BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
TRỊNH PHƯƠNG LIÊN
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ
CÁC HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ
THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
TRỊNH PHƯƠNG LIÊN
hoàn thành Luận văn này.
Tôi xin chân trọng gửi lời cảm ơn đến Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Quý
thầy cô Khoa Kế toán và QTKD, Bộ môn Maketing đã giúp đỡ tôi hoàn thành quá
trình học tập và thực hiện Luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn Các đồng chí lãnh đạo, cán bộ công chức thuế, các
đồng nghiệp công tác tại chi cục thuế Thị xã Từ Sơn, các ban ngành địa phương cùng
với các hộ kinh doanh trên địa bàn huyện đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và cung
cấp thông tin cần thiết cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn
thành chương trình học tập và thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn./.
Hà Nội, tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Trịnh Phương Liên
iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
3
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ HỘ KINH
4
DOANH CÁ THỂ
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể
4
2.1.1 Khái niệm và vai trò của thuế
4
2.1.2 Những nội dung cơ bản về quản lý thuế
39
2.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan
43
2.2.4 Bài học kinh nghiệm trong quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá
thể trên địa bàn Thị xã Từ Sơn
45
III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
47
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
47
3.1.1 Giới thiệu về Chi cục Thuế Thị xã Từ Sơn
47
3.1.2 Giới thiệu khái quát về Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
56
3.2 Phương pháp nghiên cứu
68
4.1.3 Cấp mã số thuế, quản lý danh bạ hộ kinh doanh
71
4.1.4 Tính thuế và thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
72
4.1.5 Theo dõi và đôn đốc thu nợ đọng thuế
82
4.1.6 Kiểm tra hoạt động thu thuế
86
4.1.7 Đánh giá công tác quản lý thu thuế của chi cục qua điều tra các nhóm hộ
88
4.2 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới quản lý thu thuế hộ KDCT
97
4.2.1 Yếu tố thuộc về môi trường quản lý thuế
97
108
5.2 Kiến nghị
109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
111
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Tỷ lệ thu nhập chịu thuế ấn định
33
2.2
Tình hình hộ kinh doanh cá thể trên địa bànThị xã Từ Sơn từ năm 2012
đến 2014
70
4.2
Tình hình cấp mã số thuế hộ kinh doanh tại Chi cục Thuế Thị xã Từ Sơn
71
4.3
Doanh thu và mức thuế khoán đối với hộ kinh doanh cá thể
73
4.4
Kết quả điều tra doanh thu tính thuế năm 2014
74
4.5
Doanh thu và mức thuế khoán bình quân của hộ kinh doanh năm 2014
theo ngành nghề KD
4.6.
4.11 Tổng hợp kết quả thu nợ đọng thuế hộ kinh doanh cá thể
85
4.12 Kết quả kiểm tra hộ nghỉ kinh doanh
87
4.13 Kết quả đăng ký kinh doanh của các hộ điều tra
89
4.14 Tỷ lệ các nhóm hộ đánh giá về việc tính và thu thuế của chi cục
90
4.15 Chênh lệch giữa doanh số bình quân/tháng theo điều tra và kê khai
93
4.16 Ý kiến đánh giá của hộ về tình trạng nợ đọng và kiểm tra thuế
95
vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Số sơ đồ
GTGT
: Giá trị gia tăng
KBNN
: Kho bạc Nhà nước
MB
: Môn bài
NSNN
: Ngân sách Nhà nước
NQD
: Ngoài quốc doanh
TNCN
: Thu nhập cá nhân
TNDN
: Thu nhập doanh nghiệp
TTĐB
THNVDT
: Tổng hợp – Ngiệp vụ - Dự toán
TTHT NNT
: Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
KK-KTT
: Kê khai kế toán thuế
CCNT
: Cưỡng chế nợ thuế
KD
: Kinh doanh
ix
I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời - phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà
nước. Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan trọng để
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Có thể thấy
rằng thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước. Song để biện pháp đó đạt
Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế trên địa bàn Thị Xã
Từ Sơn sẽ là một cơ sở thực tiễn tốt để đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thị xã.
Xuất phát từ thực tế cũng như tính cấp thiết của việc kiểm soát nguồn thu từ các
hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn, tôi lựa chọn đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý
thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
để làm luận văn thạc sĩ của mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng tình hình quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá
thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp nhằm tăng
cường công tác quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế
Thị Xã Từ Sơn trong những năm tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế và quản lý thu
thuế từ các hộ kinh doanh cá thể.
- Phản ánh và đánh giá thực trạng quản lý thu thuế đối với các hộ kinh doanh
cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn .
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu thuế đối với
các hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn trong những năm tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý thu thuế đối với các hộ kinh
doanh cá thể tại Chi cục thuế Thị Xã Từ Sơn
2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước. Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính
trị buộc người dân phải đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là
thuế. Như vậy thuế luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước.
Ở nước ta, cho đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo
từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học 1998) thuế là khoản tiền hay hiện vật mà
người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp...
buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định.
Những khái niệm về thuế nêu trên mới chỉ nhấn mạnh một chiều theo quan
niệm của từng gốc độ khác nhau, do đó chưa thật sự đầy đủ và chính xác được bản
chất của thuế. Mặc dù cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về thuế
nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì
định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau:
4
Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ
giữa Nhà nước với các pháp nhân và các cá thể, không mang tính hoàn trả trực tiếp.
Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách
khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt
buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước.
Thứ ba, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản
thuế đã được Pháp luật quy định.
Qua phân tích các những quan niệm về thuế của thế giới và của nước ta như đã
trình bày ở trên, chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa tổng quan về thuế như sau:
"Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà
nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn
trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội".
2.1.1.2 Vai trò của thuế
- Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng
chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định.
- Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm
bảo công bằng xã hội
Kinh tế thị trường làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này có
những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế - xã hội. Do vậy, cần phải có
những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hoá này, làm
lành mạnh xã hội.
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người
nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng. Thông qua thuế
thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và
thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội. Một khía
cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh
vào tiêu dùng: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng.
Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người
nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt. Trái lại những mặt hàng
xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người
giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu
nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của
nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước.
6
- Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng
lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn
định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì Nhà nước dùng thuế để điều chỉnh
bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích
đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn. Đồng thời tăng thuế đối
khả thi, hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường (Tổng cục thuế, 2011).
2.1.2 Những nội dung cơ bản về quản lý thuế
2.1.2.1 Khái niệm
Quản lý thuế là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và có nhiều
cách quan niệm khác nhau. Mỗi quan niệm đều nhìn nhận quản lý thuế ở một góc
độ, phạm vi khác nhau và với mục đích, ý nghĩa thực tiễn khác nhau. Dù vậy theo
chúng tôi, các quan niệm về quản lý thuế đều có các điểm chung là:
+ Đều đề cập đến các nội dung của khâu hành pháp về thuế,
+ Đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên người bị quản lý bằng
các phương thức, phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định. Chủ thể quản lý
là Nhà nước (mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp). Người bị quản lý là các tổ chức
và cá nhân có nghĩa vụ về thuế. Mục đích quản lý là để người nộp thuế và các người
có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình. Phương tiện
quản lý là sử dụng các qui định về đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế với bộ máy,
đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất cần thiết để quản lý.
Như vậy, ta có thể định nghĩa khái quát về quản lý thuế như sau: "Quản lý
thuế là việc nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện pháp nhằm thực
hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục đích đề ra trong việc
xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong từng thời kỳ." (Luật quản
lý thuế số 78/2006/QH11, 2006).
2.1.2.2 Nội dung quản lý thuế
Theo quy định của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 thì nội
dung quản lý thuế bao gồm 8 nội dung và được phân thành 3 nhóm, cụ thể như sau:
Nhóm 1: Các thủ tục hành chính thuế, đảm bảo các điều kiện cho người nộp
thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung:
Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm
thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt.
8
+ Thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế điện tử
9
+ Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê
+ Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hằng năm theo mức quy định
2.1.2.4 Vai trò của quản lý thuế
+ Giúp nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của người nộp thuế. Với vai trò
kiểm tra, giám sát, vai trò của nhà nước về quản lý thuế định hướng, sửa chữa những
sai sót trong quá trình thực hiện các luật thuế dù vô tình hay cố ý sai phạm, đều phải
duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế.
+ Giúp nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế.
Một mặt, đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót. Mặt
khác, xuất phát từ lợi ích cá nhân của những con người trong bộ máy quản lý thu
thuế của nhà nước hám lợi sẵn sàng bắt tay với người nộp thuế nhằm giúp họ trốn
thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu cho ngân sách, hoặc cố tình gây
khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh.
+ Hướng dẫn người nộp thuế, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục sẽ
nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành các luật thuế, đảm bảo việc thực hiện
các luật thuế được nghiêm chỉnh.
2.1.3 Hộ kinh doanh cá thể và quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
a) Khái niệm hộ kinh doanh cá thể
- Theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký kinh doanh
thì “Hộ kinh doanh” được gọi là “Hộ kinh doanh cá thể” và được định nghĩa như
sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người
hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử
dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.”
- Hiện nay theo quy trình 1688/QĐ-TCT ngày 06/10/2014 V/v ban hành quy
nền kinh tế. Có một tiềm năng to lớn về trí tuệ, sáng kiến, được phân bổ rộng rãi ở mọi
nơi, mọi lúc. Có kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất và những bí quyết sản xuất
truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ, qua đó cho phép phát huy những ngành
nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và xuất khẩu.
Kinh tế hộ cá thể đã tận dụng được lực lượng lao động dồi dào, giải quyết
được công ăn việc làm cho nhiều lao động dư thừa, thu hút nhiều thành phần xã hội
tham gia. Do đó hoạt động của thành phần kinh tế này ngày càng trở nên quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân.
11
c)Vị trí của hộ kinh tế cá thể
Sự tồn tại nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu trong nền kinh tế là một
tất yếu khách quan, bởi vì nền kinh tế ở các nước chậm và đang phát triển là nền
kinh tế có lực lượng sản xuất kém phát triển với nhiều trình độ khác nhau. Tương
ứng với các trình độ đó là các hình thức sở hữu, tổ chức sản xuất thích hợp. Chính
việc thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế, từ đó khai thác
tốt các tiềm năng nhằm phát triển lực lượng sản xuất cho đất nước.
Từ cơ sở lý luận và thực trạng của nền kinh tế nước ta, đại hội Đảng toàn
Quốc lần thứ VII đã khẳng định "Thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kì quá độ ở
nước ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân
và kinh tế tư bản Nhà nước".
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận thành phần kinh tế cá thể tồn tại
độc lập trong nền kinh tế, với chủ trương khuyến khích và tạo điều kiện cho nền
kinh tế cá thể phát triển bình đẳng với các thành phần kinh tế khác.
d)Vai trò của hộ kinh tế cá thể
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, thành phần kinh tế Nhà nước giữ
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thì kinh tế cá thể giữ vai trò hết sức quan trọng và
chiếm một vị trí nhất định trong nền kinh tế quốc dân.
của Nhà nước đối với nền kinh tế, động viên được các nguồn lực, thúc đẩy phát
triển nhanh sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, đầu tư góp phần ổn định và nâng cao
đời sống nhân dân. Hệ thống chính sách thuế đã đảm bảo huy động đầy đủ các
nguồn thu vào NSNN, đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của Nhà nước và dành
một phần cho tích lũy phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đối với hộ kinh doanh cá thể hệ thống chính sách thuế áp dụng chung các
mức thuế suất đối với cùng ngành hàng, nhóm mặt hàng gồm các sắc thuế cơ bản là:
Thuế Môn bài, Thuế GTGT, thuế TNCN, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài
nguyên, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế TTĐB. Trong đó các sắc thuế có tác
động nhiều nhất đến các hộ kinh doanh đó là thuế GTGT và thuế TNCN (thay thế
thuế TNDN từ ngày 01/01/2009).
Đối với tất cả các thành phần kinh tế nhất là hộ kinh doanh phát triển, Nhà
nước đã và đang có nhiều biện pháp cải tiến hệ thống và cách thức thu thuế nhằm
một mặt thu đủ, thu đúng người cần thu, hợp lý hoá và giảm thuế suất (chẳng hạn
thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân), tăng diện thu, nuôi dưỡng nguồn thu về
lâu dài, mặt khác đảm bảo việc thu thuế minh bạch công khai, dân chủ.
13
b) Những đặc điểm chủ yếu của quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Đặc điểm cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh dịch vụ cá thể là
hướng tới sự minh bạch, rõ ràng, đơn giản, dễ tính toán trong việc thực hiện
chính sách thuế. Thông qua các chính sách thuế như ưu đãi thuế, miễn, giảm
thuế, khuyến khích người nộp thuế tích cực đầu tư, đổi mới công nghệ, ứng dụng
khoa học kỹ thuật mở rộng và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển .
Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm của hộ kinh doanh dịch vụ cá thể là giản
đơn, gọn nhẹ, trình độ quản lý thấp, đại bộ phận hộ kinh doanh cá thể không sử
dụng hóa đơn mua, bán hàng, đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật thuế của các hộ
kinh doanh còn thấp điều này dễ dẫn đến gian lận trong việc kê khai thuế. Kể từ
Do đặc điểm của kinh tế cá thể là tính tư hữu về tư liệu sản xuất người chủ
kinh doanh tự quyết định từ quy trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ
sản phẩm. Vì vậy, hoạt động của kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm
nguồn lực, vốn, sức lao động, tự lo về phương án sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Kinh
tế cá thể rất linh hoạt, nhạy bén trong kinh doanh, tuy nhiên nó cũng bộc lộ nhiều
hạn chế gây lộn xộn cho thị trường như: Kinh doanh trái phép, làm hàng giả, buôn
lậu, trốn thuế nhằm thu lợi nhuận cao.
Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vai trò chi phối nền kinh tế,
thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói
chung, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng càng ngày càng phát triển và chiếm một vị trí
xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân. Khu vực kinh tế này không những chiếm một
khối lượng sản phẩm tương đối trong tổng sản phẩm xã hội, đồng thời còn thu hút một
lực lượng lao động lớn mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo hết. Kinh tế cá
thể đã tận dụng được lực lượng dồi dào, nhất là lao động có tay nghề cao, đồng thời
giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động dư thừa, tạo thu nhập và từng
bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư. Phương pháp kinh doanh
của hộ cá thể cũng rất phong phú và đa dạng, thu hút nhiều thành phần xã hội tham
gia, do đó trình độ chuyên môn, tay nghề của họ cũng rất đa dạng.
Hoạt động kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và hoạt động kinh tế cá thể
nói riêng là hoạt động tồn tại khách quan do đòi hỏi của sản xuất và đời sống xã hội.
Với quan điểm đó hoạt động của thành phần kinh tế này ngày càng trở nên quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân cả trong hiện tại và trong tương lai.
Do đó việc quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể có vai trò rất quan
trọng trong công tác quản lý thuế nói riêng và những ảnh hưởng của thành phần
kinh tế này đối với xã hội nói chung, một mặt vừa động viên được nguồn thu vào
15