Tây Nguyên không chỉ là một địa bàn có vị trí chiến lược về kinh tế quốc
phòng, an ninh, đối ngoại của cả nước mà còn là địa bàn phức tạp về vấn đề tôn
giáo và dân tộc. Trong các tôn giáo ở Tây Nguyên thì đạo Tin Lành là một tôn
giáo du nhập vào địa bàn này muộn hơn các tôn giáo khác, nhưng sự du nhập của
đạo Tin Lành gắn liền với mưu đồ chiến lược của Mỹ đối với Tây nguyên và Việt
Nam. Những năm gần đây dưới chiêu bài đòi “tự do tôn giáo”, đòi “ độc lập”,
các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành, phục hồi tổ chức
phản động FULRO, đấu tranh để thành lập "Nhà nước Đêga độc lập " ở Tây
Nguyên, nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu và tiến tới thủ
tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tình hình trên đây đòi hỏi phải tăng
cường công tác đấu tranh với hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành chống phá cách
mạng của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng phát triển
kinh tế - xã hội, bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trên
địa bàn Tây Nguyên.
Công tác đấu tranh với hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng đạo Tin
Lành chống phá cách mạng trên địa bàn Tây Nguyên là trách nhiệm của toàn bộ
hệ thống chính trị do đảng lãnh đạo. Quân đội là một lực lượng trong hệ thống
chính trị, tham gia đấu tranh chống hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành của các thế
lực thù địch không chỉ là nhiệm vụ thuộc chức năng đội quân công tác mà quân
đội còn là chỗ dựa vững chắc cho chính quyền các địa phương phát huy sức
mạnh tổng hợp, sử dụng lực lượng tổng hợp đấu tranh đánh bại mọi âm mưu thủ
đoạn chống phá của kẻ thù.
Trong thời gian qua, quân đội cùng các cấp chính quyền, các ngành có liên
quan, đã tích cực đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng đạo Tin Lành của
các thế lực thù địch và đã thu được nhiều thành tựu to lớn, bảo vệ vững chắc
thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa trên địa bàn Tây Nguyên. Tuy nhiên, hoạt
động lợi dụng đạo Tin Lành của các thế lực thù địch vẫn diễn ra quyết liệt, tiềm
ẩn, tích tụ nhiều nguy cơ gây mất ổn định chính trị, ảnh hưởng không nhỏ đến
công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, đe doạ độc lập chủ quyền của Tổ quốc.
Nguyên được cấu tạo bởi hai dạng phổ biến là núi cao và cao nguyên, từng khu
vực địa hình có giá trị được núi rừng bao quanh, nhưng lại nối tiếp nhau tạo
thành thế liên hoàn vững chắc cả về chiều rộng và chiều sâu. Tây Nguyên từng
được ví như “nóc nhà của Đông Dương”, ai nắm được Tây Nguyên thì người
đó sẽ khống chế cả Đông Dương, khống chế cả miền duyên hải miền trung, cửa
ngõ của Sài Gòn và Đông Nam Bộ, khu vực ngã ba biên giới Việt Nam-LàoCămpuchia. Do vậy, vùng Tây Nguyên có điều kiện thuận lợi để mở rộng giao
lưu với nhiều vùng trong nước và quốc tế.
* Đặc điểm kinh tế- xã hội:
Tây Nguyên được Đảng, Nhà nước và các ban ngành trung ương đặc biệt
quan tâm với những chính sách ưu đãi, hỗ trợ về phát triển kinh tế – xã hội,
chính sách dân tộc, tôn giáo cho nên những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng
kinh tế của các tỉnh Tây Nguyên khá cao nhưng chưa đồng đều, không cân đối,
thiếu bền vững. Khảo sát toàn tuyến biên giới có 18. 298 hộ, số hộ có mức sống
trung bình là 9.797 hộ chiếm 53,54%, 6.435 hộ nghèo chiếm 35,16 % trong đó
hơn 70 % là đồng bào dân tộc thiểu số. Trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc
thiểu số còn thấp, chính vì vậy mà đạoTin Lành có điều kiện phát triển mạnh
trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. Sự chênh lệch về mức
sống giữa người Kinh với và đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên đã bị kẻ
địch và các phần tử xấu lợi dụng chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc.
* Đặc điểm dân tộc:
Địa bàn Tây Nguyên hiện nay có 45 dân tộc sinh sống, có thể phân chia thành
3 nhóm chính:
- Nhóm các dân tộc thiểu số cư trú lâu đời ở Tây Nguyên gồm 12 dân tộc, chiếm
khoảng 25÷26% dân cư Tây Nguyên [4- 34]
- Nhóm dân tộc Kinh (Việt) chiếm 67,54% dân số, một số đã đến Tây Nguyên
từ thời Pháp thuộc, một số là dân công giáo di cư vào năm 1954. Từ sau 1975 do
chính sách phân bố lại dân cư, lao động trên địa bàn cả nước và tình trạng di dân
tự do, đến nay người Kinh (Việt) ở Tây Nguyên có khoảng 2,7 - 2,8 triệu người,
Việt Nam. Trong quá trình xâm lược Việt Nam và sau khi thâm nhập Tây
Nguyên, Mỹ sớm có ý đồ phát triển và lợi dụng đạo Tin Lành để chống phá cách
mạng Việt Nam. Thậm chí sau khi buộc phải rút khỏi Việt Nam Mỹ vẫn mưu đồ
sử dụng Tin Lành như một thứ vũ khí lợi hại để thực hiện chiến lược“diễn biến
hoà bình ” bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng Việt Nam, biến Tin Lành trở
thành đối trọng với chính quyền nhân dân trên địa bàn Tây Nguyên[5- 26].
* Sự du nhập, phát triển của đạo Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX, tổ chức Hội liên hiệp Cơ đốc Truyền
giáo (CMA) của Tin lành Mỹ bắt đầu chú ý đến địa bàn Đông Dương và Việt
Nam. Năm 1887 mục sư, tiến sỹ A. B. Sim pon - người sáng lập tổ chức CMA đến
truyền giáo ở Hoa Nam (Trung Quốc) sang nghiên cứu tình hình ở Việt Nam. Sau khi
ở Việt Nam trở về A.B. Simpon đã viết trên tờ tạp chí “ Lời nói, việc làm và thế
giới” rằng: Miền bán đảo Đông Dương đã bị lãng quên quá nhiều. Đại vương quốc
An Nam phải được chinh phục cho Đấng Ki Tô, tại sao Vương quốc này cùng với
Tây Tạng lại không được Đức chúa Trời xem như một trong những khu vực truyền
giáo đầu tiên của cuộc tiến hành mới. Với chủ trương đó, CMA đã nhiều lần phái
giáo sỹ đến khảo sát, thăm dò, xây dựng kế hoạch truyền giáo. Năm 1893 mục sư
D.Seclacheur đến Sài Gòn, năm 1897 Mục sư C.H.Recver đến Lạng Sơn, năm 1899
mục sư R.A.Faffray đến Hà Nội, năm 1901 mục sư S.Dayan đến Hải Phòng, năm 1911
Mục sư Faffray Hostes đến Đà Nẵng lập Hội Thánh đầu tiên và đạo Tin Lành bắt
đầu phát triển ở Việt Nam, trong đó có Tây Nguyên. Từ những năm 1929-1932, các
giáo sỹ thuộc CMA đã đặt chân lên vùng đất Tây Nguyên để truyền đạo và gây
dựng cơ sở. Năm 1929 Jackson giáo sỹ người Mỹ, thành viên của CMA được phái
lên Tây Nguyên để nghiên cứu tình hình chuẩn bị cho công cuộc truyền đạo ở vùng
này. Từ năm 1930-1932 các giáo sỹ người Mỹ đến truyền đạo vùng dân tộc K’Ho Đà Lạt, vùng dân tộc Êđê – Buôn Mê Thuột. Tại Đà Lạt, vợ chồng Jackson dựa vào
một số thanh niên người K’Ho làm phiên dịch, đã lập được một Hội Thánh với hơn
20 tín đồ, mở một trường kinh thánh cho người dân tộc thiểu số và đã đào tạo được
một thầy giảng người dân tộc thiểu số đầu tiên tên là HaSol. Năm 1936 vợ chồng
Lành theo FULRO trước quần chúng… Thời kỳ này các mục sư ngừng hoạt động,
đóng của nhà thờ tạm thời lùi bước chờ thời cơ phục hồi, phát triển tín đồ, tái thiết lập
cơ sở giáo hội để đấu tranh với ta [26 - 42]. Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên trở nên
phức tạp từ giữa những năm 80 khi những mục sư hết thời hạn cải tạo trở về. Lợi
dụng chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, lợi dụng đường lối mở cửa và chính
sách quan hệ đối ngoại đa phương của Đảng và nhà nước ta, các thế lực thù địch đã
dùng nhiều thủ đoạn tác động vào Tin Lành ở Tây Nguyên gây rối nội bộ giáo hội
Tin Lành, đẩy một bộ phận quần chúng đồng bào tín đồ Tin Lành ở Tây Nguyên đi
đến thành kiến bất hợp tác với chính quyền.
1.1.2. Âm mưu và thủ đoạn lợi dụng đạo Tin Lành của các thế lực thù
địch trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay
Nhìn lại quá trình du nhập và phát triển của đạo Tin Lành ở Tây Nguyên , chúng ta
khẳng định: Hầu hết các tổ chức Tin Lành ở Tây Nguyên đều có xuất xứ từ Mỹ, có
mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức Tin Lành Mỹ, được Mỹ nuôi dưỡng và sử dụng
như một công cụ phục vụ cho sự thống trị của Mỹ trước đây và hiện nay đang ra sức
lợi dụng để phục vụ cho mưu đồ “ diễn biến hoà bình” ở Việt Nam.
- Về mục tiêu :
Thành lập cái gọi là “ Nhà nước Đêga độc lập” bao gồm Tây Nguyên của Việt
Nam, một phần Đông bắc Cam Pu Chia và một số tỉnh của Lào, trong đó lấy Tây
Nguyên là trung tâm.
- Về phương thức:
Chúng liên kết các hoạt động chống phá ở trong ngoài và ngoài, thành lập các
tổ chức chính trị phản động để tranh thủ quốc tế thừa nhận, giúp đỡ; Đồng thời,
tìm mọi cách thâm nhập về nước để móc nối xây dựng lực lượng chính trị phản
động, kích động quần chúng biểu tình gây bạo loạn chính trị; Từ biểu tình bạo
loạn, đến sử dụng bạo lực vũ trang giành chính quyền, thành lập chính quyền
phản động, công khai hoá, hợp pháp hoá " Nhà nước Đêga độc lập" tại Tây
Nguyên. Các hoạt động này, lúc ngấm ngầm, lúc công khai, khi có thời cơ thuận
lợi thì bùng phát trở thành sự kiện chính trị lớn, gây mất ổn định chính trị làm
suy yếu, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
người Kinh quan tâm. Người Kinh vận động người dân tộc thực hiện kế hoạch hoá
gia đình, triệt sản là để người dân tộc tiệt giống nòi” [3 - 6].
- Phát tán tài liệu phản động để kích động chống đối chính quyền: kích
động thanh niên tham gia tổ chức “Tin Lành Đềga” xúi giục vượt biên trái phép
sang Mỹ để có cơ hội được “ học hành” được “ đào tạo nghề” và có “cuộc sống
sung sướng”… phục vụ âm mưu chống phá chế độ ta lâu dài, tạo ra làn sóng di cư
bất hợp pháp gây mất ổn định, lấy cớ vu cáo Việt Nam[57-30].
- Tìm cách chui vào hệ thống chính trị của ta để chống phá: đe doạ những người
tích cực, khống chế cán bộ, nhất là cán bộ ở cơ sở, thành lập các khung chính quyền
ngầm, lực lượng ngầm để khi có thời cơ là tiến hành cướp chính quyền. Năm 2000
chúng tổ chức chính quyền khu 5 (của FULRO cũ ) ở huyện Chư Pông / Gia Lai,
mở đại hội thành lập hội “ Người Khơ Me thượng” và tổ chức hội thảo về xây
dựng “ Nước Đêga độc lập” ở Keo sơ ma / Mun đun ki ri / Căm Pu Chia. Từ đầu
năm 2008 đến nay tại Gia Lai chúng đã xây dựng 5 khung cấp vùng, 35 khung
cấp xã, 52 khung cấp thôn với 423 tên. Chúng đã hình thành ban lãnh đạo “ Tin
Lành Đêga” cấp tỉnh, 22 hội thánh khu vực, 200 tên khung chấp sự buôn, làng
với 106 tên cầm đầu cấp tỉnh, huyện.
- Lợi dụng những người có uy tín trong các dân tộc và các phần tử thoái hoá
biến chất để chống phá ta. Chúng tìm cách mua chuộc, lôi kéo đội ngũ già làng
trưởng bản, trưởng dòng họ, dựa vào uy tín của họ để tuyên truyền phát triển
đạo, khống chế quần chúng, kích động quần chúng chống đối chính quyền. Lợi
dụng những kẻ thoái hoá biến chất để viết các tài liệu xuyên tạc đường lối, chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc, tôn giáo, tiếp tay
cho các hoạt động chống phá cách mạng của chúng.
- Thông qua con đường du lịch để móc nối lực lượng chống phá: Một số phần
tử thù địch lưu vong trở về Tây Nguyên, gặp gỡ, móc nối với các cơ sở cũ, lôi kéo số
này cộng tác với chúng, hay tìm cách gây dựng các cơ sở mới, nhằm phát triển tổ chức,
lực lượng. Dưới danh nghĩa du lịch, số này không chỉ chuyển giao tiền, hàng, phương
quyết HROS – 243 Đòi đưa Việt Nam trở lại danh sách “ các quốc gia cần đặc
biệt quan tâm về tôn giáo” công khai can thiệp gây sức ép đối với Việt Nam,
dành 12 triệu USD để thúc đẩy “ dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo” ở Việt
Nam. Tiếp tục nuôi dưỡng bọn phản động trong " Tin Lành Đêga" và lực lượng
FULRO. Chi 02 triệu Đôla cho hoạt động của Mỹ tại Tây Nguyên nhằm “giải
quyết các nhu cầu cấp thiết cho cộng đồng và cá nhân”. Công khai thúc đẩy Việt
Nam cho các NGO của Mỹ ở Tây Nguyên thực hiện kế hoạch này.
1.2. Tính cấp bách, nhiệm vụ của quân đội tham gia đấu tranh chống
hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng đạo Tin Lành trên địa bàn Tây
Nguyên hiện nay
* Quan niệm về quân đội tham gia đấu tranh chống hoạt động của các thế
lực thù địch lợi dụng đạo Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay
Quân đội tham gia đấu tranh chống hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng
đạo Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên : Là tổng hợp các hoạt động của các đơn vị và
quân nhân, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, phối hợp chặt chẽ với hệ thống chính
trị và nhân dân, sử dụng tổng hợp các cách thức, biện pháp, kịp thời phát hiện và đánh
bại mọi âm mưu thủ đoạn của địch chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại
thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa; góp phần giữ vững ổn định chính trị, xây
dựng Tây Nguyên vững mạnh về chính trị, kinh tế, văn hoá và an ninh- quốc phòng,
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Mục đích quân đội tham gia đấu tranh chống hoạt động lợi dụng Đạo Tin
Lành là chủ động phát hiện, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động lừa mỵ,
lôi kéo, khống chế, kích động, quần chúng tín đồ Tin Lành gây rối chính trị, biểu
tình bạo loạn cướp chính quyền của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính
trị trên địa bàn Tây Nguyên, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn ven
lãnh thổ của Tổ quốc.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ quân sự Trung ương và Bộ Quốc
phòng, các đơn vị quân đội trực tiếp tham gia đấu tranh chống hoạt động lợi dụng
đời sống vật chất tinh thần cho mọi thành viên trong xã hội. Chừng nào tín
ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, là nơi gửi
gắm ước mơ và niềm tin của đồng bào có đạo, chừng đó quyền tự do tín ngưỡng
còn phải được tuyệt đối tôn trọng. Vì vậy, quyền tự do tín ngưỡng của tín đồ tôn
giáo phải được tôn trọng trên thực tế và phải được pháp luật hoá; mặt khác, phải
kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để gây mất ổn định đời sống chính
trị, cuộc sống hoà bình của nhân dân lao động, tạo điều kiện và tiếp tay cho kẻ thù
bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của dân tộc, của quốc gia. Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X nêu rõ: “ Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của
khối đại đoàn kết dân tộc.… Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng
bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo... đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê
tín dị đoan các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích
chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân” [18 - tr122 ].
Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
diễn ra trong bối cảnh đời sống chính trị thế giới đang có những biến đổi to lớn,
mau lẹ. Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn
giáo đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới tác động làm cho quan hệ tôn giáo ở
nước ta ngày càng phức tạp. Các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động lợi dụng
tôn giáo để chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với phương châm “
hợp tác và chuyển hoá”, Mỹ đang triển khai nhiều thủ đoạn tinh vi hơn, xảo quyệt
hơn chống phá Việt Nam. Tăng cường sử dụng chiêu bài “tự do tôn giáo”, thông
qua các đạo luật mang tính pháp lý nhằm lợi dụng vấn đề tôn giáo để hoạt động can
thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Uỷ ban quan hệ quốc tế của Hoa Kỳ đã
thông qua “Nghị quyết liên viện HR 178” vu cáo Việt Nam phân biệt đối xử, đàn áp
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; Tháng 5/ 2007 Hạ viện Mỹ đã thông qua nghị quyết
HROS – 243 đòi đưa Việt Nam trở lại danh sách “ các quốc gia cần đặc biệt quan
tâm về tôn giáo” công khai dành 12 triệu USD để thúc đẩy “ dân chủ, nhân quyền
và tự do tôn giáo” ở Việt Nam. Từ ngày 21/ 10 đến ngày 3/ 11/ 2007 Uỷ ban tự do
bạo loạn khi có thời cơ. Tổ chức lực lượng, xây dựng cơ sở ngầm để đấu tranh
lâu dài với ta. Kết hợp tuyên truyền phát triển đạo gắn với kích động khơi dậy
mâu thuẫn dân tộc; tuyên truyền tư tưởng dân tộc hẹp hòi và hướng đến thành
lập một "Nhà nước Đêga độc lập" nhằm tác động đến tinh thần của một bộ
phận đồng bào các dân tộc thiểu số. Thực hiện phương châm “Nói một lần
không tin, nói ngàn lần phải tin” những nhà truyền đạo đã rất chú ý nghiên
cứu phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, chi phối và điều khiển
người có uy tín như già làng, trưởng bản, trí thức là người dân tộc thiểu số, để
hỗ trợ cho công cuộc truyền giáo. Các mục sư, các nhà truyền đạo, chấp sự,
tín đồ nòng cốt ở trong nước, cũng như tại chỗ, hoạt động truyền đạo kiên trì,
khôn khéo, bám sát tín đồ, chịu khó đi đến các vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới và có nội dung phương pháp phù hợp đối với từng dân tộc; chúng dùng
cả cách lừa mỵ, đe doạ cưỡng ép, để tuyên truyền, lôi kéo quần chúng theo
đạo. Bên cạnh đó chúng sử dụng các đài phát thanh từ nước ngoài (đài phát
thanh Đêga ở Rôma, đài Nguồn sống, Châu Á tự do…) các trung tâm Tin
Lành ở đồng bằng hướng dẫn truyền đạo và phát triển tín đồ nhằm tranh giành
ảnh hưởng và nắm lấy quần chúng, tạo ra lực lượng chính trị đối trọng với
chính quyền cách mạng trên địa bàn Tây Nguyên.
Thông qua nhiều con đường, nhiều biện pháp khác nhau những đối tượng
cực đoan núp dưới danh nghĩa “ mục sư”, “ tình nguyện viên” đi sâu vào nội bộ
quần chúng các dân tộc thiểu số, thông qua rao, giảng đạo, đẩy mạnh các hoạt
động ly khai với Hội Thánh Tin Lành, tiến hành lập các ban chấp sự “Tin Lành
Đêga” bất hợp pháp từ huyện đến xã, thôn, buôn núp bóng các ban chấp sự này để
thành lập các “khung chính quyền ngầm”, khôi phục các nhóm phản động cũ,
gây dựng lực lượng chống lại chính quyền, viết các tài liệu vu cáo “Việt Nam
đàn áp tôn giáo”, “ngăn cản, đàn áp người dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành”.
Hàng tháng thông tin cho nhau tình hình của Hội và theo dõi đối sách của chính
quyền để đối phó, đồng thời thường xuyên quan hệ với các hội thánh Tin Lành ở Đà
bách hiện nay để giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Thực tiễn của công tác tôn giáo đối với Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên thời
gian qua.
Từ thập niên 80 trở lại đây đạo Tin Lành Tây Nguyên bắt đầu có sự chuyển
biến phức tạp, được các thế lực bên ngoài nuôi dưỡng, đạo Tin Lành đã trỗi dậy
và phát triển mạnh mẽ có sự tăng đột biến về số lượng tín đồ, mục sư, truyền
đạo, đặc biệt là trong vùng đồ bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng căn
cứ cách mạng cũ. Trong khi đó đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở Tây
Nguyên nhất là ở cấp cơ sở vừa thiếu, vừa yếu, vừa không có chuyên môn chủ
yếu là kiêm nhiệm. Lực lượng cơ sở chính trị và cốt cán trong quần chúng các dân
tộc đã và đang theo đạo Tin Lành ta có điều kiện tập hợp nhưng thời gian qua chúng
ta chưa chú trọng bảo vệ, xây dựng mới và phát huy lực lượng này rất hạn chế. Chủ
trương và đối sách của ta đối với đạo Tin Lành có khi chưa phù hợp, mà còn đánh cả
vào cơ sở cốt cán của ta trong đạo Tin Lành. Tình trạng “mỏng, yếu” thậm chí “ trắng
cơ sở cốt cán” của ta trong nội bộ Tin Lành còn là khó khăn lâu dài, lớn nhất trong
công tác Tôn giáo đối với đạo Tin Lành ở Tây Nguyên. Bộ máy chính quyền, đoàn
thể ở cơ sở, trực tiếp ở các buôn, làng yếu, hiệu lực kém, năng lực cán bộ hạn chế,
điều hành kinh tế xã hội có nhiều khó khăn. Khi đối mặt với những vấn đề phức tạp
về an ninh chính trị còn lúng túng, có nơi còn bất lực, né tránh. Các tổ chức Mặt trận,
đoàn thể có đội ngũ cán bộ đông nhưng hoạt động cầm chừng, thụ động nặng về hình
thức; chưa thực sự gần dân, chưa chăm lo xây dựng thực lực chính trị và đội ngũ cốt
cán trong quần chúng, nên thiếu tai mắt tin cậy trong quần chúng ở các buôn làng để
có thể giúp Đảng, chính quyền chủ động ứng phó mọi tình huống. Tệ quan liêu xa
dân và các hiện tượng tiêu cực làm cho một bộ phận quần chúng dao động, thậm chí
mất lòng tin vào Đảng, vào chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa. Mặc dù đã có
kết luận của Ban chỉ đạo Tây Nguyên (6/ 2003) đối với Tin Lành Tây Nguyên, nhất
là đối với “ Tin Lành Đêga” nhưng nhận định, đánh giá tình hình, chủ trương, biện
gỡ nhất là số cầm đầu, bọn FULRO đang lẩn trốn và cơ sở ngầm, số cầm đầu đường
dây tổ chức vượt biên, cầm đầu đội lốt Tin Lành… làm vô hiệu hoá hoạt động của
chúng, ngăn chặn việc hình thành tổ chức bên trong, ngăn chặn âm mưu kích động
quần chúng biểu tình vượt biên gây nổ. Cùng với đảng bộ, chính quyền và nhân dân
các dân tộc Tây Nguyên đấu tranh đánh bại hoạt động của các thế lực thù địch giữ
cho Tây Nguyên yên ổn và phát triển, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ cấp bách, lâu dài của các
đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn chiến lược của Tổ quốc.
- Tham gia đấu tranh chống hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành là thực hiện
chức năng đội quân công tác của quân đội trong tình hình mới.
Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khoá IX
về công tác tôn giáo xác định: Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội, các cấp các ngành, các địa bàn. làm tốt công tác tôn giáo là
trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do đảng lãnh đạo. Quân đội nhân dân
Việt Nam là một lực lượng trong hệ thống chính trị phải có trách nhiệm làm tốt
công tác tôn giáo trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đảng uỷ quân sự Trung ương xác
định: Công tác tôn giáo “ là một nhiệm vụ chính trị của quân đội”. Nội dung cốt
lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Nên công tác tôn giáo
phải là một mặt công tác cơ bản, thường xuyên của các cấp uỷ, chỉ huy ở tất cả
các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam “ trọng tâm công tác tôn giáo của
quân đội là làm tốt công tác tuyên truyền vận động quần chúng ở đơn vị và công
tác dân vận ở vùng đồng bào tôn giáo, góp phần làm thất bại âm mưu lợi dụng
tôn giáo của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị – xã hội , xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.[23] Vận động quần chúng là
thực hiện chức năng đội quân công tác của quân đội trong tình hình mới, một
phương thức tác chiến có hiệu quả đấu tranh làm thất bại những âm mưu thủ
đoạn lợi dụng Đạo Tin Lành của các thế lực thù địch trên địa bàn Tây Nguyên
hiện nay. Công tác vận động quần chúng tín đồ Tin Lành của quân đội nhằm
phương thức tác chiến, một mũi tiến công chính trị có hiệu quả vừa có tính phòng
ngừa vừa mang tính chất tấn công địch toàn diện, góp phần phòng chống thắng
lợi chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, góp
phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Thực tiễn cho thấy công tác vận động,
giáo dục thuyết phục, quần chúng tín đồ Tin Lành không chỉ là công tác có ý
nghĩa chiến lược mà còn là nhiệm vụ chính trị cấp bách, lâu dài của quân đội góp
phần to lớn vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống hoạt động lợi dụng đạo Tin
Lành trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay.
1.2.3. Nhiệm vụ của quân đội trong tham gia đấu tranh chống hoạt động
của các thế lực thù địch lợi dụng đạo Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay
Hiện nay, cũng như nhiều năm tới âm mưu của các thế lực thù địch đối với
Việt Nam và Tây Nguyên vẫn không thay đổi. Thủ đoạn chống phá của chúng
ngày càng tinh vi hơn, xảo quyệt và nguy hiểm hơn. Đấu tranh chống hoạt động
lợi dụng Đạo Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên, là cuộc đấu tranh lâu dài, phức
tạp. Nội dung của cuộc đấu tranh này diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế –
chính trị; văn hoá- xã hội; an ninh- quốc phòng. Quân đội tham gia đấu tranh
chống hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng đạo Tin Lành trên địa bàn Tây
Nguyên có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Trực tiếp vận động, tổ chức quần chúng đấu tranh chính trị vạch trần âm
mưu thủ đoạn lợi dụng đạo Tin Lành của các thế lực thù địch.
Các đội công tác cơ sở, các cơ quan chính trị của Quân đội, cán bộ, chiến sỹ
làm công tác dân vận, trực tiếp tuyên truyền quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng để nâng cao giác ngộ chính trị tạo sự nhất trí chính trị - tinh thần trong nhân
dân, làm cho đồng bào tín đồ Tin Lành vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi
mới do Đảng ta lãnh đạo. Phổ biến, giáo dục pháp luật, giúp đồng bào hiểu đúng và
làm tròn nghĩa vụ công dân. Động viên nhân dân thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ
sở, tham gia các hoạt động tôn giáo đúng pháp luật, thực hiện bình “sống và làm
việc theo hiến pháp và pháp luật”. Tổ chức đồng bào tín đồ Tin Lành đấu tranh
Đứng chân trên địa bàn đặc biệt quan trọng của Tổ quốc, các đơn vị
quân đội phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và tham gia xây dựng cơ sở chính
trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số vững mạnh. Trước hết là tham gia xây
dựng hệ thống chính trị, giúp đỡ chính quyền các địa phương xây dựng, nâng
cao chất lượng, hiệu quả công tác của tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn
thể quần chúng Mặt trận Tổ quốc; Hội nông dân; Hội cựu chiến binh; Hội
phụ nữ…Tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương lựa chọn nguồn bồi
dưỡng cán bộ kế cận là người dân tộc thiểu số. Xây dựng, nâng cao chất
lượng chính trị của dân quân tự vệ, dự bị động viên, bảo đảm đủ mạnh và đủ
tin cậy để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền. Cùng với chính quyền các địa
phương thực hiện tốt các phong trào xã hội “ toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá” “toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc” ở thôn, buôn, xã,
huyện có nhiều tín đồ Tin Lành là người dân tộc thiểu số. Tham mưu cho Cấp
uỷ, chính quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với các
hoạt động của Tin Lành, chỉ đạo công tác nắm tín đồ, chức sắc Tin Lành ở
những địa bàn trọng yếu về chính trị, những địa bàn có nhiều vấn đề phức tạp,
có khả năng xảy ra gây rối chính trị. Đề xuất với cấp uỷ chính quyền địa
phương giải pháp cụ thể chỉ đạo các ngành, các cơ quan chức năng, các cấp
phối hợp đấu tranh chống hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành của các thế lực thù
địch ở các địa bàn trọng điểm. Đấu tranh với những chức sắc có hoạt động vi
phạm pháp luật, những đối tượng phản động, ngoan cố quá khích, tham gia
giải quyết các “điểm nóng” về hoạt động của Tin Lành, giữ vững ổn định
chính trị – xã hội ở các vùng tín đồ Tin Lành. Quân đội phối hợp chặt chẽ với
chính quyền, với các cấp, các ngành, các địa phương trên địa bàn đóng quân
để phát động quần chúng đấu tranh chính trị vạch trần âm mưu thủ đoạn của
địch, phát huy sức mạnh đoàn kết, yêu nước trong mọi tầng lớp nhân dân, xây
dựng phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị .
- Sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.
tranh chống hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành là vấn đề còn nhiều mới mẻ quân
đội ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác này, nhưng đây là một nhiệm vụ
cấp bách lâu dài đối với các đơn vị quân đội trên địa bàn Tây Nguyên, nhằm
thực hiện thắng lợi chính sách tôn giáo của Đảng Nhà nước, xây dựng thế trận
quốc phòng- an ninh vững mạnh, chuẩn bị chiến trường tác chiến cho lực lượng
vũ trang trên địa bàn chiến lược trọng yếu của tổ quốc nếu chiến tranh bảo vệ tổ
quốc xảy ra trong tương lai.
Chương 2
THỰC TRẠNG QUÂN ĐỘI THAM GIA ĐẤU TRANH CHỐNG HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG ĐẠO TIN LÀNH
TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
2.1. Thực trạng Quân đội tham gia đấu tranh chống hoạt động của các
thế lực thù địch lợi dụng đạo Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên trong thời
gian qua
Dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ quốc phòng, các đơn vị quân đội trên địa
bàn Tây Nguyên đã tham gia có hiệu quả vào công tác đấu tranh với hoạt động
của các thế lực thù địch lợi dụng Đạo Tin Lành chống phá cách mạng và đã thu
được nhiều kết quả trên lĩnh vực này. Góp phần quan trọng vào việc tăng cường,
củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh
tế – văn hoá- xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn Tây Nguyên.
2.1.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân
* Kết quả quân đội tham gia đấu tranh chống hoạt động của các thế lực thù
địch lợi dụng đạo Tin Lành trên địa bàn Tây Nguyên trong thời gian qua
- Làm tốt công tác vận động, tổ chức quần chúng đấu tranh chính trị vạch trần
âm mưu thủ đoạn lợi dụng đạo Tin Lành của các thế lực thù địch.
Các đơn vị quân đội trên địa bàn Tây Nguyên đã quán triệt, kịp thời và tích cực
triển khai thực hiện Nghị quyết TW 8b (khoá VI) chỉ thị 137 của ĐUQS TW, Chỉ
thị 127 của TCCT về tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới, chỉ thị