Nghiên cứu ảnh hưởng của một số mức phân đạm khác nhau đến sinh trưởng phát triển và năng suất giống ngô nếp tại huyện kiến thụy, hải phòng - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các chữ viết tắt

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục đồ thị và hình

ix

MỞ ĐẦU

1

1


5

1.2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng ngô trên thế giới

5

1.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng ngô ở Việt Nam

7

1.3

Nguồn gốc đặc điểm ngô nếp

1.3.1 Nguồn gốc

8
8

1.3.2 Đặc điểm và đa dạng

10

1.3.3 Giá trị của cây ngô

12

1.4

14


1.6

Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

27
28

Page iii


2.1

Vật liệu nghiên cứu

28

2.2

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

28

2.2.1

Địa điểm nghiên cứu:


2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

34

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

35

3.1

Đặc điểm khí hậu vụ Đông năm 2014 và vụ Xuân Hè năm 2015 tại Hải Phòng

3.2

Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của các giống ở mức phân đạm

35

khác nhau

37

3.3

Ảnh hưởng của các mức phân đạm đến động thái tăng trưởng chiều cao cây

43

3.4



59

Khả năng chống chịu đồng ruộng

63

3.8.1 Khả năng chống chịu sâu bệnh

63

3.8.2 Mức độ chống đổ, gãy

66

3.9

Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô nếp với
mức bón đạm khác nhau

67

3.9.1 Hình thái bắp

67

3.9.2 Các yếu tố cấu thành năng suất

69



II

Đề nghị

83

TÀI LIỆU THAM KHẢO

85

PHỤ LỤC

90

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Từ viết đầy đủ

CIMMYT

Trung tâm cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế



Chỉ số diện tích lá

NSTT

Năng suất thực thu

NXB

Nhà xuất bản

QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

TGST

Thời gian sinh trưởng

TLBHH

Tỷ lệ bắp hữu hiệu

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


DANH MỤC BẢNG
STT


1.5

Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong các giai đoạn sinh trưởng

24

3.1

Một số đặc điểm thời tiết khí hậu vụ Đông năm 2014 và vụ Xuân Hè
năm 2015 tại huyện Kiến Thụy

3.2a

36

Ảnh hưởng của các mức bón N đến thời gian sinh trưởng của các giống
ngô nếp vụ Đông năm 2014 tại huyện Kiến Thụy

3.2b

38

Ảnh hưởng của các mức bón N đến thời gian sinh trưởng của các giống
ngô nếp vụ Xuân Hè năm 2015 tại huyện Kiến Thụy

3.3a

39


52

Ảnh hưởng của các mức bón N tới các chỉ tiêu hình thái thân lá của các
giống ngô nếp vụ đông 2014 tại huyện Kiến Thụy

3.6b

56

Ảnh hưởng của các mức bón N tới các chỉ tiêu hình thái thân lá của
các giống ngô nếp vụ xuân hè 2015 tại huyện Kiến Thụy

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

57

Page vii


3.7

Ảnh hưởng của các mức bón N đến một số đặc điểm hình thái của các
giống ngô nếp vụ đông 2014 và vụ xuân hè 2015 tại huyện Kiến Thụy

3.8

Ảnh hưởng của các mức bón N tới các chỉ tiêu hình thái bông cờ và phun
râu của các giống ngô nếp vụ đông và vụ xuân hè tại huyện Kiến Thụy

3.9


3.13a Hiệu quả kinh tế của các giống ngô nếp khi bón các mức đạm khác
nhau vụ đông 2014 tại huyện Kiến Thụy

79

3.13b Hiệu quả kinh tế của các giống ngô nếp khi bón các mức đạm khác
nhau vụ xuân hè 2015 tại huyện Kiến Thụy
3.14

80

Một số chỉ tiêu chất lượng của các giống ngô nếp tham gia thí nghiệm
(vụ Đông 2014, vụ xuân hè 2015 tại huyện Kiến Thụy)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

81

Page viii


DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH
STT

Tên đồ thị và hình

Trang

Hình 1.1


Đồ thị 3.2b

Động thái tăng trưởng số lá/cây (lá) cây ngô vụ xuân hè 2015

51

Đồ thị 3.3

Năng suất thực thu (tạ/ha) của các giống ngô nếp

trong vụ

Đông 2014 và vụ xuân hè năm 2015 tại Kiến Thụy - Hải Phòng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

77

Page ix


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngô Nếp (Zea mays L.subsp. ceratina) được công bố lần đầu tiên ở Trung
Quốc năm 1909. Sau đó, ngô nếp được phát hiện ở nhiều nơi khác thuộc Châu Á
(Collins, 1909; Kuleshov, 1954). Ngô nếp được sử dung chủ yếu trong sản xuất
nông nghiệp để làm lương thực, phục vụ cho thị trường ăn tươi, làm thức ăn chăn
nuôi gia súc, gia cầm… đặc biệt amylopectin trong ngô nếp được sử dụng trong
ngành công nghiệp dệt may, keo dán công nghiệp giấy (Longjiang Fan et at., 2008).

hàm lượng amylopectin, mức phân bón tối ưu còn đem lại thu nhập cao hơn cho
người sản xuất (Hongzhou et al., 2012). Phân bón cho ngô nói chung và ngô nếp
nói riêng có ý nghĩa quan trọng tăng năng suất, trong đó ba loại phân bón đa
lượng rất quan trọng cho sinh trưởng, phát triển, năng suất của ngô là đạm, lân và
kali (James, 2003).
Đạm là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng ngô,
ngô hấp thụ và sử dụng đạm trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển, thúc đẩy
sinh trưởng sinh dưỡng, tăng hàm lượng protein trong hạt, tăng số lượng bắp và
kích thước bắp, duy trì màu lá xanh. Lân là yếu tố quan trọng đối với sinh trưởng
của cây, nó hoạt động như xây dựng thành phần tế bào, chuyển hóa năng lượng
(James, 2003). Các kiểu gen ngô nếp phản ứng với lượng phân bón khác nhau, tỷ
lệ đạm và mật độ trồng cũng ảnh hưởng đến năng suất và ổn định năng suất của
ngô nếp (Zhao, 2008; Bhalang and Kamol, 2013; Jim and Bop, 2015).
Tuy nhiên tăng sử dụng phân đạm trong sản xuất nông nghiệp tiếp tục tạo
nên những vấn đề liên quan, do rủi ro của lượng đạm dư thừa di chuyển trong hệ
thống cây và đất là nguyên nhân ô nhiễm môi trường (Reza-Bagheri et al., 2011).
Xuất phát từ yêu cầu thực tế để mở rộng diện tích cũng như thúc đẩy phát
triển sản xuất ngô tại Hải Phòng, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh
hưởng của một số mức phân đạm khác nhau đến sinh trưởng phát triển và
năng suất giống ngô nếp tại huyện Kiến Thụy, Hải Phòng”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu phản ứng của một số giống ngô nếp ở 3 mức phân đạm khác
nhau trong vụ Đông và vụ Xuân Hè tại huyện Kiến Thụy, Hải Phòng để đạt năng
suất cao, chất lượng tốt phục vụ phát triển sản xuất.
3. Yêu cầu
+ Đánh giá sinh trưởng phát triển của một số giống ngô nếp ở các mức
đạm khác nhau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2

nội nhũ của hạt là ngô thường (normal corn), ngô nếp (waxy corn) và ngô ngọt
(sweet corn). Nói chung khác nhau giữa ngô thường và ngô nếp là cấu trúc và hàm
lượng tinh bột (amylose và amylopectin) của hạt. Ngô thường trồng rộng rãi cho
sử dụng làm lương thực, thức ăn chăn nuôi và năng lượng sinh học, trong khi các
dạng ngô đặc thù như ngô nếp và ngô đường chỉ làm lương thực, ngô nếp đã trở
thành phổ biến và có giá trị ở các nước Đông Nam Á, đặc biệt ở Hàn Quốc. Nhu
cầu ngô nếp ăn tươi, làm súp đều tăng lên những năm gần đây (Sa et al., 2010).
Ngô nếp là một dạng đặc biệt có thể sử dụng làm lương thực ở một số
nước, chế biến thức ăn gia súc thay thế ngô đá (Johnston and Anderson 1992;
Schroeder et al., 1998). Những tinh bột ngô nếp có hàm lượng amylopectin cao
có thể sử dụng cho công nghiệp chế biến (Klimek-Kopyra et al., 2012). Màu sắc
hạt của ngô có phạm vi đa dạng rất rộng từ màu trắng, vàng, cam, đen, đỏ và tía.
Một số lớn giống ngô đặc thù có sắc tố đen và tía. Màu tía đậm ở ngô do hàm
lượng anthocyanin cao ở lớp vỏ và lõi. Các nhà tạo giống đã quan tâm chọn lọc
cải tiến quần thể và tạo giống ngô nếp tím ưu thế lai (Satang et al., 2014).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


1.2. Tình hình sản xuất và sử dụng ngô trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng ngô trên thế giới
Trên thế giới, cây ngô đứng thứ ba về diện tích, thứ hai về sản lượng và
thứ nhất về năng suất. Một tỉ lệ lớn của diện tích ngô thế giới (khoảng 100 triệu
ha) được trồng ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển ở Đông Nam
Á, Mĩ La Tinh và Châu Phi. Trong tổng 100 triệu ha có khoảng 80% diện tích
ngô được trồng ở môi trường vùng thấp của Châu Á, độ cao trung bình và Á
nhiệt đới, khoảng 80% của tổng số diện tích trồng ngô ở các nước đang phát triển
là ở Trung Quốc.
Bảng 1.1. Năng suất, diện tích và sản lượng ngô Thế giới

161,16

5,13

830,26

4

2009

158,81

5,16

820,02

5

2010

161,76

5,19

849,79

6

2011


1

(Nguồn: FAOSTAT 2014)
Ngành sản xuất ngô thế giới trong những năm gần đây đã đạt được những
thành tựu hết sức to lớn: Theo số liệu của FAO, vào năm 2006, năng suất ngô
trung bình của thế giới là 4,81 (tấn/ha) và có xu hướng tăng, năm 2013 đạt 5,52
(tấn/ha) tăng gấp 1,15 lần. Sản lượng tăng nhanh theo các năm, năm 2006, sản
lượng tăng từ 706,83 (triệu tấn) đến 2013 lên 1.016,7 (triệu tấn) gấp 1,4 lần. Diện
tích tăng từ 146,94 (triệu ha) năm 2006 lên 184,19 (triệu ha) năm 2013, tăng gấp
1,2 lần. Tuy nhiên, năm 2009 theo FAO sản lượng ngô đạt 820,02 triệu tấn, giảm
10,24 triệu tấn so với năm 2008 mà nguyên nhân chính ở đây là do diện tích
ngô giảm 1,46% và năm 2012 sản lượng ngô đạt 875,10 triệu tấn, giảm 10,19
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


triệu tấn so với năm 2011 nguyên nhân là do năng suất ngô giảm 4,08% (năng
suất bị ảnh hưởng của việc biến đổi khí hậu trên toàn cầu đã tác động không
nhỏ tới năng suất của cây trồng). Diện tích, năng suất và sản lượng ngô thế
giới tăng mạnh sau hơn 50 năm từ 1961 đến 2013. Năm 2013, diện tích ngô
thế giới đạt mức 184.192.053 ha, cao gấp 1,75 lần; năng suất 5,5 tấn/ha; cao
gấp 2,8 lần, sản lượng đạt 1.016,7 triệu tấn cao gấp gần 5 lần so với năm 1961
(FAOSTAT, 2014).
Giống ngô ưu thế lai được phát triển mạnh mẽ từ sau những nghiên cứu
của Shull công bố năm 1909. Năng suất và sản lượng ngô tăng lên nhanh chóng
từ những năm 1970 tới nay. Năng suất bình quân cao nhất là Mỹ đạt 9,7 tấn/ha
(FAOSTAT, 2014). Năng suất ngô của Việt Nam đạt 4,3 tấn/ha và sản lượng đạt
4,8 triệu tấn (FAOSTAT, 2014).
Năng suất ngô của Mỹ tăng nhanh từ những giống ngô thụ phấn tự do đến

dài ngày; các biện pháp kỹ thuật canh tác tuy đã được cải thiện nhiều song vẫn
chưa đáp ứng được đòi hỏi của giống mới, năng suất vẫn thấp hơn so với trung
bình thế giới (bằng khoảng 82%); cơ giới hóa và công nghệ sau thu hoạch chưa
được chú ý đứng mức; giá thành sản xuất còn cao; sản lượng chưa đáp ứng đủ cho
nhu cầu trong nước, hàng năm nước ta phải nhập khẩu ngô (Cục trồng trọt, 2015).
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô Việt Nam
(giai đoạn 2006 – 2013)
TT

Năm

1
2
3
4
5
6
7
8

2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013

Diện tích

(Nguồn: FAOSTAT, 2014)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


Đối với sản xuất ngô nếp ở nước ta, diện tích chiếm gần 10% diện tích
trồng ngô của cả nước, chủ yếu là giống ngô địa phương, thụ phấn tự do hay lai
không quy ước (Phan Xuân Hào, 2006).
Nhìn chung, trong những năm qua năng suất ngô Việt Nam đã tăng một cách
đáng kể, song sản lượng ngô của Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước trên thế
giới và có chiều hướng giảm trong một số năm tới. Lý do trong bối cảnh khí hậu
toàn cầu đang biến đổi phức tạp, những hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng diễn
biến khó lường nhiều sâu bệnh hại mới xuất hiện; đồng thời sản xuất ngô ở nhiều
nơi đã và đang gây nên tình trạng xói mòn, rửa trôi đất; giá thành sản xuất cao đã tạo
ra sự cạnh tranh gay gắt giữa ngô và các cây trồng khác (Cục Trồng trọt, 2015).
Theo dự báo Cục Trồng trọt – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
năm 2015 nhu cầu ngô tiêu thụ nội địa của nước ta khoảng 8,2 triệu tấn, trong đó
nhu cầu sử dụng làm lương thực, thực phẩm 0,9 triệu tấn, nhu cầu sản xuất thức
ăn chăn nuôi 7,2 triệu tấn và nhu cầu sử dụng cho các sản phẩm khác khoảng
0,18 triệu tấn. Đến năm 2020 nhu cầu ngô tiêu thụ nội địa của nước ta khoảng
10,2 triệu tấn, trong đó nhu cầu sử dụng làm lương thực, thực phẩm 1,2 triệu tấn,
nhu cầu sản xuất thức ăn chăn nuôi 8,5 triệu tấn và nhu cầu sử dụng cho các sản
phẩm khác khoảng 0,5 triệu tấn. Xuất phát từ yêu cầu thực tế Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn đã xây dựng “Quy hoạch sản xuất ngô toàn quốc đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030” nhằm phát triển sản xuất ngô bền vững, đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng cũng như nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi và
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất (Cục trồng trọt, 2015).
1.3. Nguồn gốc đặc điểm ngô nếp

lượng cao, chín sớm, rất đa dạng và thích ứng nhiệt độ cao, lượng mưa lớn, thời
gian sinh trưởng dài ở các vùng, đặc biệt ở Qidong, Haimen và Chongming.
Những năm 1980 tôi đã nghiên cứu nguồn gen ngô nếp ở những vùng thấp hơn
của sông Yangtze đã sử dụng 8 giống ngô nếp thụ phấn tự do gồm Qidong hạt
răng ngựa lớn, Qidong răng ngựa tím, Qidong đá chín sớm, Haimen răng ngựa
lớn, Haimen đá chín sớm, Haimenxuehua nuo, Chongming răng ngựa lớn và
Chongming đá chín sớm, sau khi quan sát, nhận biết thời gian dài và so sánh
các nhóm ngô tổng hợp đã tạo ra bằng lai diallel hai chu kỳ cách ly cho tự do
thụ phấn để áp dụng cải tiến quần thể (Xie Xiao-yi et al., 2014).
Ngô nếp là dạng ngô tẻ do biến đổi tinh bột mà thành. Sự biến đổi xảy
ra trong quá trình đột biến gen Wx thành gen wx. Có nhiều loại đột biến nếp
xảy ra, tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu sự tự phát sinh đột biến của locus
wx là đột biến chèn đoạn hay mất đoạn (mất một vài nucleotid) ở kiểu gen
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


hoang dại (Ngô Hữu Tình, 2009).
Đặc điểm nông học của ngô nếp và kỹ thuật canh tác cũng đã được nghiên
cứu những năm gần đây. Trường Đại học Pennsylvania State University nghiên
cứu hướng dẫn kỹ thuật trồng ngô nếp cho rằng, trồng ngô có tinh bột hoàn toàn
là amylopectin không dễ dàng vì gen sáp là gen lặn, như vậy ngô nếp cách ly với
ngô thường ít nhất là 200 m. Nếu chỉ xuất hiện một số cây ngô thường trên ruộng
cây sản xuất có thể làm thay đổi ngay cả khi đã cách ly tốt và trong chọn lọc hạt
gieo cũng cần loại bỏ những hạt ngô thường lẫn trong lô hạt hoặc ngô nếp đã
thay đổi do trôi dạt di truyền (Pennsylvania State University, 2006).
1.3.2. Đặc điểm và đa dạng
Ngô nếp (Zea mays L. var. certaina Kulesh), có nhiều đặc điểm tuyệt với
trong thành phần tinh bột và giá trị kinh tế đã được trồng sản xuất ở Trung Quốc

Collins và các nhà khoa học khác đã xác định rằng: Ngô nếp bắt nguồn từ
ngô tẻ, do một đột biến đơn gen, gen trội Wx thành gen lặn wx, vì vậy ngô nếp có
thể xuất hiện ở nhiều vùng khác nhau trên trái đất. Gen Waxy (Wx) mã hóa cho
enzyme granule-bound starch synthase (GBSS = protein waxy), đây là một trong
những isoenzyme chính xúc tác sự tổng hợp amylose từ ADP glucose, được biểu
hiện ở nội nhũ và hạt phấn. Ở ngô tẻ, isoenzyme GBSS có hoạt tính mạnh và sản
phẩm của nó chủ yếu là amylose, một phần ADP glucose không thể được chuyển
hóa hoàn toàn thành amylopectin, vì vậy có khoảng 25% tinh bột trong nội nhũ,
còn lại là amylose và có kiểu hình là ngô tẻ. Ở ngô nếp, gen trội Wx bị đột biến
thành gen lặn wx và hoạt động của enzyme GBSS bị ức chế. Đồng thời tất cả
isoenzyme khác tổng hợp amylose cũng hoạt động rất yếu, gần như toàn bộ ADP
glucose sẽ được chuyển thành amylopectin bởi enzyme starch branching (SBE),
hàm lượng amylopectin được tích lũy trong nội nhũ tới gần 100% và biểu hiện
kiểu hình là ngô nếp. Tuy nhiên trong thực tế, con đường sinh tổng hợp tinh bột ở
nội nhũ ngô là rất phức tạp, quá trình này có sự tương tác giữa nhiều enzyme sinh
tổng hợp tinh bột khác nhau (Feng et al., 2008).
Một bộ gồm 165 mẫu nguồn gen ngô nếp Trung Quốc bao gồm giống địa
phương và các dòng tự phối đã chọn để phân tích đa dạng di truyền bằng chỉ thị
phân tử SSR. Kết quả cho thấy mức đa dạng di truyền rất cao về đặc điểm bắp và
chất lượng tinh bột với tổng số 281 allele đã nhận biết tại 60 locus SSR, bình
quân 2 – 9 allele/một chỉ thị. Trung bình allel/một chỉ thị qua các kiểu gen là 4.68.
Giá trị PIC trong phạm vi từ 0.332 đến 0.860, trung bình là 0.690. Phân nhóm di
truyền UPGMA đã nhóm 165 dòng thành 3 nhóm phù hợp với thông tin phả hệ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


đã biết của các nhà tạo giống cung cấp. Kết quả chỉ ra rằng hầu hết dòng ngô
nếp hiện đại có ít mối quan hệ với các giống bản địa vùng Tây Nam Trung Quốc,

Page 12


cũng như việc trái đất đang chịu những hậu quả nặng nề của sự ô nhiễm, đặc biệt
là ô nhiễm không khí (Ngô Hữu Tình, 2009).
Ngô nếp được sử dụng làm lương thực, thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm,
Khi nấu chín có độ dẻo, mùi vị thơm ngon. Nó có giá trị dinh dưỡng cao, bởi tinh
bột có cấu trúc đặc biệt, dễ hấp thu hơn so với tinh bột của ngô tẻ. Có khá nhiều
báo cáo về kết quả đạt được trong chăn nuôi cho cả động vật thường và động vật
nhai lại. Một số thí nghiệm đã chỉ ra rằng bò đực lớn nhanh hơn khi được nuôi
bằng ngô nếp. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả trên là do trong
ngô nếp có hàm lượng acid amin không thay thế cao như triptophan, lyzin
(Grawood and Creech, 1972).
Các nhà khoa học ở Đại học tổng hợp Ohio – Hoa Kỳ đã phân tích và đưa
ra tiêu chuẩn dinh dưỡng của ngô nếp so với một số loại ngô khác (bảng 1.3),
trong đó % protein cao tương đương với ngô giàu protein.
Bảng 1.3. Một số đặc tính chất lượng của ngô nếp so với ngô thường
HL các chất

Dầu
(%)

Protein
(%)

Tinh bột
(%)

Năng lượng
(kcal/kg)

1770– 1785

Nếp

3,2 – 3,6

8,9 – 0,1

73,1 – 3,3

1747– 1758

Nguồn: Đại học Tổng hợp Ohio, Hoa Kỳ

Ngô nếp được dùng với mục đích khác: ăn tươi, đóng hộp, chế biến tinh
bột…Nhìn chung, có hai cách sử dụng chính: làm thực phẩm và chế biến tinh bột. Ở
Mỹ và các nước phát triển, phần lớn sản lượng ngô nếp được dùng để chế biến tinh
bột. Người ta chế biến tinh bột nếp đó bằng cách xay ướt để dùng trong công nghiệp
chế biến thực phẩm, keo dán, chất hồ dính, công nghiệp dệt, công nghiệp giấy, lên
men sản xuất cồn và chuyển thành đường fuctozo, chế sizo…Tinh bột ngô nếp còn
được sử dụng như một dạng sữa ngô làm đồ gia vị cho món salad. Phạm vi sử dụng
của ngô nếp ngày càng phát triển nhờ những đặc biệt của nó (James, 2003).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


1.4. Kết quả nghiên cứu và chọn tạo giống ngô nếp
1.4.1. Kết quả nghiên cứu và chọn tạo giống ngô nếp trên thế giới

Page 14


Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng ngô nếp tăng lên, vì vậy các nhà khoa học
cũng đã quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu và chọn tạo các giống ngô nếp
lai có năng suất cao và chất lượng ngon đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn sản xuất.
Người ta cho rằng ngô nếp ưu thế lai cũng như ngô chất lượng protien cao,
năng suất giảm đi so với ngô ưu thế lai bình thường, và giả thuyết cho rằng tích
lũy mật độ hạt tinh bột thấp, nội nhũ mềm và khối lượng hạt thấp hơn. Năm 1990
mục tiêu chương trình tạo giống ngô nếp ưu thế lai và ngô có chất lượng protein
của Argentina được bắt đầu và sau đó một vài dòng thuần được phát triển và thử
khả năng phối hợp giữa các dòng tự phối tốt nhất và vụ ngô năm 2001, 2002 một
số tổ hợp lai đơn được thử nghiệm, số tổ hợp phân thành 3 nhóm là:
- Ngô nếp ưu thế lai
- Ngô chất lượng protein cao
- Và tổ hợp lai kép cải thiện tinh bột của ngô chất lượng protein
Ở các nước phát triển như Mỹ việc chọn tạo giống ngô nếp tập trung chọn
tạo giống ngô nếp ưu thế lai, năm 2003 có 12 công ty hạt giống chào bán các tổ
hợp ngô nếp ưu thế lai được kinh doanh trên thị trường, bình quân mỗi công ty 5 tổ
hợp và có 20 tổ hợp thời gian sinh trưởng ngắn từ 83 đến 122 ngày (James, 2003).
Nhóm nhà khoa học chọn tạo giống ngô Hàn Quốc năm 2005 (Viện khoa
học cây trồng quốc gia Suwon – RDA) đã tạo giống ngô nếp lai đơn Ilmichal hạt
trắng có chất lượng ăn uống tốt, năng suất cao và chống đổ tuyệt vời. Giồng này
được tạo ra bằng phương pháp lai giữa 2 dòng tự phối KW51 (seed parent) và
KW35 (pollen parent), giống này có chiều dài bắp 18,8 cm và đường kính bắp
4,5 cm, tỷ lệ kết hạt trên bắp cao (95%). Khả năng duy trì dòng bố mẹ và sản
xuất hạt lai rất thuận lợi và đã được phổ biến rộng rãi ở Hàn Quốc.
Năm 2009, tác giả Eunsoo Choe, Đại học Illinois đã tiến hành nghiên cứu
chọn tạo giống ngô nếp vỏ mỏng và tính trạng bắp phù hợp cho thị trường ăn tươi
tại Hàn Quốc. Nghiên cứu sử dụng MAS và QTL, kết quả đã chọn tạo được

những đặc điểm tốt như: Thời gian sinh trưởng ngắn, từ khi gieo đến khi thu bắp
luộc khoảng 75 – 80 ngày, từ gieo đến chín sinh lý khoảng 95 – 105 ngày. Các tổ
hợp ngô nếp lai có hạt màu trắng, dẻo, thơm, năng suất hạt đạt khoảng 40 – 45
tạ/ha (Nguyễn Thế Hùng, 2006).
Với kết quả nghiên cứu của mình, các tác giả Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội (Học Viện NNVN) đã đưa ra kết quả bước đầu trong việc tạo
dòng ngô nếp thuần, và kết quả chọn tạo giống ngô nếp lai giai đoạn 2005 –
2010: các nguồn đã được đánh giá đặc điểm nông sinh học, 22 nguồn vật liệu ưu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 16


tú được phân nhóm ưu thế lai qua phân tích đa dạng di truyền bằng chỉ thị phân
tử SSR (Nguyễn Thế Hùng và cs., 2010).
Một trong đơn vị hàng đầu trong nghiên cứu và chọn tạo giống ngô, Viện
Nghiên cứu Ngô hiện đang lưu giữ 148 mẫu ngô nếp địa phương, trong đó có
111 nguồn nếp trắng, 15 nguồn nếp vàng và 22 nguồn nếp tím, nâu đỏ. Từ các
nguồn có khả năng chống chịu tốt nhất, bằng phương pháp truyền thống đã tạo ra
một số dòng ngô nếp có độ thuần cao, trong đó có 30 dòng ngô nếp đã được phân
tích đa dạng di truyền bằng chỉ thị phân tử SSR và phân nhóm ưu thế lai. Một số
dòng có khả năng kết hợp tốt và gần chục tổ hợp lai cho năng suất cao, độ đồng
đều khá đang được thử nghiệm, phục vụ cho công tác lai tạo giống ngô nếp mới
(Lê Quý Kha, 2009).
Trong giai đoạn 2006 – 2008, Viện nghiên cứu Ngô đã tiến hành chọn tạo,
khảo sát các tổ hợp nếp lai, chọn lọc ra các tổ hợp lai có triển vọng như: NL1,
NL2, HN5 x HN15, HN10 x HN2, HN1 x HN6, HN6 x HN17, HN16 x HN6,
HN15 x HN6, HN10 x HN6, LSB4,...để đưa vào khảo nghiệm rộng và cho kết
quả khá tốt (Lê Quý Kha, 2009).
Hàng năm, Trung tâm khảo nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân

cứu về bón phân cũng được chú ý với mục đích góp phần trong việc tăng trưởng
về năng suất và sản lượng ngô trong thời gian gần đây.
1.5. Nghiên cứu phân bón đối với ngô
1.5.1. Kết quả nghiên cứu bón phân đối với ngô trên thế giới
Cây ngô là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưa nhiệt,
có hệ thống rễ chùm phát triển .
Cây ngô là cây có tiềm năng năng suất lớn. Trong các biện pháp thâm
canh tăng năng suất ngô, phân bón giữ vai trò quan trọng nhất.
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Lân và Kali (Mỹ) cho thấy: để tạo ra 10
tấn ngô hạt/ha cây ngô lấy đi lượng dinh dưỡng như sau:
Bảng 1.4. Lượng chất dinh dưỡng cây ngô hút từ đất và phân bón
để tạo ra 10 tấn hạt (kg/ha)
Bộ phận

NS chất khô

Phần trăm

( kg/ha)

(%)

16

9769

52

38


54

18

Thân, lá, lõi

79

33

215

Tổng số

269

111

269

Nguồn: Viện Lân-Kali Atlanta Mỹ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status