Thành phần sâu, nhện hại dưa hấu; đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ trĩ thrips palmi karny và biện pháp hóa học phòng trừ tại hoằng hoá, thanh hóa vụ xuân 2015 - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục chữ viết tắt

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục hình

viii

MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài


1.3. Tình hình nghiên cứu về sâu, nhện hại cây dưa hấu và thiên địch của
chúng trên thế giới và Việt Nam

7

1.3.1. Tình hình nghiên cứu về sâu, nhện hại dưa hấu trên thế giới

7

1.3.2. Tình hình nghiên cứu về sâu nhện hại dưa hấu ở Việt Nam

11

1.4. Nghiên cứu về bọ trĩ Thrips palmi trên thế giới và ở Việt Nam

12

1.4.1. Nghiên cứu về bọ trĩ T. palmi trên thế giới

12

1.4.2. Nghiên cứu về bọ trĩ T. palmi ở Việt Nam

23

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

32

2.1. Đối tượng nghiên cứu

chúng trên cây dưa hấu

33

2.5.3. Điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ T. palmi dưới ảnh hưởng của một
số yếu tố sinh thái tại Hoằng Hoá, Thanh Hoá

35

2.5.4. Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh vật học của bọ trĩ
36

T. palmi
2.5.5. Phương pháp khảo nghiệm một số loại thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ
bọ trĩ T. palmi ngoài đồng ruộng tại Hoằng Hoá, Thanh Hoá

39

2.6. Các chỉ tiêu theo dõi và tính toán

40

2.7. Phương pháp xử lý số liệu

41

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

42



51

3.4. Điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ T. palmi dưới ảnh hưởng của một số
yếu tố sinh thái tại Hoằng Hoá, Thanh Hoá

52

3.4.1. Triệu chứng gây hại của loài T. palmi

52

3.4.2. Sự phân bố của bọ trĩ T. palmi trên cây dưa hấu trong vụ Xuân
2015 tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

53
Page iv


3.4.3. Diễn biến mật độ của bọ trĩ T. palmi trên 2 giống dưa hấu khác
nhau tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa

54

3.4.4. Diễn biến mật độ của bọ trĩ T. palmi trên cây dưa hấu được trồng
trên 2 chân đất vụ Xuân 2015 tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa

55


tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa

66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

68

1.

Kết luận

68

2.

Đề nghị

69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

70

Page v


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

5.

NST

Ngày sau trồng

6.

NXB

Nhà xuất bản

7.

o

Nhiệt độ (độ C)

8.

C. lanatus

Citrullus lanatus

9.

CABI

10.



6

3.1

Diện tích gieo trồng dưa hấu của huyện Hoằng Hóa giai đoạn 2010 - 2014

3.2

Các loại thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu hại được sử dụng trên cây
dưa hấu vụ Xuân 2015 tại Hoằng Hoá - Thanh Hoá

3.3

43

Công tác bảo vệ thực vật trong sản xuất dưa hấu của các hộ sản
xuất tại Hoằng Hóa - Thanh Hóa

3.4

45

Thành phần sâu, nhện hại dưa hấu vụ Xuân 2015 tại huyện Hoằng
Hóa, tỉnh Thanh Hóa

3.5

46



3.10

42

56

Kích thước các pha phát dục của bọ trĩ T. palmi nuôi trên lá dưa
hấu ở điều kiện trong phòng

59

3.11

Thời gian phát dục của bọ trĩ T. palmi trong phòng thí nghiệm

61

3.12

Nhịp điệu sinh sản và sức sinh sản của bọ trĩ T. palmi tại Hoằng
Hóa, Thanh Hóa

3.13

63

Tỷ lệ trứng nở của bọ trĩ T. palmi hại dưa hấu tại Hoằng Hóa,
Thanh Hóa


Cấu tạo chung từ trứng đến nhộng giả của bọ trĩ

15

1.2

Cấu tạo chung của bọ trĩ trưởng thành họ Thripidae

15

2.1

Nhân nuôi nguồn bọ trĩ trong phòng thí nghiệm

37

2.2

Thí nghiệm phòng trừ bọ trĩ T. palmi hại dưa hấu

40

3.1

Một số loài sâu hại dưa hấu vụ Xuân 2015 tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa

47

3.2


ung thư tử cung, ung thư phổi, ung thư tuyến tuỵ. Trong 100 g dưa hấu tươi cung
cấp 4532 mg lycopene, chất chống oxy hoá này cũng giúp làm giảm nguy cơ của
ung thư da (Perkins et al. 2006; USDA, 2008).
Trong vỏ dưa chứa nhiều vitamin ankaloit có tác dụng giải nhiệt hết say
nắng, còn ngăn chặn không cho cholesterol tích động ở thành mạch máu, có tác
dụng chống xơ mỡ động mạch. Phần xanh của vỏ dưa hấu gọi là áo thủy của dưa
hấu có thể chữa các chứng thử nhiệt, phiền khát, phù nề, tiểu tiện kém và miệng
lưỡi viêm nhiệt. Hạt dưa hấu có chứa dầu béo xiturlin có tác dụng thanh nhiệt,
nhuận tràng, dứt khát, trợ giúp cho tiêu hóa, dùng để hạ huyết áp, làm giảm triệu
chứng viêm bàng quang cấp, giảm đau, cầm máu, chữa bí tiểu ở người lớn tuổi.
Cây dưa hấu bắt đầu xuất hiện đầu tiên trên mảnh đất của huyện Hoằng
Hóa vào năm 1993 - 1995 tại xã Hoằng Thắng và Hoằng Đạo. Dưa hấu là một
trong những loại cây trồng nông nghiệp được trồng tập trung, mang tính chất sản
xuất hàng hóa, là cây trồng chủ lực trong cơ cấu vụ Xuân hàng năm của huyện.
Thu nhập của trồng dưa hấu đem lại mức thu nhập cao hơn từ 2,26 - 2,78 lần so
với cây ngô, lạc hay đậu tương; còn nếu tính lãi thu được sau khi trừ chi phí cơ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


bản thì cây dưa hấu đem lại mức lãi gấp 2,0 - 2,74 lần. Chính vì vậy, cây dưa hấu
được người dân quan tâm đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa, đem lại nguồn thu
nhập cho người dân góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương.
Cho tới nay có ít nghiên cứu về sâu, nhện hại dưa hấu huyện Hoằng Hoá, tỉnh
Thanh Hoá.
Cây dưa hấu bị nhiều loài sâu, nhện gây hại làm ảnh hưởng tới năng suất
và chất lượng sản phẩm. Bọ trĩ có thể gây hại nặng ở tất cả các giai đoạn phát
triển của cây, chúng tập trung chích hút nhựa làm đọt non và lá non xoăn lại, lá
có nhiều đốm nhỏ không định hình màu vàng nhạt, ngọn cây dưa bị thui chột,

- Điều tra thực trạng sản xuất dưa hấu ở Hoằng Hoá, Thanh Hoá.
- Xác định thành phần sâu, nhện hại và thiên địch của bọ trĩ trên dưa hấu
vụ Xuân 2015 tại Hoằng Hoá, Thanh Hoá.
- Theo dõi diễn biến mật độ bọ trĩ phổ biến dưới ảnh hưởng của một số
yếu tố sinh thái tại Hoằng Hoá, Thanh Hoá.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài bọ trĩ phổ biến.
- Thử nghiệm phòng trừ bọ trĩ hại dưa hấu bằng biện pháp hóa học tại
Hoằng Hoá, Thanh Hoá đạt hiệu quả.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những dẫn liệu về thành phần sâu, nhện
hại, loài bọ trĩ (Thrips palmi) gây hại trên cây dưa hấu, đồng thời bổ sung một số
dẫn liệu về ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến diễn biến bọ trĩ gây hại
trên cây dưa hấu, giúp người sản xuất nhận biết loài bọ trĩ hại dưa hấu trên
đồng ruộng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá được hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đối
với bọ trĩ (Thrips palmi) có hiệu quả phòng trừ đạt hiệu quả kinh tế và môi
trường để áp dụng trong sản xuất.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bọ trĩ là loài đa thực, chúng hại nhiều cây trồng, ở nhiều nước khác nhau.
Trên thế giới có khoảng 5.000 loài bọ trĩ được biết, trong đó chỉ có 1% loài gây

1.2. Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất dưa hấu trên thế giới
Dưa hấu thuộc nhóm cây hai lá mầm, họ bầu bí (Cucurbitaceae), là loại
cây trồng ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao, có thể tham gia trong nhiều công thức
luân canh khác nhau. Dưa hấu có nguồn gốc từ châu Phi, trên cơ sở phân tích
DNA lục lạp, dưa hấu trồng và dưa hấu hoang dã tách ra độc lập từ một tổ tiên
chung, có thể từ loài Citrullus ecirrhosus ở Namibia (Fenny and Jiarong, 2006).
Lanatus là một trong 3 loài của giống Citrullus, chúng có mặt ở lưu vực
sông Nile từ 2000 năm trước Công nguyên. Dưới các triều đại vua Ai Cập, dưa
hấu được coi là một biểu tượng về phương thức sinh sống, thường đặt trong các
lăng mộ của các Phraon sau khi chết. Chúng có mặt tại Tây Ban Nha, Bồ Đào
Nha và khu vực Nam Mỹ khoảng năm 1600 sau Công nguyên và xuất hiện tại
Hawaii vào cuối Thế kỷ 18 (Zohary and Hopf, 2000).
Theo Carol (2005), trên thế giới có khoảng 1.200 giống dưa hấu, có 200 300 giống được trồng ở Mỹ và Mexico. Đông Nam châu Á là khu vực có diện
tích trồng dưa lớn nhất thế giới (chiếm trên 50%).
Trên thế giới, trong giai đoạn 1995 - 2003 diện tích trồng dưa hấu tăng
4,2%, năng suất tăng 25,6% và sản lượng tăng 9,9%. Theo số liệu thống kê của
Tổ chức Nông Lương thế giới (FAOSTAT, 2013), trong năm 2012 tổng sản
lượng dưa hấu của toàn thế giới khoảng 95,2 triệu tấn. Các nước có sản lượng
dưa hấu lớn nhất là Trung Quốc (70,00 triệu tấn), Thổ Nhĩ Kỳ (4,04 triệu tấn),
Iran (3,80 triệu tấn), Brazil (2,08 triệu tấn), và Ai Cập (1,87 triệu tấn).
1.2.2. Tình hình sản xuất dưa hấu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các vùng trồng dưa hấu truyền thống như ở Hải Dương,
Quảng Ngãi, Tiền Giang, Long An,... thường cung cấp lượng hàng lớn để tiêu
dùng nội địa. Ở đồng bằng sông Cửu long trong vài năm trở lại đây dưa hấu được
trồng quanh năm. Dưa hấu mùa mưa trồng nhiều nhất ở Tiền Giang, Long An
chiếm hàng ngàn hecta. Nơi có truyền thống trồng dưa hấu Tết, dưa hấu Xuân Hè
là Đồng Tháp, Cần Thơ (Trần Văn Hai và Trần Thị Ba, 2005).
Dưa hấu là loại cây có thân dạng bò lan, sống hàng năm. Thân phủ nhiều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

1997

18,5
19,0

19,7
23,5

200,0
200,0

1998
1999
2000
2001

19,0
19,0
19,0
19,0

21,7
24,4
24,7
25,1

200,0
200,0
200,0
244,7


1.3. Tình hình nghiên cứu về sâu, nhện hại cây dưa hấu và thiên địch của
chúng trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về sâu, nhện hại dưa hấu trên thế giới
Theo Palumbo and Kerns (1998), sâu hại chính trên cây dưa hấu Citrullus
lanatus trồng tại các bang Arizona và California (Mỹ) gồm có các loài sâu xám
Agrotis ipsilon, ngài đêm đa màu Peridroma saucia, Feltis subterranea, ruồi đục
quả Delia platura, bọ đen Blaspstinus spp., ruồi đục lá Liriomyza sativae,
L. trifolii, sâu xanh da láng Spodoptera exigua, sâu đo Trichoplusia ni, nhện nhỏ
Tetranychus spp., bọ phấn Bemisia tabaci, B. argentifolii, rệp đào Myzus
persicae, rệp bông Aphis gossypii.
Theo IHS (2000), trên dưa hấu có 41 loài nằm trong danh mục kiểm soát
của New Zealand, trong đó có các loài như Bemisia tabaci, Phyllophaga sp.,
Tetranychus kanzawai, Thrips palmi, Aulacophora foveicollis, Aulacophora
hilaris, Chaetocnema spp., Monolepta australis, Epilachna boisduvali, …
Theo Pawar et al. (2003), thành phần sâu, nhện hại chính trên cây dưa hấu
bao gồm bọ dưa (Aulacophora faveicollis), ruồi đục lá (Liriomyza trifolii), bọ trĩ
(Thrips sp.), bọ phấn (Bemisia tabaci), rệp muội (Aphis sp.), bọ xít nâu
(Halyomorpha halys), ruồi đục quả (Dacus cucurbitae và D. dorsalis) và nhện đỏ
(Tetranychus sp.).
Theo kết quả nghiên cứu của Stephens and Dentener (2005), loài bọ trĩ
T. palmi gây hại trên nhiều loại cây trồng tại New Zealand, trong đó có cây
dưa hấu.
Theo Katja et al. (2009), rệp bông Aphis gossypii và rệp đào Myzus
persicae là hai loài gây hại chủ yếu trên cây dưa hấu tại Croatia trong năm 2008.
Tác giả Sendi et al. (2009) đã xác định được 17 loài bọ trĩ trong đó có các
loài như Franklineilla intonsa, Microcephalothrips abdominalis, T. palmi… gây
hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau, trong đó có cây dưa hấu tại vùng
Guilan, Iran.
Theo Seif and Nyambo (2011), các loài sâu nhện hại chính trên cây dưa

Frankliniella fusca và bọ trĩ vàng T. palmi (Susan, 1996). Bọ trĩ thuốc lá là vấn
đề đáng quan tâm ở vùng Trung và Bắc Florida nhưng hiếm khi được tìm thấy ở
Nam Florida. Bọ trĩ dưa là loại sâu hại quan trọng ở Nam Florida, và đây được
coi là loài sâu hại tương đối mới. Thiệt hại đáng kể nhất được ghi nhận lần đầu
tiên vào năm 1991 tại những trang trại của Quận Miami. Cả bọ trĩ non và trưởng
thành đều sống tập trung trên ngọn, lá non, hoa và quả non. Triệu chứng để lại
những vết gỉ màu đồng trên lá cây.
Ở Nam Florida, bọ trĩ phát sinh quanh năm nhưng cao điểm nhất là tháng
mười hai và tháng tư. Vòng đời của bọ trĩ khoảng 20 ngày ở điều kiện nhiệt độ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


300C, nhưng kéo dài tới 80 ngày ở điều kiện nhiệt độ 150C. Mỗi con cái có thể đẻ
trung bình 50 trứng (Murai, 2000). Việc sử dụng những loại thuốc có phổ tác
động rộng có thể sẽ làm tăng mật độ quần thể do những kẻ thù tự nhiên bị tiêu
diệt (Wael and Mark, 2013).
Tại Philippines, sự bùng phát thành dịch của loài bọ trĩ T. palmi đã phá
hủy gần 80% diện tích trồng dưa hấu ở các tỉnh Luzon và Laguna (CABI, 2014).
Theo Costa et al. (2015), bọ trĩ gây hại trên cây dưa hấu tại vùng Rio
Grande do Norte, Brazil gồm có hai loài là Frankliniella schultzei (Trybom)
(Thripidae) và Haplothrips gowdeyi (Franklin) (Phlaeothripidae), trong đó loài
H. gowdeyi được lần đầu ghi nhận gây hại trên cây dưa hấu tại Brazil.
* Rệp muội hại dưa hấu
Rệp muội là loại sâu hại quan trọng nhất với sản xuất dưa hấu ở Florida.
Có 5 loài rệp muội đã được phát hiện là rệp bông Aphis gossypii, rệp đào Myzus
persicae, rệp đậu A. craccivora, A. spiraecola, và A. middletonii, trong đó 3 loài
A. gossypii, A. craccivora và Myzus persicae là nguy hiểm hơn cả bởi ngoài tác
hại trực tiếp, chúng còn là môi giới truyền nhiều bệnh virus khác. Tác hại trực

đặc điểm thời tiết này là rất phổ biến tại Virginia trong những năm gần đây.
* Biện pháp phòng chống sâu, nhện hại dưa hấu
Theo Walker (1994), trong biện pháp sinh học, sử dụng loài Ceranisus sp.
Orius sp. Bilia sp. có khả năng kìm hãm số lượng bọ trĩ Thrips palmy cao.
Việc phòng trừ nhện đỏ được khuyến cáo khi có 10 - 15% số lá non bị
nhện hay khi có trên 50% số lá già bị nhện. Việc sử dụng nhóm thuốc dimethoate
trừ sâu cuốn lá cũng có tác dụng giảm mật độ nhện. Những sản phẩm như AgriMek, Kelthane MF và Capture 2EC là những thuốc trừ nhện rất tốt. Nếu liên tục
sử dụng nhóm thuốc carbofuran (Furadan) và carbaryl (Sevin) hay các thuốc trừ
sâu phổ rộng thuộc nhóm cúc tổng hợp (Pyrethroids) sẽ dẫn tới tình trạng kháng
thuốc ở nhện đỏ (Therese et al., 2003).
Dùng dịch chiết thực vật từ cây Thymus satureoïdes, Origanum
compactum và cây Azadirachta indica có hiệu quả phòng trừ một số loài rệp
(Aphis sp.) hại cây dưa hấu (Abderrahmane and Lahcen, 2012).
Theo Souza et al. (2012), sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất deltamethrin
và thiamethoxam có hiệu lực phòng trừ nhiều loài sâu gây hại trên cây dưa hấu
tại bang Tocantins, Brazil.
Sử dụng dịch chiết từ cây neem (A. indica), tỏi (A. sativum) với nồng độ
5% và thuốc BVTV Karate 2.5EC có hiệu quả phòng trừ loài Epilachna beetle
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


gây hại trên cây dưa hấu (Degri and Sharah, 2014). Sử dụng dịch chiết từ cây
Tephrosia vogelii and Moringa oleifera với nồng độ 5%, 10% và 20% có hiệu
quả phòng trừ các loài như Phyllotreta cruciferae, Diabrotica undecimpunctata
và Bactrocera curcubitea gây hại trên cây dưa hấu (Alao and Adebayo, 2015).
1.3.2. Tình hình nghiên cứu về sâu nhện hại dưa hấu ở Việt Nam
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Hồng Yến (2009), trên dưa hấu ở tỉnh
Hòa Bình đã ghi nhận có 42 loài sâu hại chính thuộc 22 họ và 7 bộ côn trùng và 1

môi trường cho nấm bồ hóng ký sinh, phát triển. Bọ phấn sinh sống tập trung chủ
yếu ở mặt dưới lá (Trần Đình Phả, 2008). Việc phòng trừ bọ phấn phải kết hợp
nhiều biện pháp, trong đó biện pháp canh tác cần được chú trọng.
*Nhện đỏ hại dưa hấu
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu trên cây dưa hấu, Mai Văn Hào và cs. (2008)
cho thấy nhện sống tập trung ở mặt dưới lá, chích hút nhựa cây tạo nên những vết
chấm trắng làm bề mặt lá có những vệt sáng hay rám nắng giữa các gân lá, cuối
cùng lá héo chết, cây còi cọc. Khi mật độ nhện cao, xuất hiện các đám tơ nhện
mảnh, màu trắng. Nhện 2 chấm phát triển mạnh trong điều kiện môi trường nóng,
khô (ít nhất là 80oF, tương đương 26oC và ẩm độ không khí dưới 50%), mà điều
kiện này lại là môi trường rất phổ biến đối với canh tác trong nhà lưới. Hầu hết
các thuốc trừ nhện sẽ không diệt được trứng nhện, vì vậy lần xử lý thuốc thứ 2
nên tiến hành gần ngày so với lần thứ nhất để tiêu diệt nhện non mới nở từ trứng
và nhện trưởng thành còn sót lại. Nên sử dụng các chất hoạt động bề mặt để làm
tăng hiệu lực trừ nhện của thuốc hóa học.
1.4. Nghiên cứu về bọ trĩ Thrips palmi trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Nghiên cứu về bọ trĩ Thrips palmi trên thế giới
Về phân loại, theo tài liệu của CABI (2014), bọ trĩ Thrips palmi thuộc:
Giới: Metazoa
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ: Uniramia
Lớp: Insecta
Bộ: Thysanoptera
Họ: Thripidae
Chi: Thrips
Loài: Thrips palmi
a) Phân bố địa lý và phạm vi ký chủ
Bọ trĩ Thrips palmi K. là loài phổ biến ở khắp các vùng trồng dưa trên thế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


Theo Loomans et al. (1999) , bọ trĩ T. palmi gây hại trên cây thuộc chi

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


sung (Ficus) ở Hà Lan nhưng kết quả nghiên cứu của O'Donnell và Parrella
(2005) đã chứng minh rằng bọ trĩ T. palmi không đẻ trứng trên cây sung.
Ở Nhật Bản, ngưỡng gây hại kinh tế được đánh giá là 0,105 con trưởng
thành trên hoa hoặc 4,4 trưởng thành vào bẫy tấm dính trên một ngày trên cây ớt
trong nhà được che phủ plastic. Với mật độ trên có thể làm giảm năng suất 5% so
với năng suất tối đa. Theo CABI (2014) cho thấy năng suất bị mất đi 5% khi mật
độ bọ trĩ T. palmi 0,08 con trưởng thành/lá cà tím và 4,4 con trưởng thành/ lá dưa
hấu và 0,1 con trưởng thành/ lá cây ớt.
Sự gậy hại của bọ trĩ T. palmi không khác nhiều so với các loài bọ trĩ
khác. Khi mật độ cao, vết hại của chúng tạo thành các vết màu bạc gồ ghề trên bề
mặt lá của cây, đặc biệt theo gân chính và gân phụ của lá và trên bề mặt quả
(CABI, 2014). Các lá và đỉnh sinh trưởng bị ức chế sinh trưởng, trên quả xuất
hiện các vết sẹo và quả biến dạng. Nói chung, những lá bị hại xuất hiện màu tối,
bóng loáng, giống như ngọc trai. Cây bông bị bọ trĩ tấn công có triệu chứng rất
phổ biến, trên mô già nhất trở nên dày, cong và cuối cùng bị rách. Cây con cũng
thường bị tấn công trong các thời kỳ mùa khô héo kéo dài vào đầu vụ sớm. Ở
Puerti Rico bọ trĩ T. palmi gây hại rất nghiêm trọng trên cây thuộc họ bầu bí và
họ cà, trưởng thành và bọ trĩ non có mật độ cao trên lá, thân, hoa và quả non. Cây
hồ tiêu trở nên lùn xuất hiện màu trắng bạc trên lá, trên cà tím thì quả non bị
rụng, chồi bị héo và quả bị biến dạng.
Bọ trĩ T. palmi gây hại làm xuất hiện màu vàng của lá, ngọn, những vết
xước trên quả, làm biến dạng của quả, khả năng ra quả ít và chết toàn cây khi bọ
trĩ đạt mật độ cao (CABI, 2014).

(Bournier, 1983).
Ở bộ phụ Tululiera, đẻ tập trung 3 - 4 trứng dưới bề mặt lá cây và được
trộn với chất dịch nhầy bao phủ thành lớp màng đệm bảo vệ.
Tuỳ theo điều kiện thời tiết khí hậu mà thời gian phát dục của trứng bọ trĩ
thay đổi từ vài ngày đến vài tuần. Mỗi một trưởng thành cái có thể đẻ từ 30 đến
300 quả trứng tuỳ theo loài, điều kiện nhiệt độ và chất lượng thức ăn. Bọ trĩ non
có 2 tuổi, bọ trĩ non tuổi 1 lột xác sang tuổi 2 sau vài ngày (3 - 4 ngày) tuỳ thuộc
vào điều kiện thời tiết khí hậu. Sau 5 - 12 ngày bọ trĩ hoá nhộng trong kén tại
đỉnh sinh trưởng hoặc trong các khe hở trên cây hoặc rơi xuống đất để hoá nhộng
trong đất ở độ sâu khoảng 2 - 25 cm tuỳ thuộc loại đất. Thời gian từ tiền nhộng
chuyển sang nhộng khoảng 1 - 3 ngày và cũng sau khoảng 1 - 3 ngày nhộng hoá
trưởng thành (bộ phụ Terebrantia) hoặc chuyển sang giai đoạn nhộng thứ 2 (bộ
phụ Tululifera). Bọ trĩ trưởng thành có thể sống từ 8 - 25 ngày. Vòng đời bọ trĩ
khoảng 10 - 30 ngày phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ (Bournier, 1983).
Theo nghiên cứu của McMurtry (1991) (dẫn theo CABI, 2014) đã ghi
nhận rằng ở nhiệt độ 26oC nuôi bằng lá đậu trạch thời gian phát dục của con cái
loài T. palmi là 11,5 ngày, sức sinh sản là 18,3 quả/con cái, thời gian vòng đời là
27,3 ngày và tỷ lệ tăng tự nhiên (r) là 0,125.
Theo Graham (1998) (dẫn theo CABI, 2014) cho biết một vòng đời của bọ
trĩ T. palmi có 6 giai đoạn phát dục, trứng, sâu non tuổi 1, tuổi 2, tiền nhộng,
nhộng và trưởng thành. Khi nuôi bọ trĩ T. palmi ở nhiệt độ 30oC vòng đời là 10 12 ngày và ở nhiệt độ 25oC là 14 - 16 ngày.
Tỷ lệ tăng tự nhiên của bọ trĩ cũng được nhiều tác giả nghiên cứu khi nuôi
chúng trên nhiều loài cây trồng ở Nhật Bản. Tác giả Kajitani et al. (1998) (dẫn
theo CABI, 2014) nghiên cứu trên cây cà tím cho thấy T. palmi không thể qua

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 16




Trưởng thành (có thể sống tới 45 ngày).
Theo Lu and Lee (1987) (dẫn theo CABI, 2014) khi nghiên cứu các đặc

điểm sinh học của T. palmi trên hành cho thấy. Ở điều kiện nhiệt độ 19,5; 16,2;
và 24oC thì thời gian hoàn thành giai đoạn trứng là 4,9 - 9,5 ngày; sâu non là 5,03
- 8,9 ngày; nhộng là 4,4 - 8,9 ngày; trưởng thành là 10,4 - 18,6 ngày; thời gian đẻ
trứng là 9,9 - 13,1 ngày. Số lượng bọ trĩ tăng mạnh từ tháng 11 năm trước đến
tháng 4 năm sau và giảm đáng kể khi nhiệt độ tăng cao trên 25oC.
Wang et al. (1989) (dẫn theo CABI, 2014) đã tìm ra được đặc tính đẻ
trứng của T. palmi ở Đài Loan, giai đoạn trước đẻ trứng là 1 - 3 ngày, giai đoạn
ghép đôi giao phối là 1 - 5 ngày. Con cái trung bình đẻ 7,9 quả mỗi ngày và trong
một đời con cái có thể đẻ từ 3 - 164 trứng. Nếu có sự giao phối thì số trứng đẻ là
0,8 - 7,3 quả mỗi ngày và từ 3 - 204 quả trong suốt một đời của chúng.
Khi nuôi bọ trĩ T. palmi trong nhà lưới và ngoài đồng ruộng tại Wakayana
(Nhật Bản) đã được Azuma (1989) (dẫn theo CABI, 2014) đã xác định đặc điểm
sinh học của T. palmi: sự qua đông không xuất hiện ngoài đồng ruộng do nhiệt
độ thấp, nhưng những quần thể bọ trĩ này lại duy trì trong nhà lưới. Vào cuối

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 17


tháng 7 những con trưởng thành đã phát tán trên cánh đồng cà tím trong khoảng
cách nhà kính khoảng 500m thì sự qua đông đã xuất hiện. Sau sự phát tán mật độ
quần thể thay đổi do việc sử dụng thuốc trừ dịch hại, bọ trĩ ở rìa cánh đồng mật
độ cao hơn ở trung tâm cánh đồng. Cánh đồng cà tím có bờ bao quanh có hiệu
quả ngăn chặn sự di cư của loài dịch hại này.
Sinh sản của T. palmi đã được Bernardo (1991) (dẫn theo CABI, 2014) đề

(Walker) (Hymenoptera: Eulophidae) ký sinh sâu non. Hai loài ong ký sinh này
đều đã xuất hiện ở Nhật Bản.
* Côn trùng bắt mồi
Bốn loài côn trùng bắt mồi được xác định là thiên địch của bọ trĩ
T. palmi gồm: Bilia sp. (Hemiptera: Anthocoridae) tấn công bọ non và trưởng
thành bọ trĩ T. palmi, Orius sp. (Hemiptera: Anthicoridae) tấn công bọ non và
trưởng thành,

Cambylomma sp.

(Hemiptera: Miridae),

Franklinothrips

vespiformis (Crawford) tấn công bọ non và 2 loài nhện bắt mồi Amblyseius sp.
tấn công bọ trĩ non tuổi 2, Phytoseius sp. tấn công bọ trĩ non tuổi 1; theo Yoshimi
(1993) (dẫn theo CABI, 2014) có 18 loài thiên địch bắt mồi bọ trĩ T. palmi trong
đó có 5 loài nhện tấn công bọ trĩ non và 15 loài côn trùng bắt mồi tấn công bọ trĩ
non và trưởng thành.
Các loài thiên địch bắt mồi của bọ trĩ chủ yếu là bọ xít bắt mồi thuộc họ
Anthocoridae. Có khoảng từ 500 đến 600 loài thuộc họ Anthocoridae phân bố
trên thế giới. Tất cả các loài thuộc họ này đều có vòi chích hút cơ thể vật chủ
(CABI, 2014). Những loài bọ xít thuộc Anthocoridae đóng vai trò quan trọng
nhất trong phòng trừ sinh học của bọ trĩ T. palmi ở rất nhiều nơi mà chúng là dịch
hại. Bảy loài được đề cập tới bao gồm: Orius sp. ở Nhật Bản: O. similis và O.
tantilus ở Philippines; O. sauteri ở Đài loan; O. maxidentex và Carayonocoris
indicus ở Ấn Độ;... (CABI, 2014).
* Sinh vật gây bệnh cho bọ trĩ
Lần đầu tiên Kirk (1985) (dẫn theo CABI, 2014) thông báo về một loài
nấm côn trùng Neozygites parvispora gây bệnh trên loài bọ trĩ T. palmi gây hại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status