấn nói riêng. Tôi đã nghiên cứu và chọn đề tài "Sử dụng đồ dùng
dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học toán lớp 2".
I.2 Mục đích nghiên cứu
3
* Với việc sử dụng của thầy.
Trường Tiểu Học Thị Trấn Tiên Yên.
I.3.3.3. Giới hạn về khách thể khảo sát
32 học sinh lớp 2A .
I.4/ Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện tốt đề tài này tôi đã sử dụng phối kết hợp nhiều phương
pháp nghiên cứu khoa học khác nhau để quá trình thực hiện đề tài đạt độ tin
cậy và chính xác cao nhất
I.4.1/ Phương pháp quan sát sư phạm:
- Đây là phương pháp mà người thực hiện khi tiếp xúc với thực tế giáo
dục ở trường Tiểu học tôi đã thu thập được những tư liệu phong phú đa dạng
của đối tượng nghiện cứu. Trên có sở đó rút ra được những khái quát về thực
trạng của bộ môn và những biện pháp giải quyết thực trạng đó.
I.4.2./ Phương pháp điều tra.
- Đây là phương pháp mà tất cả các giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ
môn phải sử dụng để phân loại đánh giá mức độ đạt được của học sinh bằng
những câu hỏi trắc nghiệm, phỏng vấn… Để thu những số lượng, những ý kiến
khác nhau về thực trạng sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy và học môn
Toán. Từ đó có cách nhìn chính xác hơn về thực trạng này nhờ vâỵ người thực
hiện có phương pháp hữu hiệu để giải quyết thực trạng hơn.
I.4.3/. Phương pháp nghiên cứu và tổng kết sư phạm
- Trên cơ sở tiếp xúc thực tế ở một số lớp trong trường bằng nhiều biện
pháp khác nhau tôi đã thực hiện hệ thống hoá khái quát hoá những kinh nghiệm
và những hiểu biết của bản thân để đối chiếu thực tế từ đó rút ra bài học có giá
trị về lí luận thực tế cho học sinh.
I.4.4/Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
5
- Đây là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ các chuyên gia giáo
phương tiện không thể thiếu trong quá trính dạy và học môn Toán. Vì vậy
người giáo viên cần hết sức chú ý tới việc vận dụng thiết bị đồ dùng dạy học
vào công tác giảng dạy cho học sinh Tiểu học. Đây cũng là vấn đề mà các nhà
sư phạm phải đặc biệt chú ý bởi đề tài này tương đối mới mẻ lên chưa thực sự
được quan tâm. Và đây chính là động lực để tôi tâm huyết lựa chọn đề tài này.
“Biện pháp sử dụng đồ dùng dạy học để nâng cao chất lượng dạy học môn
Toán lớp 2”
II.1.2. Cơ sở lí luận
* Môn Toán ở trường Tiểu học là một môn học thống nhất không chia
thành phân môn riêng. Hạt nhân của môn Toán Tiểu học là cơ sở bao gồm: số
học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân. Nội dung về các đại lượng cơ bản,
yếu tố hình học, giải Toán có lời văn được sắp xếp gắn bó với hạt nhân số học
tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các nội dung của môn Toán. Trong chương trình
Toán Tiểu học các tập hợp số và các phép tính số học là nền tảng để học tập
các nội dung khác. Các tập hợp số là nội dung cơ bản, các số ở đây gồm (tập
hợp số tự nhiên, số hữu tỉ không âm). Tập hợp các số đó được chia thành các
tập hợp con mà ta thường gọi là vòng số theo thứ tự tong lớp học. Mỗi vòng số
được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức khác như: Kiến thức về đai lượng,
phép đo đạc, các yếu tố hình học, giải Toán.
- Các kiến thức số học đại lượng được sắp xếp theo nguyên tắc đồng
tâm, kế thừa và phát triển không gián đoạn.
- Các kiến thức về đại lượng và phép đo đại lượng được trình bày dưới
dạng hình thành khái niệm, phép đo khái niệm đại lượng. Các đại lượng không
sắp xếp thành chương trình mà xen kẽ với các vòng số được mở rộng cùng với
mở rộng các vòng số.
7
- Các kiến thức hình học ở Tiểu học bao gồm các yếu tố cơ bản cần thiết
như: Điểm, đoạn thẳng, đường thẳng, các hình vuông, chữ nhật, tam giác, tứ
hoặc chưa đầy đủ – luyện tập việc vân dụng để củng cố kĩ năng sử dụng đồ
dùng.
II.2. CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.2.1. Thực trạng của việc sử dụng đồ dùng trong dạy và học toán
của HS lớp 2
a. Thực trạng về chất lượng học môn Toán của học sinh lớp 2.
- Qua quá trình giảng dạy nhiều năm tôi thấy trong cả một chương trình
kiến thức lớp 2 việc thực hiện phép trừ có nhớ một lần là các em còn vướng
mắc các em chưa biết cách thực hiện và ghi nhớ sau mỗi một bài –
Ví dụ: 9+5 từ đó thiết lập và học thuộc các công thức: 9 cộng với một số qua
10 thuộc nhanh chóng quên. Chưa biết tổ chức các ghi nhớ các em chỉ thuộc
mồm không có khả năng vận dụng.
- Nhiều em khi cộng sử dụng đếm ngón tay, có em còn sử dụng cả chân
đếm. Đến các lớp trên các em rất mắc về kiến thức cộng trừ có nhớ một lần.
- Giáo viên chưa có ý thức sử dụng đồ dùng và sử dụng đồ dùng chưa
hiệu quả.
II.2.2/ Đánh giá thực trạng
b. Thực trạng về việc sử dụng đồ dùng học tập của các em ở các năm
hoc trước đây.
- Những năm học trước đây nhìn chung việc sử dụng đồ dùng của các em
vào quá trình học đôi lúc còn lúng túng vì các em còn chưa thuộc các kí hiệu
chưa nắm được các lệnh đề chưa thực sự thấy được tầm quan trọng của bộ đồ
dùng Toán.
9
- Năm học 2007-2008 nhận lớp tôi kiểm tra lại bộ đồ dùng Toán 2 của các
em đã được trang bị từ những năm thay sách đầu tiên thì tôi thấy nhiều bộ đồ
dùng đã không còn đảm bảo cho việc học Toán của các em vì đại đa số các bộ
đồ dùng không đầy đủ: chữ số kí hiệu đã mờ, đặc biệt khi phát các bộ đồ dùng
+ Tìm hiểu nghiên cứu khảo sát thực trạng việc sử dụng đồ dùng dạy học
của học sinh, giáo viên Trường Tiểu Học Thị Trấn Tiên Yên.
+ Đề xuất vấn đề sử dụng đồ dùng, đồ dùng dạy học và khảo sát tính khả
thi của vấn đề sử dụng đồ dùng dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học đề
xuất (Xin ý kiến chuyên gia).
+ Đề xuất các biện pháp sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên.
II.3.2. Các nội dung cụ thể của đề tài.
II.3.2.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh lí lứa tuổi học sinh lớp 2.
Lứa tuổi học sinh Tiểu học là một giai đoạn tất yếu của cuộc đời. ở lứa
tuổi này các em có những đặc điểm riêng. Đó là tính cách hồn nhiên ngây thơ,
trong sáng mang nhiều cảm tính và tiềm thức những khả năng phát triển đó
cũng là lứa tuổi trong giai đoạn hình thành nhân cách.
Lứa tuổi học sinh Tiểu học các em rất hiếu động học tập và làm việc
theo ý thích. Các em ham chơi hơn học. Bởi vậy các phương pháp truyền thụ
cho các em phải phù hợp với lứa tuổi các em. Qua nhiều năm nay nền giáo dục
đã nghiên cứu thực nghiệm và áp dụng thực tế sao cho việc giảng dạy phù hợp
với lứa tuổi học sinh. Hiện nay phương pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung
tâm”. “Học mà chơi – Chơi mà học” làm cho giờ học thêm sinh động. Phát
triển sự hứng thú trong học tập của học sinh. Các em học sinh Tiểu học thường
hiếu động dễ hưng phấn, khó tập trung chú ý lâu, hay hướng tới các hoạt động
cụ thể, dễ thấy, kết quả trực tiếp hoặc nhanh thấy kết quả. Chính vì vậy mà các
11
em thường không chú ý và không lĩnh hội được những kiến thức khó và trừu
tượng.
Trí nhớ có vai trò quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của con người.
Đối với hoạt động học tập cũng vậy. Nếu không có trí nhớ thì các em không
thể tiếp thu các kiến thức có mối liên quan với nhau. Bước vào giai đoạn Tiểu
cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100. Phép nhân, chia, bảng nhân chia 2,3,4,5.
Tên gọi và các thành phần và kết quả của các phép tính. Mối quan hệ của các
phép tính cộng và trừ, nhân và chia các số đến 1000. Phép cộng trừ các số có 3
chữ số không nhớ. Các phần bằng nhau của đơn vị và các đơn vị đo đại lượng.
Hình thành và vận dụng các kĩ năng về cộng, trừ, nhân, chia. Giải một số
phương trình đơn giản, biết cách tính giá trị của biểu thức đơn giản, biết đong
đo cân và ước lượng tương đối chính xác các đơn vị đo độ dài khối lượng,
dung tích, thời gian. Nhận biết được một số hình biết cách tính độ dài đường
gấp khúc, chu vi tam giac, tứ giác, hình vuông. Các em giải thành thạo các bài
toán đơn giản về cộng trừ nhân chia có kèm đơn vị đo.
Các em tự phát hiện, tự tìm tòi và tự chiếm lĩnh kiến thức mới chăm chỉ
tự tin hứng thú với giờ học, bài học.
II.3.2.3. Nghiên cứu về chương trình.
Chương trình Toán 2 là bộ phận của chương trình Toán Tiểu học.
Chương trình này kế thừa và phát triển thành tựu về dạy học. Toán 2 thực hiện
những đổi mới về cấu trúc nội dụng để tăng cường hình thành và ứng dụng
kiến thức mới quan tâm đúng mức đến việc đổi mới phương pháp dạy học. Từ
đó giúp học sinh hoạt động học tập tích cực, linh hoạt sáng tạo theo năng lực
của học sinh.
* Thời lượng chương trình dạy học Toán 2.
- Kì 1: 18 tuần = 90 tiết.
- Kì 2: 17 tuần = 85 tiết.
13
- Cả năm học có 175 tiết.
- Một tuần học có 5 tiết.
- Mỗi tiết học 35 phút.
* Kiến thức: Gồm các mạch kiến thức là.
- Số học
được những ý định của tác giả Toán 2 thì có thể có nhiểu điều kiện ôn tập củng
cố kiến thức đã học, giúp học sinh huy động chúng để phát hiện, chiếm lĩnh,
vận dụng kiến thức mới tìm ra những nội dung còn tiềm ẩn trong bài học.
b. Phương pháp dạy học và các nội dung thực hành luyện tập
* Nhiệm vụ chủ yếu là củng cố các kiến thức và kĩ năng cơ bản của
chương trình. Rèn luyện các năng lực thực hành giúp học sinh hiểu ra rằng học
không để biết mà học còn để rèn luyện và vận dụng.
c. Nghiên cứu soạn bài
Soạn bài thực chất là lập kế hoạch tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động
học tập tích cực nhằm đạt được mục tiêu của một bài học Toán 2.
Mỗi bài học cần có:
+ Mục tiêu, mức độ, kiến thức, kĩ năng cần đạt.
+ Xác định dồ dùng dạy học.
Nêu các đồ dùng dạy của giáo viên - đồ dùng dạy học cần thiết của học
sinh
+ Các hoạt động dạy học chủ yếu
Xác định rõ tên từng hoạt động
- Cách tiến hành từng hoạt động
- Cách đưa các đồ dùng dạy vào thời điểm nào cho thích hợp và đạt hiệu
quả cao.
- Khi củng cố bài cần sử dụng linh hoạt các trò chơi học tập
II.3.2.5.. Nghiên cứu tìm hiểu bộ đồ dùng dạy và học Toán 2
15
* Ngay từ năm đầu thay sách lớp 2 công ty thiết bị đồ dùng dạy học đã
trang bị đồ dùng dạy học môn Toán 2 sau:
- Học sinh bộ đồ dạy học Toán
- Giáo viên: Bảng gài
Hộp đồ dùng gồm có:
- Từ đó liệt kê ra các mảng kiến thức và đồ dùng phục vụ cho việc dạy
cả mảng kiến thức đó
(1) Phép cộng và trừ có nhớ trong phạm vi 100.
- Cần: Các chữ số rời, bảng gài, các bó trục que tính, các thẻ bó trục que
tính, các que tính rời, các dấu.
(2) Các số đến 1000 phép cộng và trừ trong phạm vi 1000
- Cần: Các hình vuông biểu diễn trăm, đơn vị, các hình chữ nhật biểu
diễn trục đơn vị các số, các dấu.
(3) Phép nhân chia
- Cần: Các tấm bìa có những chấm tròn tương ứng với bài dạy
(4) Đại lượng và đo đại lượng
- Cần: Thước m-cm, ca, cốc lít, cân đĩa, cân sức khoẻ, đồng hồ, tờ lịch,
quyển lịch, tiền với nhiều tờ có mệnh giá khác nhau.
(5) Các yếu tố hình học
- Cần: Thước đo, hình mẫu, các hình minh hoạ.
(6) Giải toán
- Cần: Các bài toán
Các bài mẫu về: Tóm tắt và Bài giải
Các danh mục trên tôi đã Vi tính, PôTô ra giấy A3 gián ngay tủ đồ dùng.
17
Ví dụ: Phần dạy học về các đại lượng (Độ dài, khối lượng, dung tích,
thời gian, chu vi) và các đơn vị đo của nó. Người giáo viên cần tổ chức cho học
sinh được hoạt động thực hành.
Chẳng hạn: Dạy bài đại lượng độ dài học sinh được thực hiện thực sự
dùng đơn vị đo để đo đại lượng qua hoạt động học sinh lĩnh hội kiến thức một
cách tự nhiên.
Để tổ chức dạy học về đại lượng, đo dại lượng. Giáo viên phải chuẩn bị
động thực hành.
* Với học sinh:
- Tôi đã kiểm tra toàn bộ đồ dùng phục vụ cho học Toán của các em.
- Họp phụ huynh: Nêu tầm quan trọng của bộ đồ dùng học Toán. Để
khắc phục bộ đồ dùng quá cũ và thiếu nhiều. Thay vào đó giáo viên cùng phụ
huynh trao đổi và đi đến những thống nhất trong bộ đồ dùng học Toán 2 mới
do Công ti thiết bị đồ dùng dạy học sản xuất.
- Xác định đồ dùng học toán của các em đã có vfa đò dùng cần bổ sung.
- Nêu rõ tầm quan trọng của bộ đồ dùng trong học toán, thống nhất phụ
huynh trang bị.
- Hướng dẫn phụ huynh tên gọi, kí hiệu của các đồ dùng.
VD: Thẻ que tính, thẻ bó chục que tính...
- Hướng dẫn HS sắp xếp đồ dùng trọng hộp đồ dùng.
- Hướng dẫn học sinh hiểu lệnh đề kí hiệu.
- Soạn bài trước ba ngày, xác định đồ dùng cho bài học.
- Để đảm bảo thời lượng cho tiết học sau cuối tiết học của ngày hôm
trước tôi hướng dẫn HS chuẩn bị đồ dùng cho tiết học của ngày hôm sau.
*/ Kết luận
19
Bằng những biện pháp trên tôi đã khắc phục được những thực trạng của
thầy và trò còn mắc trong chương II. Giờ học đặt hiệu quả, chất lượng sử dụng
đồ dùng dạy học và giờ học được nâng cao.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trước thực trạng của giáo viên và học sinh. Thực trạng của việc sử dụng
đồ dùng trong công tác dạy và học. Tôi đã đề xuất các biện pháp, cụ thể để
khắc phục các tồn tại qua quá trình giảng dạy kết quả học tập môn Toán của
các em lớp 2A theo từng giai đoạn học tập như sau.
- Việc nghiên cứu bài dạy, nghiên cứu đồ dùng phục vụ cho các hoạt động
trong bài dạy rất cần thiết đối với mỗi giáo viên khi lên lớp.
- Việc nghiên cứu làm các dồ dùng cho các bài học chưa được trang bị đồ
dùng là rất cần thiết. Mỗi giáo viên, mỗi tổ khối nên có ý thức, có kế hoạch làm
các đồ dùng từ các nguyên liệu sẵn có, rẻ tiền, dễ làm – dễ sử dụng.
- Đồ dùng dạy học cần đưa ra đúng lúc, đúng chỗ đồng thời phải đảm bảo
tính khoa học và tính sư phạm.
20
- Qua quá trình giảng dạy tôi đã thấy được tính ưu việt của đồ dùng, giáo
viên thực sự là người chỉ đạo hướng dẫn. Học sinh là nhân vật chủ thể trong
các hoạt động học tập. Đồ dùng học tập giúp các em quan sát sự vật, hiện
tượng một cách trực quan. Các em nhận thức sâu hơn nội dung bài học. Hình
thành tốt kĩ năng, kĩ xảo cho các em.
- Qua việc nghiên cứu đề tài này tôi càng hiểu rõ hơn về vai trò của đồ
dùng dạy học cho học sinh như thế nào là hợp lí, là việc rất quan trọng trong
quá trình giảng dạy của giáo viên. Nó còn góp phần mở rộng nâng cao tầm hiểu
biết, bồi dưỡng kiến thức về phương pháp giảng dạy cho bản thân tôi. Tôi thấy
mình còn phải học hỏi nhiều hơn nữa để góp phần cho việc giảng dạy phân
môn này được tốt hơn.
- Vì vậy, tôi nghiên cứu vấn đề này cũng là mong được góp một phần bé
nhỏ vào công việc giảng dạy của giáo viên Tiểu học nói riêng thêm phần chất
lượng và của chính bản thân mình sau này.
- Vì phạm vi nghiên cứu của đề tài có giới hạn và khả năng của bản thân
còn hạn chế nên tôi rất mong muốn nhận được sự đóng góp của hội đồng khoa
học các cấp, các đồng nghiệp để đề tài của tốt hoàn thành tốt hơn.
III.2. Kiến nghị
Qua nghiên cứu đề tài và trực tiếp vận dụng đề tài trong công tác giảng
dạy tôi có một số kiến nghị sau.
Phương pháp luận
Tên tác giả
BPExipốp
Nhà xuất bản
Nhà xuất bản Hà Nội
Vũ Cao Đàm
1972
Nhà xuất bản Hà Nội
Pham Viết Vương
1996
Nhà xuất bản Hà Nội
nghiên cứu khoa học
4
giáo dục
Tâm lý dạy học
1995
Hồ Ngọc Đại
Nhà xuất bản Hà Nội
5
Phạm Đình Thục
Thế giới trong ta
về Toán 2
PHỤ LỤC: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 1
Ngày soạn: 05/09/2007
Ngày giảng: 07/09/2007
MÔN TOÁN
Bài: 9 cộng với một số
23
9+5
I. Mục tiêu
1. Kiến thức
- Học sinh biết thực hiện phép cộng 9+5. Vận dụng kĩ thuật 9+5 để lập bảng 9
cộng với một số.
2. Kĩ năng
- Học thuộc lòng 9 cộng với một số. Thực hiện tính giá trị của biểu thức có 2
dấu phép tính.
3. Thái độ
- Giáo dục các em phát huy tính tích cực trong giờ học
II. Đồ dùng dạy học
1. Chuẩn bị của học sinh
- 20 que tính.
2. Chuẩn bị của giáo viên
- 20 que tính và bảng gài que tính.
một số qua phép cộng 9 + 5
- Nhắc lại đề toán
- Gv nêu đề toán: có 9 que tính thêm
- HS thao tác trên vật thật tại chỗ
5 que tính.Hỏi có tất cả bao nhiêu que - HS lấy 9 que tính đặt trên bàn
tính.
- GV yêu cầu
GV lấy 9 que tính gài trên bảng gài
- HS lấy 5 que tính đặt dưới 9 que
tính
- GV lấy 5 que tính gài dưới 9 que
tính hỏi? 9 que tính thên 5 que tính
nữa. Gộp lại được bao nhiêu que tính. - Hs có thể đếm rồi nêu kết quả = 14
- Hoặc. 9 que tính thên 1 que tính là
10 que tính. 10 que tính thêm 4 que
tính là 14 que tính
- Hoặc 5 que tính thêm 5 que tính là
10 que tính. 10 que tính thêm 4 que
tính là 14 que tính.
- GV ghi nhận tất cả các cách thực
hiện của các em để có kết quả phép
tính là 14.
- Để chuẩn bị cơ sở cho việc thực
9+5=?