GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI
VỚI DNNN TẠI CỤC THUẾ HÀ TÂY
I. QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ THUẾ TNDN ĐỐI VỚI DNNN
1. Quan điểm
Trong một thời gian khá dài trong tương lai, nước ta tất yếu vẫn tồn tại nền
kinh tế nhiều thành phần. Hơn nữa, Việt Nam lại đang trong thời kỳ quá độ nên
CNXH thì DNNN nói riêng và thành phần kinh tế nhà nước nói chung phải giữ vai
trò chủ đạo, mang tính định hướng cho các thành phần kinh tế khác để nền kinh tế
không bị chệch hướng XHCN. Quan điểm và chủ trương đúng đắn đó đã xuyên
suốt trong toàn bộ đường lối đổi mới kinh tế nhà nước trong 18 năm qua, mỗi một
thời kỳ quan điểm đó lại thể hiện một cách khác nhau để phù hợp với thực tế. Đặc
biệt từ đại hội VIII vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được xác định rõ ràng, đầy
đủ hơn “ tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai
trò chủ đạo, làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã
hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm
lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo
nền tảng cho chế độ xã hội mới”.
DNNNgiữ vai trò chủ đạo không có nghĩa số lượng phải lớn và ngành nghề
nào cũng tham gia, mà nó chỉ sản xuất kinh doanh một số mặt hàng then chốt, nhà
nước không thể giao cho tổ chức tư nhân sản xuất, những lĩnh vực mà DNNQD
không thể làm được và không muốn làm. Xác định đúng vai trò của DNNN cũng
phải tuân theo những quy luật kinh tế và luật pháp của nhà nước. Các cơ quan nhà
nước, các tổ chức khác cũng phải coi DNNN cũng như các doanh nghiệp khác.
không nên có tư tưởng coi trọng hơn ưu tiên hơn có như vậy doanh nghiệp nhà
nước mới thực sự phát triển được.
Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh
nghiệp nhà nước nói riêng không những đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà
nước mà đây là hình thức quản lý gián tiếp của nhà nước đối với doanh nghiệp
thay bằng mệnh lệnh hành chính(như giao khoán) nhờ có sự quản lý đó doanh
nghiệp nhà nước có hiệu quả hơn chánh được hiện tượng lỗ thật , lãi giả , phổ biến
hầu hết trong các doanh trước kia.
phát triển công nghiệp nhỏ ở nông thôn, đặc biệt là công nghiệp chế biến nông,
lâm, hải sản. Nên đầu tư vốn ( với tư cách là một cổ đông) cùng với việc huy động
vốn nhàn rỗi trong dân cư nông thôn để phát triển nông nghiệp, nông thôn đang và
sẽ là vấn đề đáng quan tâm hàng đầu.
+ Ngoài ba hường nêu trên, cần kiên quyết thực hiện nhanh quá trình chuyển
đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp nhà nứơc, tức là đẩy nhanh việc cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước cũng như việc sắp xếp lại các doanh nghiệp theo hướng
sáp nhập, giải thể, bán, khoán, cho thuê.
2.2. Định hướng trong quản lý thu thuế TNDN.
• Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức Cục thuế. Đồng thời việc đào tạo, đào tạo
lại, theo phương châm tự học tập cơ quan tổ chức học tập và phối hợp đào tạo để
nâng cao trình độ về chình trị, nghiệp vụ tin học, ngoại ngữ, tự rèn luyện để nâng
cao đạo đức và văn hoá nghề thuế. Tăng cường kỷ cương kỷ luật đi đôi với chống
quan liêu sách nhiễu trong ngành thuế. Phát huy những thành tích đã đạt được,
khắc phục khó khăn.
• Nâng cao nhận thức và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính thuế
gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong các quy định giữa cơ quan thuế với
các tổ chức, cá nhân kinh doanh và nhân dân. Phối hợp chặt chẽ trong hệ thống
thuế và xây dựng quy chế phối hợp với các cơ quan trong quản lý thu thuế. Tạo
điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng cường
công tác tuyên truyền, tư vấn và hỗ trợ các đối tượng nộp thuế nhằm đưa chính
sách pháp luật thuế của nhà nước vào cuộc sống. Thúc đẩy, phát huy sáng kiến, cải
tiến lề lối làm việc để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thuế thực hiện tốt các
mục tiêu Tổng cục thuế đề ra.
• Xây dụng và thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm
theo hướng tích cực phòng ngừa, quản lý rủi ro đối với nội bộ ngành và các đối
tượng nộp thuế. Tăng cường quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu nợ thuế, từng bước
hình thành tổ chức thu nợ và cưỡng chế thuế.
• Tiếp tục phát huy và nâng cao truyền thồng đoàn kết nội bộ, phát huy mạnh mẽ
cơ chế dân chủ trong hoạt động cơ quan, tạo động lực mới trong thực hiện khoán
quan thuế đã được giảm bớt, đối tượng nộp thuế tự giác hơn, chủ động hơn trong
việc thực hiện nghĩa vụ của mình và điều quan trọng là thiết lập được niềm tin giữa
cơ quan thuế và người nộp thuế trong quản lý.
Thứ hai: tạo điều kiện cho cơ quan thuế tăng cường trách nhiệm kiểm tra,
thanh tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế, cũng như giúp giải quyết những
khó khăn mà đối tượng nộp thuế gặp phải qua đó thực hiện vai trò quản lý nhà
nước đối với quá trình hành thu. Yêu cầu của cải chách hành chính nói chung và
cải cách hành chính thuế nói riêng là sự tách bạch rõ ràng các nhiệm vụ thuộc chức
năng quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng với các hoạt động trực tiếp của
đối tượng bị quản lý, mọi hoạt động quản lý phải công khai, minh bạch, khách
quan và phải được pháp luật quy định. Khi đối tượng nộp thuế theo quy định của
pháp luật thì việc thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát của cơ quan thuế sẽ
khách quan hơn và minh bạch hơn.
Thứ ba: sự thay đổi quy trình nộp thuế cũng tạo điều kiên và đòi hỏi sắp xếp
lại tổ chức trong các cơ quan thuế để đáp ứng cho yêu cầu quản lý thuế trong điều
kiện hiện nay. Qua đó sẽ có điều kiện tăng cường lực lượng thanh tra thuế cả về số
lượng và chất lượng. Tổ chức thêm bộ phận tư vấn và hỗ trợ đối tượng nộp thuế,
sắp xếp lại về mặt tổ chức và quy định lại nhiệm vụ cho các bộ phận trong cơ quan
thuế… Điều quan trọng là với sự thay đổi này hoạt động quản lý của cơ quan thuế
có hiệu quả hơn, người nộp thuế nhận thức được sự phục vụ của cơ quan thuế, thấy
được sự phục vụ của cơ quan thuế, thấy được sự rõ ràng, đơn giản và thuận tiên
trong khi thực hiện nghĩa vụ thuế của mình và họ tự giác hơn.
Ở Cục thuế Hà Tây, trong năm 2005 quy trình nay mới chỉ áp dụng thí điểm ở
một số đối tượng, chúng ta nên mở rộng đối tượng áp, đặc biệt là các DNNN. Cán
bộ thuế có trách nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp cách thức kê khai, tự nộp
thuế. Quy trình này thực sự tốt khi nó kết hợp với công tác tuyên truyền – hỗ trợ
đối tượng nộp thuế và công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế về việc thực
hiện quy trình. Đây là giải pháp tốt nhất để giảm nhẹ công việc của cán bộ thuế, và
nâng cao tính tự lập cho doanh nghiệp.
2. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và cung cấp dịch vụ thuế
bằng văn bản cho 85 đối tượng. Tổ chức tập huấn về các luật thuế mới sửa đổi, bổ
xung cho các doanh nghiêp. Tuy nhiên, đó chỉ là công tác tư vấn trong môi trường
đang thực hiện cơ chế “ thông báo thuế”. Để chuẩn bị đầy đủ điều kiện về dịch vụ
hỗ trợ người nộp thuế, cần tìm ra một mô hình tư vấn thuế phù hợp trong điều kiện
hiện nay. Theo đó, cần giải quyết được các vấn đề cơ bản như việc tư vấn thuế nên
do cơ quan thuế hay do các tổ chức kinh doanh thực hiện, nên tư vấn trực tiếp hay
gián tiếp, có nên thu phí tư vấn hay không, nội dung tư vấn thuế gồm những gì…
Lựa chọn mô hình tổ chức tư vấn thuế: có hai quan điểm về vấn đề này. Loại
quan điểm thứ nhất cho rằng, cơ quan thuế là người thực hiện nhiệm vụ quản lý
thuế cho Nhà nước, do vậy việc giúp các đối tượng nộp thuế, hiểu và thực hiện
nghĩa vụ thuế của mình cũng chính là một phần nhiệm vụ của cơ quan thuế. Vì thế,
đương nhiên cơ quan thuế chứ không phải ai khác là người cung cấp dịch vụ thuế.
Những người theo quan điểm thứ hai cho rằng, trong nền kinh tế thị trường tư vấn
thuế là một loại dịch vụ tài chính, người cần tư vấn được lợi về thời gian và công
sức- không phải mất công nghiên cứu tài liệu để thực hiện nghĩa vụ thuế cho Nhà
nước nên sẵn sàng trả tiền để được tư vấn( tức là xuất hiện nhu cầu có khả năng
thanh toán của thị trường tư vấn về thuế). Do vậy, việc tư vấn thuế nên do các
doanh nghiệp dịch vụ tư vấn tài chính, thuế thực hiện.
Thiết nghĩ, mỗi loại quan điểm xem xét tư vấn thuế dưới một góc độ khác
nhau. Loại quan điểm thứ nhất, xem xét tư vấn thuế dưới góc độ là một phần việc
trong quy trình quản lý thu thuế. Loại quan điểm thứ hai xem xét tư vấn thuế dưới
góc độ nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp: để tiến hành kinh doanh có lợi
nhất, cơ sở kinh doanh cần tư vấn thuế như một loại dịch vụ để nâng cao hiệu quả
kinh doanh. Với mỗi loại quan điểm và mô hình tổ chức thực hiện tương ứng sẽ
phát huy hiệu quả trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định. Chẳng hạn như, đối
với các cơ sở có quy mô kinhdoanh nhỏ, trình độ hiểu biết pháp luật nói chung còn
hạn chế hoặc chưa hiểu rõ về nội dung các quy định của luật thuế…thì rõ ràng họ
thích chọn việc tư vấn miễn phí của cơ quan thuế hơn là phải đi thuê tư vấn ở các
doanh nghiệp làm dịch vụ tư vấn tài chính, vì mục tiều của họ chỉ là làm sao khai
đúng tờ khai thuế và tiến hành đúng các trình tự, thủ tục về đăng ký, kê khai, nộp
làm công tác tư vấn mà lúc thì vẫn ùn tắc, ‘lúc lại ngồi chơi xơi nước” vì nhu cầu
đến tư vấn thuế thường phân bổ không đều. Vì thế, hình thức tư vấn này phù hợp
với một số đối tượng nộp thuế có nhu cầu rất cụ thể đặc thù hoặc tư vấn lần đầu…
Nó vẫn cần được duy trì như một hình thức không thể thiếu, song không nên lạm
dụng mà cần chuyển các đối tượng cần tư vấn sang các hình thức tư vấn khác phù
hợp và hiệu quả hơn.
Tư vấn theo nhóm đối tượng: đây là hình thức mà cán bộ cần giải thích hướng
dẫn hoặc tư vấn cho nhóm đối tượng có nhu cầu tư vấn giống nhau. Tất nhiên, đây
cũng vẫn là một dạng tư vấn có tính chất trực tiếp, song điểm khác với tư vấn mặt
đối mặt là giao diện của tư vấn theo nhóm đối tượng rộng hơn. So với hình thức tư
vấn trước, tư vấn theo nhóm đối tượng khắc phục được nhược điểm là không cần
nhiều cán bộ và giảm bớt các ùn tắc ở các phòng tư vấn. Song, có nhược điểm là
chỉ giải quyết tốt các vấn đề chung, còn các vấn đề cụ thể thì giải quyết được ở một
mức độ nhất định. Hình thức này phù hợp với việc triển khai một chính sách chế
độ, quy định mới hoặc hướng dẫn nội dung nộp thuế cho các đối tượng nộp thuế
mới tiến hành kinh doanh…