BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THẮM
GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP CHO NÔNG HỘ
CÓ PHỤ NỮ LÀ CHỦ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THẮM
GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP CHO NÔNG HỘ
CÓ PHỤ NỮ LÀ CHỦ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LƯƠNG TÀI TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02
Trân trọng.
Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thắm
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục bảng
vi
Danh mục biểu đồ
vii
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG THU NHẬP CHO
NÔNG HỘ CÓ PHỤ NỮ LÀ CHỦ HỘ
4
2.1
Cơ sở lý luận
4
2.1.1
Một số khái niệm cơ bản
4
2.1.2
Cách tính thu nhập của nông hộ
9
2.1.3
Quan điểm tăng thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ
11
2.1.4
2.2.3
Một số công trình nghiên cứu có liên quan
31
III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
34
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
34
3.1.1
Đặc điểm tự nhiên
34
3.1.2
Điều kiện kinh tế- xã hội
36
51
IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
52
4.1
Thực trạng thu nhập của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn
huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh
52
4.1.1
Đặc điểm cơ bản của nông hộ có phụ nữ là chủ hộ
52
4.1.2
Hình thức tổ chức hoạt động sản xuất của các nông hộ điều tra
55
4.1.3
Các yếu tố bên ngoài
78
4.2.3
Yếu tố khác
83
4.2.4
Đánh giá chung
84
4.3
Một số giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là của hộ trên
địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh
86
4.3.1
Định hướng nâng cao thu nhập cho nông hộ ở huyện Lương Tài
86
4.3.2
v
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
2.1
Tên bảng
Trang
Thu nhập của người dân nông thôn Trung Quốc từ các nguồn khác
nhau giai đoạn 1997 - 2000
19
2.2
Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở nông thôn
25
2.3
Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu nông thôn chia theo 5
nhóm thu nhập của thời kỳ 2008 -2012
26
3.6
Số lượng mẫu điều tra
49
4.1
Thông tin cơ bản về chủ hộ điều tra là nữ giới
52
4.2
Thông tin cơ bản về nông hộ có chủ hộ là nữ
54
4.3
Tổng thu từ các hoạt động của nông hộ
58
4.4
Chi phí sản xuất bình quân 1 nông hộ có phụ nữ làm chủ hộ
60
4.10
Giá trị máy móc thiết bị, tư liệu sản xuất của hộ điều tra
76
vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
4.1
Cơ cấu nguồn thu nhập của các nông hộ có phụ nữ là chủ hộ
66
4.2
Thu nhập bình quân trên nhân khẩu hộ một tháng
66
4.3
Bộ luật dân sự
BQ
:
Bình quân
BVTV
:
Bảo vệ thực vật
CC
:
Cơ cấu
CH
:
Chủ hộ
CN
:
GTTLSX
:
Giá trị sản xuất tư liệu sản xuất
GTSX
:
Giá trị sản xuất
HĐSXKD
:
Hoạt động sản xuất kinh doanh
HGĐ
Tổng sản phẩm nội địa (viết tắt của cụm từ Gross
Domestic Product)
Hộ gia đình
:
HTCT
:
Liên hiệp phụ nữ
LĐN
:
Lao động nữ
LĐ NN
:
Lao động nông nghiệp
LLSX
:
Lực lượng sản xuất
NDT
:
Nhân dân tệ
viii
RAT
:
Rau an toàn
SL
:
Số lượng
SX
:
Sản xuất
SXKD
:
Sản xuất kinh doanh
SXNN
:
Sản xuất nông nghiệp
VietGap
:
XH
:
Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (viết tắt của
cụm từ Vietnamese Good Agricultural Practices)
Xã hội
ix
I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Nước ta có khoảng 80% dân số tập trung chủ yếu ở nông thôn thì phụ nữ
chiếm tới 51,34%, trong sản xuất nông nghiệp lao động chiếm 72%. Với truyền
thống cần cù, chịu khó, nỗ lực vươn lên, phụ nữ đã tích cực học tập, ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, chăn nuôi. Phụ nữ cũng là một lực lượng đông
đảo tham gia thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi mang lại
năng suất, chất lượng. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh đã xuất hiện nhiều điển
hình phụ nữ làm kinh tế giỏi... Người phụ nữ đang ngày càng khẳng định được vị trí
của mình trong việc phát triển kinh tế gia đình và đẩy mạnh hoạt động xã hội. Phụ
nữ chính là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình. Theo kết quả
của một số nghiên cứu, hiện nay trên thế giới, 1/4 số hộ gia đình do nữ làm chủ hộ
và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ (Đỗ Thị
Bình, Trần Thị Vân Anh, 2003). Tuy nhiên thực tế hiện nay ở nông thôn vẫn còn số
dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người nhưng hạn chế không nhỏ trong việc phát
huy nguồn nhân lực nữ là trình độ học vấn thấp, không được tiếp xúc với những kỹ
thuật tiến bộ. Vài năm trở lại đây, nhiều cơ chế chính sách được mở rộng, nhiều
chương trình dự án được phát triển trên địa bàn huyện như: Chuyển đổi cơ cấu cây
trồng vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế mô hình nuôi trồng thủy sản trên đất trũng,
quy hoạch sử dụng đất, chuyển đổi ruộng từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, kiên cố hóa
kênh mương, phối hợp tổ chức kinh tế - xã hội trong hoạt động khuyến nông, khuyến
khích đầu tư phát triển nhiều doanh nghiệp tư nhân,… Nhưng do một số nguyên nhân
khách quan và chủ quan, thu nhập bình quân đầu người một năm của nông hộ có phụ
nữ là chủ còn thấp, chỉ có 14,7 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo trong các nông hộ có chủ là
nữ là 15,8%, tỷ lệ thiếu việc làm cao (Nguyễn Ngọc Vinh, 2004).
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả xin chọn " Giải pháp tăng thu nhập cho
nông hộ có phụ nữ là chủ hộ trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh " làm
đề tài nghiên cứu của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng thu nhập của nông hộ có chủ là nữ, để tìm ra những yếu
tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới thu nhập của nông hộ có chủ là nữ, từ đó đề
2
xuất một số giải pháp tăng thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ trên địa bàn huyện
Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tăng thu
nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ.
Thứ hai, đánh giá thực trạng thu nhập của nông hộ có có phụ nữ là chủ hộ
trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây; phát hiện
những nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng thu nhập cho nông hộ có phụ nữ là chủ hộ
Nông hộ (hộ nông dân) là những hộ sống ở nông thôn, thu nhập chính từ các
hoạt động sản xuất trong nông hộ và ngoài nông hộ. Thu từ sản xuất trong nông hộ
bao gồm các ngành sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu từ ngoài nông hộ
bao gồm: tiền đi làm thuê, trợ cấp, tiền gửi về, tiền lương hưu, quà biếu,...
Theo Ellis (1988) định nghĩa "Nông hộ (hộ nông dân) là các hộ gia đình làm
nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu
sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn,
nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng
hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao".
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà
khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình
thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" (Lê Đình Thắng,1993).
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt
động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001) trong phân tích điều tra nông
thôn năm 2001 cho rằng: "Nông hộ (hộ nông nghiệp) là những hộ có toàn bộ hoặc
50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng
trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ
thực vật,...) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp".
Nghiên cứu những khái niệm trên đây về nông hộ của các tác giả và theo
nhận thức của cá nhân tôi, tôi cho rằng:
- Nông hộ là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là
nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài hoạt
động nông nghiệp, các nông hộ còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp (như
4
tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ,...) ở các mức độ khác nhau
- Nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một
định về đăng ký, quản lý cư trú. Trường hợp không có người từ đủ mười tám tuổi
trở lên hoặc có người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực
hành vi dân sự thì được cử một người trong hộ làm chủ hộ.
2.1.1.3. Khái niệm chủ hộ là nữ
Theo quan điểm của nghiên cứu này, chủ hộ là nữ là những người phụ nữ
đủ 18 tuổi trở lên, trực tiếp tổ chức, chỉ huy sản xuất kinh tế và đời sống của các
thành viên trong hộ. Các nữ chủ hộ này là người đóng vai trò chính trong việc ra
quyết định về mọi lĩnh vực của các thành viên trong hộ và đảm bảo thu nhập kinh tế
và tăng thu nhập kinh tế của hộ. Đồng thời là người được các thành viên trong hộ
thừa nhận và suy tôn như là người đứng đầu, trụ cột của hộ mà lợi ích kinh tế xã hội
của các thành viên đó phụ thuộc vào. Họ là người có vai trò điều hành, quản lý gia
đình, giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ.
2.1.1.4. Khái niệm về nông hộ có chủ là nữ
Rút ra từ các quan điểm trên, áp dụng đối với trường hợp nông hộ có chủ là
nữ, có thể nói, nông hộ có chủ là phụ nữ mang đầy đủ các đặc điểm của hai khái
niệm "nông hộ" và "chủ hộ". Tuy nhiên, có sự khác biệt đó là chủ hộ được đề cập
đến ở đây là người phụ nữ nông thôn. Như vậy, có thể nói nông hộ có chủ là phụ nữ
là những hộ có chủ là nữ sống ở nông thôn, thu nhập chính từ các hoạt động sản
xuất nông nghiệp, họ tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng
chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, hay nói cách khác, là những hộ có
chủ là nữ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ
nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,...) và thông thường nguồn sống chính của
hộ dựa vào nông nghiệp. Trong đó, người phụ nữ chính là người chủ trong gia đình,
có vai trò chính trong việc tổ chức, chỉ huy sản xuất kinh tế và đời sống, ra quyết
định về mọi lĩnh vực của các thành viên trong hộ và đảm bảo thu nhập kinh tế và
tăng thu nhập kinh tế của hộ.
Phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng đối với mọi hoạt động trong quản lý hộ
và việc điều hành sản xuất nhưng do phong tục tập quán, quan niệm và do nhận
nông dân như sau: Thu nhập của nông dân được tính bằng giá trị sản phẩm sau khi
trừ đi các phần: Phần sản phẩm hộ đã tiêu dùng, giá trị công lao động thuê ngoài,
chi phí đầu vào cho sản xuất và cộng giá trị tiền lao động đi làm thuê. Song ở đây
các ông lại tính giá tiền công giống nhau, điều này không đúng. Sau đó khái niệm
7
này được Allanlow nghiên cứu và bổ sung thêm với điều kiện tiền công là khác
nhau cho các loại lao động, giá cả các sản phẩm cũng khác nhau.
Quan điểm của một số nhà nghiên cứu của Việt Nam, khái niệm này còn đa
dạng và phong phú nhiều. Có người lấy giá trị sản phẩm hàng hoá để đánh giá thu
nhập của hộ nông dân. Đứng trên góc độ khác có người lấy chỉ tiêu tổng giá trị trên
một ha diện tích để phân tích đánh giá thu nhập của nông hộ (Nguyễn Văn Cúc, Minh
Hoài, 2003). Một số khác lại cho rằng thu nhập của hộ là tổng giá trị sản phẩm từ nông
nghiệp, ngành nghề, chăn nuôi, thuỷ sản... Song để đi sâu nghiên cứu ở nhiều góc độ
khác nhau về nông hộ nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam đã sử
dụng chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp để đánh giá thu nhập của nông dân. Thu nhập hỗn
hợp của hộ nông dân là phần thu được sau khi lấy tổng thu (tức là toàn bộ giá trị sản
phẩm từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ) trừ đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công
thuê ngoài và trừ chi phí khác (bao gồm thuế, khấu hao tài sản cố định...) (Nguyễn
Đình Hương, 2000). Như vậy, trong phần thu nhập của nông hộ sẽ bao hàm tiền công
lao động của chủ hộ, tiền công lao động của các thành viên và lói kinh doanh.
Rút ra từ các quan điểm trên Đỗ Kim Chung đưa ra quan điểm về thu nhập
của nông hộ như sau (dẫn theo Đỗ Kim Chung, 1997): Vẫn là thu nhập hỗn hợp song
phần chi phí mà hộ tự sản xuất ra không qua trao đổi trên thị trường là khó hạch
toán cho nên thu nhập của hộ nông dân vẫn bao gồm cả phần chi phí này. Ngoài
thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ thì nguồn thu từ các hoạt
động ngoài nông hộ chiếm tỷ lệ không nhỏ.
tính theo công thức C + V + m mà được cụ thể như sau (Đỗ Kim Chung, 1997):
a. Nội dung và phương pháp tính thu nhập cho nông hộ
❖ Nội dung: Tổng thu của hộ nông dân có được từ hoạt động sản xuất khác
nhau trong nông hộ do các thành viên cùng chung gánh vác tạo ra. Một số khác lại
cho rằng việc kiếm được từ các công việc khác ngoài nông hộ như làm thuê, lương
hưu, trợ cấp v.v.. cũng làm tăng nguồn thu cho hộ. Như vậy, tổng thu của hộ có
được từ 3 nguồn chính là thu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu nhập từ hoạt
động phi nông nghiệp và thu nhập từ các khoản thu nhập khác.
❖Phương pháp tính tổng thu nhập của hộ nông dân
Thu từ sản xuất nông nghiệp = ∑ Số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán.
Thu từ chăn nuôi = ∑Số lượng sản phẩm chính (phụ) x giá bán.
Thu từ hoạt động phi nông nghiệp = ∑ Số lượng hàng hoá x giá bán
9
Thu nhập khác = Tổng các khoản thu thực tế khác trong năm.
b. Nội dung và cách tính chi phí
❖ Nội dung: Chi phí sản xuất thể hiện bằng tiền hoặc hiện vật các yếu tố
sản xuất được đưa vào một hoặc nhiều quá trình sản xuất. Thực chất, chi phí sản
xuất bao gồm chi phí tự có của hộ (phần không phải trả) và toàn bộ phần phải chi
khác (phần phải trả) để có thể tạo ra một lượng sản phẩm tương ứng với thời kỳ một
năm. Trong đó:
Phần không phải trả tiền, đó chính là các yếu tố mà hộ giữ lại hay hộ tự có và
đưa vào quá trình sản xuất bao gồm công lao động gia đình, vật tư tự sản xuất, lãi suất
của phần vốn tự có, sản phẩm tiêu dùng trong nông hộ, khấu hao tài sản cố định.
Phần phải trả tiền, đó chính là các yếu tố mà hộ phải bỏ ra để chi trả vào
quá trình sản xuất như tiền mua sắm máy móc, mua sắm vật tư, tiền thuê lao động,
tiền trả lãi tiền vay, tiền đóng thuế.
Việc phân biệt 2 loại chi phí này rất quan trọng bởi phần chi phí tự sản xuất
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí. Song nó khó hạch toán một cách chính xác vì
nhân số tháng (năm) vay. Chi phí này cũng được tính chung cho mọi hoạt động.
c. Nội dung và phương pháp tính thu nhập
❖ Nội dung: Thu nhập của hộ nông dân là phần còn lại sau khi đã trừ hết
chi phí sản xuất. Như vậy, thu nhập của hộ nông dân bao gồm lợi nhuận kinh
doanh, tiền công của chủ hộ và các thành viên trong hộ, và các khoản thu nhập
ngoài nông hộ. Một phần thu nhập sẽ được sử dụng vào chi tiêu đời sống, sinh hoạt,
một phần dùng để đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo hay gửi tiết kiệm.
❖ Phương pháp tính thu nhập
TN của hộ = Tổng thu của hộ - Tổng chi phí SX
Tổng TN của hộ = TN từ HĐSXNN + TN từ phi NN + TN khác
2.1.3. Quan điểm tăng thu nhập cho nông hộ có chủ là nữ
Nông hộ có chủ là nữ muốn nâng cao thu nhập theo hướng phát triển nông
nghiệp hay chuyển sang phát triển ngành nghề phi nông nghiệp thì trước hết đều phải
nâng cao trình độ cho bản thân chủ hộ. Trình độ của chủ hộ bao gồm trình độ học vấn
và kỹ năng lao động. Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng lao động để
tiếp thu những tiến hộ khoa học kỳ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản
xuất, phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng thành
tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao. Điều này là rất
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài
ra còn phải có những tố chất của một người dám làm kinh doanh.
11
Ở mỗi góc độ có quan điểm về tăng thu nhập cho nông hộ là khác nhau. Cụ thể:
a. Quan điểm phát triển nông nghiệp: Mở rộng diện tích đất canh tác và nâng cao
doanh thu thu nhập ròng trên 1 đơn vị diện tích nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân.
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thiếu trong hoạt động sản xuất
nói chung và nông hộ nói riêng. Để hộ nông dân mở rộng qui mô kinh doanh nhằm
nâng cao thu nhập trước hết phải dựa vào đất, nhất là những nơi tiềm năng để mở
nhập trên 90 triệu đồng/ha/năm. Nhiều hộ nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long
áp dụng công thức luân canh “Nuôi tôm càng xanh (hè thu) + lúa đông xuân” cho
doanh số 70tr.đ/ha/năm (Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đông, Đặng Bích Hợp, 2004) ...
Các mô hình này khẳng định nếu lựa chọn cây trồng vật nuôi phù hợp vùng đất và
nhu cầu thị trường, có giá trị kinh tế cao, áp dụng phương thức sản xuất tiên tiến
đều có thể đạt giá trị cao trên một đơn vị diện tích.
b. Quan điểm phát triển ngành nghề phi nông nghiệp nhằm góp phần tăng thu nhập
cho nông hộ
Quan điểm này cho thấy đến một lúc nào đó phần của dân số phục vụ cho
việc ăn uống tăng lên không phải trong khu vực nông nghiệp mà trong khu vực phi
nông nghiệp như các sản phẩm được chế biến... Do đó, giá trị tăng thêm của khu
vực công nghiệp chế biến hay các ngành nghề khác sẽ tăng lên và vượt giá trị nông
nghiệp khi đó để đáp ứng nhu cầu đồng thời với lợi ích kinh tế một số nông hộ sẽ
chuyển sang sản xuất ngành nghề phi nông nhiệp. Phát triển ngành nghề phi nông
nghiệp còn góp phần tạo khả năng nâng cao qui mô đất nông nghiệp của các nông
hộ lên mức cần thiết, giải quyết vấn đề thiếu việc làm nghiêm trọng trong nông
thôn. Thực tế ở Việt Nam cho thấy với mức bình quân ruộng đất chung của cả nước
thấp: 0,8 ha/hộ nông dân. Nếu như phấn đấu đạt doanh số 50 tr.đ/1ha, mỗi hộ 1 năm
chỉ thu được từ nông nghiệp 40 tr.đ doanh số, trừ chi phí vật chất (50%) thu nhập
ròng chỉ còn 20 tr.đ/hộ 1 năm ước đạt 333.000tr.đ/người/tháng, như vậy, nông thôn
Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi nghèo đói(Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đông, Đặng Bích
Hợp, 2004). Vì thế, muốn tăng thu nhập cho hộ nông dân không thể chỉ phát triển
nông nghiệp mà còn phát triển tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và kinh doanh
buôn bán - dịch vụ nông thôn.
Tuy nhiên, hộ nông dân muốn nâng cao thu nhập theo hướng phát triển nông
nghiệp hay chuyển sang phát triển ngành nghề phi nông nghiệp điều cần thiết là làm gì
để tăng được giá trị sản phẩm thu được và giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị sản
phẩm hay tăng giá trị sản phẩm sao cho tốc độ tăng giá trị sản phẩm lớn hơn tốc độ
13
sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi từ đó lựa chọn phương án sản xuất
tối ưu, đồng thời tiếp thu nhanh tiến bộ kỹ thuật, hiểu biết thị trường, nắm được các
chính sách kinh tế của nhà nước.
14
Như vậy, để tiếp thu và đưa kỹ thuật hiện đại vào sản xuất thì kiến thức chuyên
môn cho người lao động là rất cần thiết. đặc biệt, đối với chủ hộ vì họ là người cuối
cùng đưa ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất, những quyết định của chủ hộ ảnh
hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của hộ trong sản xuất kinh doanh.
Kinh nghiệm sản xuất là những gì mà người lao động tích luỹ được trong
cuộc sống. Vì sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, nó tuân theo
quy luật của tự nhiên dù chúng ta có kiến thức chuyên môn cao vẫn có thể bị thất
bại nếu không có kinh nghiệm. Vì vậy, kinh nghiệm sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến
thu nhập của hộ nông dân.
c. Ảnh hưởng của quy mô vốn đến thu nhập
Vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được để tiến hành tổ chức sản
xuất, kinh doanh nó bao gồm tiền mặt, nguyên liệu và công cụ sản xuất. Có vốn, có
thể mở rộng quy mô sản xuất chuyển dần sang sản xuất hàng hoá, có vốn thì có thể
mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất làm giảm chi phí, góp phần
nâng cao thu nhập cho hộ nông dân.
d. Ảnh hưởng của sức khỏe
Yếu tố sức khỏe của bản thân chủ hộ là phụ nữ vô cùng quan trọng để nữ chủ
hộ tăng thu nhập cho nông hộ của mình. Sức khỏe của con người, đặc biệt là đối với
phụ nữ nông thôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động như điều kiện dinh
dưỡng, môi trường lao động, nghỉ ngơi, thói quen sinh hoạt, đặc thù giới nữ,… Nếu
sức khỏe của họ yếu họ sẽ không đủ khả năng tham gia lao động, không có điều
kiện để chăm lo cho gia đình, tham gia các hoạt động xã hội gây cản trở họ đóng
góp công sức của mình cho phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là trong sản xuất
nông nghiệp. Đối với sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn thì yếu tố sức