Nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón và thời vụ đến năng suất, chất lượng thuốc lá vàng sấy tại bắc sơn – lạng sơn - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục bảng

v

Danh mục biểu đồ, hình

vi

Ký hiệu chữ viết tắt

vii

MỞ ĐẦU

1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài


1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá lá ở Việt Nam

6

1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết, khí hậu và đất trồng đến sinh trưởng, phát
triển của cây thuốc lá vàng sấy

8

1.3.1 Nhiệt độ và ánh sáng

9

1.3.2 Độ ẩm và lượng mưa

9

1.3.3 Đất trồng

10

1.4 Một số kết quả nghiên cứu ngoài nước

11

1.4.1 Nhu cầu và vai trò của các yếu tố dinh dưỡng:

11

1.4.2 Nhu cầu dinh dưỡng đạm (N) của cây thuốc lá vàng sấy


iii


1.5 Một số kết quả nghiên cứu trong nước

22

1.6 Tình hình sử dụng phân khoáng cho thuốc lá trên thế giới và ở Việt Nam

25

1.6.1 Tình hình sử dụng phân khoáng cho cây thuốc lá trên thế giới

25

1.6.2 Tình hình sử dụng phân khoáng cho cây thuốc lá tại Việt Nam

27

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

30

2.1 Địa điểm, thời gian và vật liệu nghiên cứu

30

2.1.1 Địa điểm


2.3.2 Sâu bệnh hại

33

2.3.3 Năng suất và chất lượng

34

2.3.4 Hiệu quả kinh tế

34

2.4 Xử lý số liệu thí nghiệm.

34

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

35

3.1 Khí hậu, thời tiết và đặc điểm đất đai tại Lạng Sơn

35

3.1.1 Tình hình khí hậu, thời tiết tại Lạng Sơn

35

3.1.2 Kết quả phân tích đất thí nghiệm.



2 Kiến nghị

74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

75

PHỤ LỤC

77

iv


DANH MỤC BẢNG

Số bảng

1.1

Tên bảng

Sản lượng các dạng thuốc lá nguyên liệu chủ yếu của thế giới giai đoạn
2001 – 2012

1.2

5


Kết quả phân tích đất thí nghiệm vụ xuân 2013 và vụ xuân 2014.

39

3.2

Ảnh hưởng của mức bón phân đến thời gian sinh trưởng của thuốc lá tại
Bắc Sơn – Lạng Sơn

3.3

41

Ảnh hưởng của mức bón phân đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của
thuốc lá tại Bắc Sơn – Lạng Sơn

3.4

47

Ảnh hưởng của phân bón đến kích thước lá thuốc lá tại Bắc Sơn –
Lạng Sơn.

3.5

51

Ảnh hưởng của mức bón phân đến khối lượng lá thuốc lá tại Bắc Sơn –
Lạng Sơn

66

So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất 1 ha nguyên liệu tại Bắc Sơn - Lạng Sơn

70

v


DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Số biểu đồ

1.1

Tên biểu đồ

Trang

Động thái tích luỹ một số nguyên tố dinh dưỡng và chất khô của thuốc
lá vàng sấy trên đồng ruộng

Số hình

11
Tên hình

Trang

3.1

3.6

45

Động thái tăng trưởng số lá của thuốc lá vụ xuân 2014 tại Bắc Sơn –
Lạng Sơn

46

vi


KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
TT

Chữ viết tắt

Diễn giải

1

BVTV

Bảo vệ thực vật

2

CP

Cổ phần


8

Nts

Đạm tổng số

9

TC

Tiêu chuẩn

10

TCN

Tiêu chuẩn ngành

11

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

12

TMV

Tobacco Mosaic Virus

trong nước, hàng năm ngành thuốc lá còn phải nhập hàng chục ngàn tấn thuốc lá
nguyên liệu. Nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu,
ngành thuốc lá Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển nguyên liệu được thể
hiện ở “Quy hoạch sản xuất sản phẩm thuốc lá và phát triển vùng nguyên liệu
thuốc lá Việt Nam đến năm 2020” đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt là
phát triển và duy trì ổn định diện tích trồng cây thuốc lá ở mức 32.000 ha và sản
lượng 75.000 tấn vào năm 2020 (Bộ Công Thương, 2013).
Thuốc lá là cây trồng đòi hỏi khá ngặt nghèo về đất đai, đặc biệt là hàm
lượng các chất dinh dưỡng đa lượng và trung lượng như: N, P, K, Ca, Mg, ...
Ngoài ra, các nguyên tố vi lượng như: Bo, Mo, Cu, Zn, Mn, ... cũng ảnh hưởng
đáng kể đến sinh trưởng và phát triển của cây thuốc lá. Mỗi loại đất được đặc
trưng bởi hàm lượng các chất dinh dưỡng, thành phần cơ giới và độ pH. Người ta
căn cứ vào những đặc điểm này của mỗi loại đất để xây dựng biện pháp bón phân
thích hợp cho cây thuốc lá.
Hiệu quả sản xuất thuốc lá nguyên liệu không những phụ thuộc vào năng suất

1


mà còn phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng sản phẩm. Thời vụ trồng thích hợp, bón
phân hợp lý là các biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm tăng năng suất và chất lượng
nguyên liệu. Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ và phân bón đến năng
suất, chất lượng thuốc lá nguyên liệu vùng Bắc Sơn là hết sức cần thiết.
Trong nhiều năm qua, chất lượng thuốc lá nguyên liệu tại các vùng trồng
thuộc huyện Bắc Sơn nói riêng và một số vùng trồng khác (Hữu Lũng, Lộc Bình,
Chi Lăng, Tràng Định) do Công ty CP Ngân Sơn quản lý hàm chất lượng có xu
hướng giảm. Trong năm 2011 qua phân tích 8 mẫu thuốc lá nguyên liệu tại Bắc
Sơn (Thuộc đề tài cấp Tổng công ty: Theo dõi diễn biến chất lượng thuốc lá
nguyên liệu các vùng trồng ở Việt nam) chỉ có 01 mẫu đạt trên 1%, còn lại 7 mẫu

Lạng Sơn.
Đề xuất quy trình bón phân góp phần xây dựng được quy trình trồng trọt cho
sản xuất thuốc lá vàng sấy tại vùng Bắc Sơn - Lạng Sơn cho năng suất chất lượng
ổn định.
1.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của
các mức phân bón đến năng suất, chất lượng thuốc lá nguyên liệu trong các thời
vụ trồng khác nhau của vụ xuân tại vùng Bắc Sơn - Lạng Sơn.
1.4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trong thực tế, sản xuất nguyên liệu thuốc lá sợi vàng tại vùng Bắc Sơn Lạng Sơn trong những năm gần đây đang có sự suy giảm về sản lượng cũng như
chất lượng nguyên liệu. Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu của đề tài nhằm tìm ra
biện pháp kỹ thuật tác động có ảnh hưởng tích cực đến năng suất và chất lượng
thuốc lá nguyên liệu cho vùng Bắc Sơn là cần thiết để đáp ứng nhu cầu thực tiễn
đặt ra.

3


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc và phân loại thực vật cây thuốc lá
Thuốc lá (Nicotiana tabacum L.) là loại cây công nghiệp ngắn ngày có
tầm quan trọng đối với nền kinh tế trên thị trường thế giới không chỉ đối với trên
33 triệu nông dân của nhiều Quốc gia (những người coi cây thuốc lá là nguồn thu
nhập chính) mà còn cho cả toàn bộ nền công nghiệp - từ các nhà máy chế biến,
cuốn điếu, sản xuất phụ gia, phụ liệu đến cả hệ thống phân phối tiêu thụ, thậm
chí cả một phần ngành sản xuất các vật tư nông nghiệp phục vụ cho cây thuốc lá
như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (Akehurt B. C, 1981; Collins W. K and
Hawks S. N. Jr, 1993). Với tổng diện tích trồng trọt khoảng 4,0 – 5,0 triệu ha trải
khắp từ 60o vĩ Bắc đến 40o vĩ Nam và tổng sản lượng nguyên liệu thu được
khoảng 5,0 – 6,0 triệu tấn để sản xuất khoảng 6.000 tỷ điếu hàng năm (Davis D.

Theo số liệu công bố bởi Universal Leaf Tobacco Company (2012), sản
lượng thuốc lá nguyên liệu có sự gia tăng từ khoảng 5 triệu tấn trong những năm
2007 về trước lên mức 5,5 triệu tấn trong những năm gần đây. Dạng thuốc lá
vàng sấy lò chiếm phần chủ đạo và có sự gia tăng từ mức 70% ở thời kỳ trước
năm 2000 lên mức gần 80% trong giai đoạn hiện nay. Xếp thứ 2 là dạng thuốc lá
Burley với tỷ lệ biến động từ 10 đến 15%. Tiếp đến là dạng thuốc lá Oriental với
tỷ lệ có sự sụt giảm từ khoảng 10% thời kỳ trước năm 2000 xuống khoảng 5%
trong những năm gần đây.
Bảng 1.1 Sản lượng các dạng thuốc lá nguyên liệu chủ yếu của thế giới giai
đoạn 2001 – 2012
ĐVT : 1.000 tấn
Chủng loại

2001

2007

2008

2009

2010

2011

2012

Vàng sấy

3.499


439

237

267

275

248

216

232

Nâu phơi

182

144

135

129

130

134

122


5.568

Nguồn tài liệu: 2012 Supply & Demand Report. Universal Leaf Tobacco

5


Company
Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy mặc dù ngành công nghiệp thuốc lá ở các
nước chịu nhiều áp lực từ chính sách quốc gia và dư luận xã hội nhưng mức sản
xuất không những không suy giảm mà còn có sự gia tăng. Điều này cho thấy nhu
cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc lá điếu vẫn không suy giảm.
Các nước sản xuất thuốc lá vàng sấy lò hàng đầu thế giới là: Trung Quốc,
Braxin, Ấn Độ, Mỹ và Zimbabuê với số liệu sản xuất trong giai đoạn 2001 –
2012 được thể hiện ở bảng 1.2.
Bảng 1.2: Sản lượng thuốc lá nguyên liệu vàng sấy của các nước sản xuất
chính giai đoạn 2001-2012
Nước

2001

2007

2008

2009

ĐVT: 1.000 tấn
2010

335
222

2.354
708
276
169

2.580
590
273
204

Argentina
Zimbabuê
Bănglađét

55
203
31

85
73
57

82
48
53

82


53
56
45

51
89
30

43
122
37

30
70
48

573

444

442

441

478

477

476

kỷ 20. Tuy nhiên, sau ngày thống nhất đất nước năm 1975 sản xuất nguyên liệu
thuốc lá mới có sự chuyển biến mạnh mẽ. Giai đoạn từ 1975 - 1990 đã hình
thành các vùng sản xuất nguyên liệu thuốc lá Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Bắc, Vĩnh
Phúc, Thanh Hoá, Nghệ An,... Từ sau năm 1990, Tổng công ty Thuốc lá Việt
Nam đã xây dựng chương trình phát triển nguyên liệu trong nước nhằm từng
bước nâng cao năng suất, chất lượng và mở rộng vùng nguyên liệu. Để tạo ra
những chuyển biến tích cực trong công tác sản xuất thuốc lá nguyên liệu, Tổng
công ty thuốc lá Việt Nam đã áp dụng đồng bộ các biện pháp như chọn tạo giống,
thử nghiệm để xác định các biện phá kỹ thuật canh tác phù hợp, xây dựng chính
sách đầu tư cho các vùng trồng bao gồm cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật, hỗ trợ lò sấy và bao tiêu sản phẩm.
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng thuốc lá nguyên liệu trồng trong
nước đến năm 2010
2005

Dạng

2010

Diện tích Năng suất Sản lượng Diện tích Năng suất Sản lượng

thuốc lá

(ha)

(tấn/ha)

(tấn)

(ha)


23.612

Phía Nam

12.251

1,62

19.838

11.015

1,94

21.405

Burley

672

1,75

1.179

387

1,54

596

nguyên liệu thuốc lá Việt Nam đến năm 2020. Bộ Công Thương.
Thuốc lá vàng sấy là dạng nguyên liệu chính được phát triển với diện tích
20.000 – 25.000 ha/năm và hình thành các vùng nguyên liệu trọng điểm như Cao
Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn ở phía Bắc và Gia Lai, Đắc Lắc, Tây Ninh ở phía Nam.
Việc ứng dụng các giống thuốc lá mới cùng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến đã nâng
cao năng suất chất lượng nguyên liệu thuốc lá vàng sấy. Năng suất đã có sự cải thiện

7


đáng kể từ mức bình quân 1,33 tấn/ha năm 2005 lên 1,7 tấn/ha năm 2010 và khoảng
2,1 tấn/ha hiện nay. Nhiều hộ thâm canh tốt đã đạt năng suất 3 tấn/ha. Sản lượng
thuốc lá nguyên liệu vàng sấy năm 2005 đạt 30.599 tấn và năm 2010 đạt 45.017 tấn.
Thuốc lá burley từng được trồng với diện tích trên 1.000 ha trong những
năm 1995 – 2000 tại Lâm Đồng, Đồng Nai, Ninh Thuận, Bình Thuận. Tuy nhiên,
do nhu cầu nguyên liệu burley cho sản xuất gu thuốc hỗn hợp trong nước còn hạn
chế nên hiện nay thuốc lá burley chủ yếu được trồng tại tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà
Rịa-Vũng Tàu với diện tích dao động từ 400 đến 700 ha. Sản lượng nguyên liệu
burley hàng năm biến động trong khoảng 600 đến 1.200 tấn.
Thuốc lá nâu phơi được trồng tại các tỉnh phía Nam từ rất sớm và đã từng
đạt diện tích tới chục ngàn ha trong những năm 1990 của thế kỷ XX. Tuy nhiên,
do thuốc lá nâu có chất lượng nguyên liệu hạn chế nên chỉ được sử dụng cho sản
xuất các nhãn thuốc điếu cấp thấp. Hiện nay, chỉ còn lại 3 tỉnh trồng thuốc lá Nâu
gồm Ninh Thuận, Đồng Nai và Bình Thuận với diện tích ở mức rất khiêm tốn từ
400 đến 800 ha/năm và sản lượng từ 800 đến 2.100 tấn/năm.
Tình hình nhập khẩu thuốc lá nguyên liệu
Với sản lượng thuốc điếu hiện nay khoảng 5 tỷ bao thuốc lá/năm thì
mỗi năm ngành thuốc lá cần lượng nguyên liệu từ 85.000 – 90.000 ngàn tấn.
Do đặc thù của sản xuất thuốc điếu phải phối trộn các loại nguyên liệu khác
nhau và mặt khác, chất lượng của thuốc lá nguyên liệu trong nước còn có

Giai đoạn cây thuốc lá sinh trưởng, phát triển mạnh có lượng nước bốc hơi
khoảng 2,5mm/tuần (tuần thứ 5 đến tuần thứ 9 sau trồng). Trên những loại đất cát
và thịt nhẹ sử dụng phổ biến để trồng thuốc lá vàng sấy, lượng mưa từ 2,5 –
4,0mm/tuần thường là đủ giúp cây thuốc lá đạt mức sinh trưởng tối đa. Thuốc lá
thường có hàm lượng nicotin thấp, hàm lượng đường cao khi được cung cấp
nước đầy đủ và ngược lại có hàm lượng nicotin cao, hàm lượng đường thấp khi
sinh trưởng trong điều kiện thường xuyên gặp hạn. Trong thực tế sản xuất, điều
kiện thiếu ẩm ở mức độ nhẹ ở thời điểm trước khi cây bước vào giai đoạn sinh
trưởng mạnh sẽ kích thích bộ rễ ăn sâu hơn, cây sinh trưởng tốt hơn ở giai đoạn
tiếp theo. Thậm chí, hương thơm và tính chất hút của lá thuốc lá còn có thể được
cải thiện khi cây gặp hạn nhẹ ở giai đoạn này (Collin và Hawks, 1993). Vào giai
đoạn cây thuốc lá thu hoạch trở đi, độ ẩm đất chỉ cần đủ để giúp chuyển hoá vật
chất dễ dàng và lá tích luỹ chất khô. Lượng mưa quá lớn hoặc quá hạn trong giai
đoạn này đều ảnh hưởng xấu đến chất lượng thuốc lá sấy cả về mặt cấp loại lẫn

9


thành phần hoá học.
1.3.3. Đất trồng
Cây thuốc lá vàng sấy được trồng trên đất cát hoặc thịt nhẹ, nghèo mùn,
tầng canh tác dày, thoát nước tốt và ít dinh dưỡng sẽ cho lá sau khi sấy có màu
vàng đẹp, hàm lượng đường cao sau khi sấy; bởi vì đất nghèo đạm thì sự hấp thu
đạm của cây thuốc lá vàng sấy suy kiệt khi cây ra nụ và chuẩn bị thu hoạch. Phần
lớn các loại thuốc lá hong, trừ thuốc lá Maryland và Oriental, đều được trồng trên
đất nặng hơn, giàu dinh dưỡng mà thực chất là có hàm lượng đạm cao. Tại Bắc
Carolina đất có hàm lượng mùn cao > 0,8% thường làm cho thuốc lá chín chậm
và đặc biệt khó sấy vì cây vẫn hút đạm cả khi đang thu hoạch, ngay cả khi lá
vàng sấy có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của hệ thống rễ, mà bộ rễ thuốc
lá lại không ưa ẩm quá và kéo dài. Hàm lượng mùn cao có thể cho năng suất cao

giá phần lớn tuỳ thuộc vào nhà tiêu thụ nguyên liệu – nhà sản xuất thuốc lá điếu.
1.4. Một số kết quả nghiên cứu ngoài nước
1.4.1. Nhu cầu và vai trò của các yếu tố dinh dưỡng:
Mức sinh trưởng và lượng dinh dưỡng hấp thu của mỗi giống thuốc lá
vàng sấy biến động đáng kể, tuỳ thuộc vào dạng đất, độ phì của đất, điều kiện khí
hậu, thời tiết và kĩ thuật trồng trọt.
Động thái tích luỹ chất khô và một số thành phần khoáng dinh dưỡng
chính của cây thuốc lá vàng sấy đã được (Raper và Mc Cants, 1966) nghiên cứu,
công bố ở dạng biểu đồ 1.1.

Biểu đồ 1.1. Động thái tích luỹ một số nguyên tố dinh dưỡng và chất khô
của thuốc lá vàng sấy trên đồng ruộng

11


( 1 lb = 0.454 kg ; 1 A = 0.407 ha)
Kết quả nghiên cứu về lượng hấp thu dinh dưỡng đa lượng và trung lượng
trong mối quan hệ với năng suất thân lá thuốc lá của (Raper and Mc Cants,
1966), trùng hợp với kết quả nghiên cứu của (Hawks 1970). Các tác giả này đều
cho biết cây thuốc lá vàng sấy có lượng hấp thu kali lớn nhất và thường gấp đôi
lượng đạm hấp thu. Lượng hấp thu lân và magiê tương đối thấp so với lượng hấp
thu kali, đạm và canxi của cây.
Bảng 1.4. Mối quan hệ giữa năng suất thân lá thuốc lá với lượng hấp thu
một số thành phần dinh dưỡng của cây
ĐVT: kg/ha
TÁC GIẢ

Lượng hấp thu



64

9

130

37

11

Hawks (1970)

2.242*

78

31

193

86

41

* Năng suất lá khô
Nghiên cứu mối quan hệ tương tác giữa các nguyên tố khoáng dinh dưỡng
của đất với cây thuốc lá vàng sấy đã được một số chuyên gia của Viện công nghệ
sinh học - Học Viện khoa học nông nghiệp Vân Nam - Trung Quốc tiến hành.
Kết quả nghiên cứu cho biết có mối quan hệ tương hỗ giữa các nguyên tố K, P,


N

P

K

Ca

Mg

4,0-6,0

0,2-0,5

3,0-4,0

0,6-1,5

0,2-0,6

4,0-5,0

0,2-0,5

2,5-3,5

0,75-1,5

0,2-0,6


Lá X + P 1,3-1,75

0,12-0,3

1,3-2,5

1,0-2,5 0,18-0,75


MRML

Thân, lá tăng



trưởng mạnh

MRML

Ra hoa

Thu hái


MRML

Lá C

MRML: Most recent mature leaf.

quan sát thấy cây thuốc lá được cung cấp đạm NO-3 có mức sinh trưởng gấp 6 lần
so với khi được cung cấp đạm NH+4.
Từ những kết quả nghiên cứu trên cho thấy cây thuốc lá thích hợp với đạm
NO-3

hơn so với đạm NH+4. (Skogley and Mc Cants, 1963) cho rằng nguyên nhân

chính dẫn đến sinh trưởng kém của cây thuốc lá khi được trồng với đạm NH+4 là
do sự thiếu hụt các cation nào đó, các cation này đối kháng với NH+4 trong quá
trình hấp thu cuả cây, sử dụng đạm (NH4)2SO4 gây ngộ độc NH3 cho cây thuốc lá
hơn so với đạm NH4NO3, nhất là khi đất có hàm lượng clo cao. (Chouteau and
Fauconnier, 1988), cho biết cây thuốc lá tích luỹ nhiều NH+4 trong dịch bào dẫn
đến làm giảm các muối hữu cơ của không bào, làm giảm tính đệm của dịch bào,

14


gây axít hoá dịch bào.
- Ảnh hưởng của N đến sinh trưởng, năng suất, phẩm cấp thuốc lá
Dù với mức cung cấp N rất thấp, cây thuốc lá vẫn có thể hình thành đầy
đủ số lá sinh học theo đặc tính di truyền của cây . Trong điều kiện ẩm độ đầy đủ,
tăng mức cung cấp N làm tăng diện tích lá, làm giảm độ dầy của lá dẫn đến làm
giảm khối lượng riêng của lá.
Giai đoạn lá bắt đầu xuất hiện từ đỉnh sinh trưởng khá nhạy cảm với dinh
dưỡng N, đó là giai đoạn phân chia tế bào mạnh mẽ của lá. Do vậy, đây là giai
đoạn nguyên tố N ảnh hưởng lớn nhất đến diện tích cuối cùng của lá (Raper and
Cants, 1967).
Mức độ hấp thu N của cây thuốc lá vàng sấy suy giảm nhanh tại thời điểm
cây bắt đầu xuất hiện nụ là cần thiết, giúp cho quá trình chín của lá diễn ra thuận
lợi. Nghĩa là phải điều khiển sao cho thời điểm cây thuốc lá đạt được diện tích lá

lượng đường khử giảm, sự tích lũy K+, Clo, Fe biến đổi không đáng kể. Ở các
mức bón dưới 60 kgN/ha: tính chất vật lý kém, thành phần hóa học và hương
thơm không hài hòa. Ở mức bón 60 kgN/ha: có thể cải thiện tính chất vật lý, hàm
lượng carotenoid, phản ứng hóa nâu và thành phần hóa học trở nên hài hòa hơn,
chất lượng hương vị trong trường hợp này được đánh giá tinh khiết và đầy đủ.
Do vậy, mức bón 60 kgN/ha được coi là nền tảng để tăng chất lượng, hương vị
cho thuốc lá [est-science].
1.4.3. Dinh dưỡng lân (P) của cây thuốc lá vàng sấy
Lân là thành phần của nhiều vật chất sống quan trọng trong cây thuốc lá.
Trong lá của cây thuốc lá tuổi non, lân chiếm tới 30 % vật chất của axít
ribonucleic và 7 % vật chất của axít deoxyribonucleic. Quá trình quang hợp,
phốtphoryl hoá và các quá trình trao đổi chất kế tiếp liên quan đến chu trình Crebs
cũng như quá trình chuyển hoá đạm của cây thuốc lá đều có nguyên tố lân tham
gia. Lân tập trung chủ yếu ở các mô non của cây và hàm lượng lân giảm thấp theo
tuổi của lá, cũng như tuổi cuả cây (Chouteau and Fauconnier, 1988).
Các nghiên cứu về yếu tố lân (P2O5) cho thấy: Năng suất và sản lượng
tăng sau đó giảm dần khi tăng mức bón lân từ 0 - 210 kg P2O5/ha. Bón lân tăng
cường hấp thu một số nguyên tố khoáng như K và Ca, giảm hàm lượng đường
tổng số và đường khử, tăng hàm lượng đạm tổng số ở các lá giữa và nách dưới,
giảm hàm lượng tinh bột. Bón lân làm tăng đáng kể hàm lượng các thành phần
hương thơm như benzyl alcohol, keto-isophorone, megastigmatrienone và

16


neophytadiene. Mức bón 90 - 120 kg P2O5/ha cho chất lượng hương thơm tốt.
Nghiên cứu ở Nhật Bản chỉ rõ cây thuốc lá được ngắt ngọn có hàm lượng
lân nhiều hơn từ 10 - 60 % so với cây thuốc lá không ngắt ngọn. (Akehurst, 1981;
Chouteau and Fauconnier, 1988) phát hiện thấy mối quan hệ thuận giữa sinh
trưởng của cây và mức cung cấp lân tại nhiệt độ không khí 140C, mối quan hệ này

1990). Hàm lượng Nitơ tổng số trong lá thuốc lá tỉ lệ nghịch với lượng hấp thu
lân của cây (Chouteau and Fauconnier, 1988; Mc Cants and Woltz, 1967;
Akehurst, 1981) cho biết không có mối quan hệ nào đáng kể giữa lân và hàm
lượng Nitơ của lá thuốc lá. (Chouteau and Fauconnier, 1988) giải thích rằng cải
thiện dinh dưỡng lân của cây thuốc lá có thể ảnh hưởng gián tiếp đến hàm lượng
Nitơ trong lá vì cây thuốc lá sinh trưởng nhanh, sớm được ngắt ngọn.
1.4.4. Dinh dưỡng kali (K) của cây thuốc lá vàng sấy
Mặc dù nhu cầu K của cây thuốc lá rất lớn, song vai trò sinh lí cụ thể của
nguyên tố này lâu nay vẫn chưa được làm sáng tỏ . Trong không bào, K chủ yếu
ở dạng ion. K đóng vai trò quan trọng trong sự cân bằng axít/bazơ của không
bào, và điều chỉnh áp suất thẩm thấu của tế bào. K ở dạng kết hợp có rất ít trong
tế bào chất. K còn được biết là đóng vai trò kích hoạt một số hệ thống enzym của
tế bào (Chouteau and Fauconnier, 1988).
K ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây thuốc lá. Thực tế, K liên quan
đến nhiều quá trình chuyển hoá quan trọng trong cây như quá trình tổng hợp
prôtêin. Vì thế, khi thiếu K, đạm hoà tan và đạm amino axít tự do tăng lên trong
cây (Chouteau and Fauconnier, 1988). K có trong muối của các axít hữu cơ, axít
H2CO3. Triệu chứng thiếu K luôn xuất hiện đầu tiên ở lá, chứng tỏ K liên quan
đến mức độ đồng hoá thực của lá (Akehurst, 1981).
Các nghiên cứu về yếu tố kali cho thấy: Khi tăng lượng bón kali từ 247 341 kgK2O/ha sự tích lũy kali tăng, hàm lượng đạm tổng số, nicotin và protein
tăng, trong khi hàm lượng đường tổng số, đường khử giảm và thành phần hóa
học trong lá thuốc trở nên hài hòa. Ngoài ra, khi tăng lượng bón kali còn có tác
dụng cải thiện tính chất cháy, tăng hàm lượng các chất thơm thuộc nhóm
neophytadiene và nhóm hương thơm tự nhiên được hình thành từ carotenoid. Khi
áp dụng mức bón trên 390 kgK2O/ha chất lượng thuốc lá nguyên liệu giảm
[est-science].
K là một trong những thành phần chính của tro thuốc lá. Thông thường,
hàm lượng kali (K2O) trong lá thuốc lá biến động từ 2 - 8 %, trong một số

18

xa nhu cầu tối đa về K của cây (Mc Cants and Woltz, 1967).
Không có bất kì bằng chứng nào cho thấy có mối quan hệ giữa thành phần

19


K với thành phần cacbohydrat và nicotin trong cây thuốc lá ( Akehurst, 1981;
Layten and Nielsen, 1999; Tso, 1990). Ngược lại, (Mc Cants and Woltz, 1967)
thông báo bón K làm giảm hàm lượng nicotin và làm tăng hàm lượng đường
trong lá thuốc lá.
1.4.5. Dinh dưỡng canxi (Ca) của cây thuốc lá vàng sấy
Ngoài vai trò là một trong những yếu tố cấu tạo nên vách giữa tế bào (ở
dạng pectat canxi), Ca còn có chức năng điều chỉnh chung trao đổi chất của tế
bào, có thể ngăn ngừa tình trạng ngộ độc của cây do thừa các ion khác, như ion
Fe, Mn. Ca còn có vai trò trung hoà axit oxalic trong tế bào. Thiếu Ca làm tăng
axit amino tự do, dẫn tới hạn chế tổng hợp protein trong cây thuốc lá.
1.4.6. Dinh dưỡng magie (Mg) của cây thuốc lá vàng sấy
Mg là thành phần thiết yếu của diệp lục, đồng thời nguyên tố này còn
tham gia xúc tác cho hệ enzym liên quan đến sự chuyển hoá hydrat cacbon, sự di
chuyển của nhóm PO4-3 và hệ thống năng lượng của cây.
Khi thiếu Mg, lá thuốc lá có màu vàng nhạt, do cây không tổng hợp được
diệp lục, caroten và xanthophyl. Lá thuốc sau khi sấy của cây thuốc lá thiếu Mg có
màu vàng xỉn, mỏng, kém xốp và khi hút có mùi khó chịu. Theo (Tso, 1997) khi
thiếu Mg lá thuốc có hàm lượng nicotin thấp, hàm lượng đường ít bị ảnh hưởng,
hàm lượng axit amin tự do tăng rõ rệt, cho dù lượng đạm bón ở mức bình thường.
1.4.7. Dinh dưỡng clo (Cl) của cây thuốc lá vàng sấy
Clo được coi là nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu của cây thuốc lá vàng sấy.
Tại miền Đông Nam nước Mỹ, khi bón 25 – 35 kg Cl/ha thường làm tăng năng
suất và đôi khi cải thiện được màu sắc lá thuốc sau khi sấy, nhưng nếu bón cao
hơn cũng không làm tăng cao năng suất hơn mà ngược lại còn làm giảm chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status