BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
............
............
TRƯƠNG THỊ KHA
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA VIRUS LỞ MỒM LONG MÓNG TYPE A
PHÂN LẬP Ở LỢN TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ VĂN PHAN
HÀ NỘI, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
tháng
Học viên
Trương Thị Kha
iii
năm 2015
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh sách các chữ viết tắt
vii
Danh mục bảng
1.1.4. Tình hình nghiên cứu bệnh lở mồm long móng tại ViệtNam
5
1.2. Đặc điểm sinh học của virus lở mồm long móng
11
1.2.1. Căn bệnh
11
1.2.2. Sự phân bố các chủng virus gây bệnh
13
1.2.3. Dịch tễ học
14
1.2.4. Triệu chứng ở lợn
16
1.2.5. Bệnh tích
16
1.2.6. Các phương pháp chẩn đoán
2.3. Nội dung nghiên cứu
21
iv
2.3.1. Ứng dụng phương pháp RT-PCR trong chẩn đoán nhanh các chủng
virus LMLM gây bệnh.
21
2.3.2. Phân lập các chủng virus gây bệnh LMLM type A ở lợn từ các
mẫu bệnh phẩm thu thập được.
21
2.3.3. Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của chủng virus LMLM type
A phân lập được
21
2.3.4. Giải mã, phân tích gen VP1 và xác định các type, phân type của các
chủng virus LMLM gây bệnh. Xác định nguồn gốc tiến hóa, sự biến đổi
di truyền của các chủng virus LMLM type A gây bệnh.
21
2.4. Vật liệu nghiên cứu
2.6. Phương pháp nghiên cứu
24
2.6.1. Phương pháp thu thập và xử lý mẫu
24
2.6.2. Phương pháp tách chiết RNA từ mẫu bệnh phẩm
24
2.6.3. Phương pháp One-step RT-RCR
24
2.6.4. Phương pháp phân lập virus LMLM trên môi trường tế bào BHK21
26
2.6.5. Phương pháp xác định hiệu giá virus trên môi trường tế bào
29
2.6.6. Phương pháp giải trình tự gen
30
2.6.7. Phương pháp xử lý số liệu
34
3.2.1. Kết quả phân lập virus LMLM trên môi trường tế bào BHK-21
34
3.2.2. Kết quả RT-PCR kiểm tra 7 mẫu virus LMLM type A đã phân lập được
39
3.3. Kết quả nghiên cứu đặc tính sinh học của 7 chủng virus LMLM type A
phân lập được.
39
3.4. Kết quả giải trình tự gen VP1
40
3.4.1. Kết quả về so sánh mức độ tương đồng về Nucleotide giữa 7 chủng
virus LMLM type A và với các chủng tham chiếu khác của Việt Nam
41
3.4.2. Kết quả so sánh mức độ tương đồng về amino acid của gen VP1
của 7 chủng virus LMLM với các chủng tham chiếu
45
3.5. Kết quả xây dựng cây phát sinh chủng loại
FBS
Fetal Bovine Serum
LMLM
Lở mồm long móng
PBS
Phosphate Buffered Saline
PCR
Polymerase Chain Reaction
RNA
Ribonucleotide Acid
RT-PCR
Reverse Transcription- Polymerase Chain Reaction
SN
Serum Neutralizing
TBE
22
2.2
Thành phần phản ứng RT-PCR
25
2.3
Chu trình nhiệt của phản ứng RT-PCR
25
3.1
Thông tin mẫu bệnh phẩm
31
3.2
Kết quả chẩn đoán định tính và định type virus LMLM
33
3.3
Kết quả gây nhiễm 7 mẫu virus LMLM trên môi trường tế bào
Tên hình
Trang
1.1
Hình thái và cấu tạo virus Lở mồm long móng
11
1.2
Sơ đồ cấu trúc hệ gen của virus LMLM
13
3.1
Kết quả chẩn đoán định tính virus LMLM đối với 15 mẫu bệnh
phẩm bằng phản ứng RT-PCR
32
3.2
Kết quả định type virus LMLM bằng phản ứng RT-PCR
33
47
Cây phát sinh chủng loại của các chủng FMDV type A phân lập tại
Việt Nam
48
ix
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một loại bệnh truyền nhiễm cấp
tính cực kỳ nguy hiểm do virus gây ra trên động vật móng guốc chẵn như lợn,
bò, trâu, hươu, dê... Bệnh lây lan rất nhanh qua nhiều con đường khác nhau
như tiếp xúc trực tiếp giữa động vật với nhau, qua con đường hô hấp, tiêu hóa,
sinh dục (Kiều Mạnh Hùng, 2012). Chính vì vậy mà Tổ chức Thú y thế giới
(OIE) xếp thứ hạng bệnh LMLM đầu tiên trong danh mục bảng A gồm 15
bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của gia súc. Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về
kinh tế và ảnh hưởng đến thương mại đặc biệt là việc buôn bán động vật và
sản phẩm có nguồn gốc động vật. Việc phòng chống bệnh LMLM ở nhiều
nước là chính sách rất quan trọng, nhất là trong nền kinh tế thị trường, có hay
không có bệnh LMLM là một tiêu chí quan trọng trong quan hệ buôn bán quốc
tế và mọi quốc gia đều sử dụng nó như là một vũ khí thương mại (Nguyễn
Tiến Dũng, 2000).
Virus gây bệnh lở mồm long móng có tên tiếng anh là Foot and Mouth
Disease Virus (FMDV) là một picornavirus thuộc giống Aphthovirus, họ
Picornavirus. Hiện nay FMDV gồm 7 type huyết thanh là O, A, C, Asia 1,
SAT1, SAT2 và SAT3 (C. Carrillo, 2005). Trong một type lại chia thành các
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình bệnh LMLM trên thế giới và tại Việt Nam
1.1.1. Thông tin chung về bệnh lở mồm long móng
Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một loại bệnh truyền nhiễm cấp tính
cực kỳ nguy hiểm do virus LMLM có tên tiếng anh là Foot and Mouth Disease
Virus (FMDV) gây ra trên động vật móng guốc chẵn như lợn, bò, trâu, hươu,
dê..(Thomson, Vosloo et al. 2003). Bệnh lây lan rất nhanh qua nhiều con đường
khác nhau như tiếp xúc trực tiếp giữa động vật với nhau, qua con đường hô hấp, tiêu
hóa, sinh dục... Chính vì vậy mà Tổ chức Thú y thế giới (OIE) xếp bệnh LMLM là
bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hàng đầu trong các bệnh truyền nhiễm ở động vật
(Belsham, Jamal et al. 2011) .
Bệnh được gây ra bởi 1 trong 7 type vi rút: Type A, O, C, Asia1, SAT1,
SAT2, SAT3, với hơn 60 phân type, ở Việt Nam đã phát hiện bệnh gây ra bởi 3
type A, O và Asia1. Bệnh LMLM lây lan qua đường tiếp xúc giữa động vật khoẻ
với động vật, sản phẩm động vật, thức ăn, nước uống, không khí, chất thải, dụng
cụ, phương tiện vận chuyển, có mang mầm bệnh. Bệnh lây lan từ vùng này sang
vùng khác, tỉnh này sang tỉnh khác, nước này sang nước khác theo đường vận
chuyển động vật, sản phẩm động vật ở dạng tươi sống (kể cả thịt ướp đông, da,
xương, sừng, móng, sữa, lông,... ). Động vật mắc bệnh LMLM là các loài động
vật có móng guốc chẵn như: trâu, bò, lợn, dê, cừu, hươu nai,... . Mặc dù xuất hiện
như một loại bệnh nhẹ, có tỷ lệ tử vong thấp ngoại trừ những con vật non, từ 25% đối với gia súc trưởng thành và 20-50% ở đàn gia súc như bê, nghé, lợn con.
Ở gia súc sinh sản, bệnh LMLM làm sảy thai khoảng 25% động vật có chửa, sản
lượng sữa giảm 50% do viêm vú và lượng sữa thu được phải trải qua nhiều khâu
khử trùng phức tạp mới sử dụng được. Điều này cho thấy sự thiệt hại về kinh tế
do bệnh LMLM gây ra là rất trầm trọng (Knowles, 2001).
3
Tulman et al. 2005)
4
Dựa vào phân tích cây phát sinh chủng loại của trình tự gen VP1, type O
được chia thành 10 genotype, ký hiệu Europe-South America (Euro-SA), Middle
East-South Asia (ME-SA), Southeast Asia (SEA), Cathay (CHY), West Africa
(WA), East Africa 1 (EA-1), East Africa 2 (EA-2), East Africa 3 (EA-3),
Indonesia-1 (ISA-1), và Indonesia-2 (ISA-2) (Knowles, Samuel et al. 2005).
Type Asia 1 được chia thành 6 genotypes (I–VI)(Valarcher, Knowles et al.
2009). Ngoài 7 type virus cơ bản trên thì người ta đã thừa nhận có khoảng 70
phân type của virus LMLM (Sobrino, Sáiz et al. 2001).
Ở khu vực Đông Nam Á, những năm gần đây virus LMLM serotype O, A,
và Asia 1 được cho là nguyên nhân chính gây ra các trận đại dịch ở Campuchia,
Lào, Malaysia, Myanma, Philippine, Thái Lan và Việt Nam. Những nghiên cứu
về virus LMLM cho thấy các chủng virus LMLM phân lập được tại những nước
này có tính tương đồng cao về trình tự nucleotide (Gleeson 2002; Knowles,
Samuel et al. 2005; Valarcher, Knowles et al. 2009; Nguyen, Lee et al. 2010)
Trên thế giới, vắc-xin phòng bệnh LMLM đã được nghiên cứu sản xuất từ
đầu những năm 1900 và được coi là yếu tố quyết định trong công tác phòng
chống dịch bệnh. Ngày nay vắc-xin phòng bệnh LMLM được sản xuất tại nhiều
nước trên thế giới như Hà Lan, Pháp, Nga, Trung Quốc.Từ đầu thế kỷ 21 các
phương pháp sản xuất vắc-xin vô hoạt phòng bệnh LMLM đã được cải tiến
nhiều.Thành phần virus kháng nguyên của vắc-xin có thể là một hoặc nhiều
serotype được trộn với các chất bổ trợ (Doel, 2003). Nhiều nước trên thế giới đã
thanh toán được bệnh dịch LMLM như Australia, New Zealand, các nước thuộc
quần đảo Thái Bình Dương, các nước thuộc EU, các nước thuộc vùng Bắc Trung
Mỹ. Ở khu vực Đông Nam Á bao gồm Thái Lan, Indonesia, Philippines.Các
nước trên đều phải thực hiện một chương trình quốc gia về tiêm phòng nhiều
con dê phải tiêu hủy.
Theo số liệu tổng hợp năm 2010 số trâu bò bị mắc bệnh LMLM là 12.826
con, so với năm 2009 tăng 5.595 con. Tuy nhiên số bị chết, xử lý là 225 con,
giảm 183 con so với năm ngoái. Tổng số lợn bị LMLM năm 2010 là 1.472 con,
tăng 973 con so với năm ngoái; số lợn bị chết, xử lý là 818 con, tăng 389 con.
Dịch đã xảy ra ở 297 xã thuộc 103 huyện của 28 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, Hà
Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Quảng
Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Bà Rịa Vũng
6
Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Phú Thọ và Thái Nguyên với tổng số
16.333 con trâu, bò mắc bệnh, 419 con trâu bò tiêu hủy, trong đó có 16 tỉnh,
thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với tổng số 1,675 con lợn mắc bệnh, 848
con phải tiêu hủy. Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 12/2010 với trên 98 ổ
dịch và tháng 11/2010 là 56 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng khác dịch
xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương. Các ổ dịch LMLM từ đầu năm 2010
đến nay là do vi rút LMLM chủng O gây ra (Bộ NN $ PTNT, 2010)
Từ đầu năm 2011 đến nay dịch xảy ra ở 35 tỉnh thành trên toàn quốc. Tổng
số gia súc mắc bệnh là 140.979 con trâu bò lợn, dê trong đó có 74.256 con trâu,
22.965 con bò và 42.134 con lợn; 1.624 con dê. Tổng số gia súc bị chết và tiêu
hủy là 39.228 con trong đó 6.217 con trâu, 805 con bò, 31.993 con lợn và 213
con dê phải tiêu hủy (Bộ NN & PTNT, 2011).
Theo báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch 12 tháng năm 2012 ngành nông
nghiệp và phát triển nông thôn, ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nông Nghiệp
và Phát triển nông thôn thì năm 2012 dịch lở mồm long móng đã xuất hiện ở 59
xã/ phường, thuộc 29 huyện của 12 tỉnh: Đắk Lắc, Đăk Nông, Hà Giang, Hà Nam,
Hải Dương, Nam Định, Nghệ An, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Thái
Năm 2015 theo báo cáo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn từ tháng 01 đến tháng 11 năm 2015, dịch bệnh LMLM xuất hiện dai dẳng
trong hầu hết các tháng trừ hai tháng 4 và tháng 5 là không có dịch xuất hiện.
Trong ba tháng đầu năm từ tháng 01/2015 đến tháng 3/2015 dịch bệnh LMLM
xuất hiện ở Sơn La, Bắc Kạn, và 2 huyện của tỉnh Quảng Nam. Theo số liệu
thống kê của Bộ NN và PTNT thì từ tháng 6/2015 đến tháng 12/2015 dịch bệnh
xảy ra ở 32 hộ của 05 thôn thuộc địa bàn xã Hương An, huyện Quế Sơn và xã
Ba, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam. 01 ổ dịch xảy ra trên địa bàn thôn Phố
Cũ, xã Si Ma Cai, huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai. thôn Phố Cũ, xã Si Ma Cai,
huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai, 16 hộ chăn nuôi tại xã Phương Điền, huyện
Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh .
Tính đến ngày 22/9/2015 cả nước còn 10 hộ chăn nuôi của 02 xã Thanh
Chi, huyện Thanh Chương và xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; 02
hộ chăn nuôi của xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương , 22 hộ
chăn nuôi thuộc phường Thành Nhất và xã Cư Ebur, thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk
8
Tính đến ngày 22/10 cả nước có các tỉnh là Phú Yên, Hà Tĩnh, Đăk Nông,
Yên Bái và Tiền Giang có dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày.
Tính đến ngày 23/11, cả nước có 12 ổ dịch LMLM xảy ra tại 08 huyện của
07 tỉnh chưa qua 21 ngày, cụ thể: Phú Yên có 03 ổ dịch xảy ra tại, xã Xuân
Quang 2, huyện Đồng Xuân và xã Cà Lúi, huyện Sơn Hòa; Yên Bái có 01 ổ dịch
tại xã Túc Đán, huyện Trạm Tấu; Ninh Thuận có 04 ổ dịch tại xã Lương Sơn, thị
trấn Tân Sơn, xã Ma Nới và xã Lâm Sơn; Sơn La có 01 ổ dịch tại phường Chiêng
Sinh, thành phố Sơn La; Hà Tĩnh có 01 ổ dịch tại xã Kỳ Văn, huyện Kỳ Anh;
Quảng Trị có 01 ổ dịch tại xã Cam Thuỷ, huyện Cam Lộ; Thành phố Cần Thơ có
01 ổ dịch tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
12/2008 vi rút chủng A đã xuất hiện tại Nghệ An. Năm 2009, hầu hết các ổ dịch
LMLM xảy ra là do chủng O, chủng A xuất hiện ở các tỉnh Hà Giang, Sơn La,
Bắc Giang, Kon Tum và Long An. Năm 2010, dịch LMLM tập trung ở các tỉnh
Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung Tây nguyên và một số tỉnh miền núi phía
Bắc, dịch xảy ra chủ yếu ở những nơi gia súc không tiêm phòng vắc-xin, kể các
những tỉnh trong chương trình quốc gia khống chế và thanh toán bệnh LMLM
giai đoạn 2006 – 2010.
Trong những nghiên cứu gần đây, khi giải mã và phân tích gen VP1 của
các chủng virus LMLM type O và Asia 1 phân lập được tại Việt Nam vào những
năm 2005, 2006 và 2007 thấy type O phân lập được thuộc phân type Southeast
Asia (SEA) và chi Mya-98 trong tổng số 10 phân type được ghi nhận trên thế
giới. Chủng virus LMLM type Asia1 được xác định thuộc nhóm IV và V và có
độ tương đồng rất cao với chủng virus gây đại dịch LMLM ở Trung Quốc và
Mông Cổ năm 2005 (Le, Nguyen et al. 2010). Chủng virus LMLM type A được
xác định là thuộc genotype IX trong tổng số 10 genotype chính của thế giới,
chủng type A của Việt Nam phân lập có độ tương đồng rất cao về aa với các
chủng virus phân lập được từ Lào,Thái Lan và Malaysia(Le, Lee et al. 2010)
Tương tự năm 2011 và 2012, Lê Văn Phan và cs cũng đã phát triển thành
công phương pháp One-step multiplex RT-PCR để nhanh chóng chẩn đoán và
định type virus gây bệnh LMLM type O, A, Asia 1 đang lưu hành và gây bệnh
trên đàn gia súc nuôi tại Việt Nam.
10
1.2. Đặc điểm sinh học của virus lở mồm long móng
1.2.1. Căn bệnh
1.2.1.1 Các đặc tính sinh học chung của virus LMLM
Virus lở mồm long móng có kích thước vô cùng nhỏ bé phải quan sát dưới
kính hiển vi điện tử. Đây là loại vi sinh vật ký sinh nội bào tuyệt đối, nó chỉ có
2005). Tiếp theo là đoạn poly (C) có khoảng 80-200 nucleotit (Harris and Brown
1976) cũng có trường hợp có tới 400 nucleotit đó là do đoạn poly (C) sẽ dài ra
trong quá trình nuôi cấy tế bào (Escarmís, Toja et al. 1992). Tiếp đến là đoạn L
chiếm khoảng 700 nucleotit với bộ ba mã mở đầu là AUG cho phép Ribosom gắn
vào để bắt đầu quá trình phiên mã. Theo Chatarjee và cs. (1976); Saiz và cs.
(2001) đoạn UTR ở đầu 3’ có nhiệm vụ báo hiệu sự kết thúc của quá trình chép
hoàn chỉnh, có khoảng 190 nucleotit và đuôi poly (A) có 10-100 nucleotit. Trong
bộ gen của virus LMLM quan trọng nhất là khung đọc mở ORF gồm 6996
nucleotit mã hóa cho các protein cấu trúc và không cấu trúc của virus (Forss,
Strebel et al. 1984). Phần này được chia ra thành 3 đoạn gen là P1, P2, và P3 (lần
lượt từ đầu 5’ tới 3’). Trong đó, đoạn P1 bao gồm các đoạn gen 1A, 1B, 1C, 1D
mã hóa cho các protein cấu trúc tương ứng là VP4, VP2, VP3, và VP1 (MartínezSalas, Ortín et al. 1985). Theo Vakharia và cs (1987), đoạn gen P2, P3 bao gồm
các vùng gen mã hóa cho các protein không cấu trúc tương ứng là 2A, 2B, 2C và
3A, 3B, 3C, 3D. Trong đó, vùng gen 2A có tính ổn định cao ở tất cả các serotype,
vùng gen 2C có liên quan tới quá trình hoàn thiện hạt virus (Saunders, King et al.
1985), vùng gen 3B mã hóa cho protein VPg (Pfaff, Thiel et al. 1988).
12
Hình 1.2.Sơ đồ cấu trúc hệ gen của virus LMLM
(Nguồn />1.2.1.3. Tính chất nuôi cấy
-
Có thể nuôi cấy virus trên tổ chức da của thai lợn, thai bò còn sống.
-
Nuôi cấy trên tổ chức lưỡi bò trưởng thành.
1
Châu Á
O, A, Asia 1
2
Vùng Trung Đông
O, A, Asia 1
3
Vùng Đông Phi
4
Tây và Trung Phi
5
Bắc Phi
{O, A}*, SAT 1, SAT 2, SAT 3
6
Bắc Mỹ
có trong máu và tồn tại khoảng 3-5 ngày, máu mất độc lực khi các mịn nước
được hình thành.
Virus còn có trong các chất bài xuất của vật bệnh như nước bọt, nước tiểu,
phân, sữa, nước mắt và nước mũi. Sự lan tràn của virus trong chất bài xuất có
trước khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng.(Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ
Lệ, 2013)
1.2.3.3. Đường xâm nhập và cách truyền bệnh
Đường xâm nhập chính là tiêu hoá, virus có thể vào cơ thể qua niêm mạc
miệng, và niêm mạc ống tiêu hoá. Ngoài ra, các vết trầy ở da, đầu vú cũng là nơi
virus xâm nhập vào cơ thể. Đường sinh dục và hô hấp được coi là đường xâm
nhập phụ.
Quá trình lây lan bệnh diễn ra theo các cách thức sau:
+ Lây trực tiếp qua nước bọt hoặc các chất bài tiết do nhốt chung hoặc chăn
thả chung gia súc bệnh với gia súc khoẻ mạnh.
+ Lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống, các dụng cụ chăn nuôi, chân tay,
giầy dép của người chăn nuôi, người tham gia điều trị bệnh hoặc lây lan do việc
bán chạy các gia súc mắc bệnh, mổ lậu gia súc mắc bệnh, không xử lý đúng mức
thịt gia súc mắc bệnh hoặc vận chuyển gia súc mắc bệnh.
+ Virus có thể theo gió phát tán ra không khí trong cự ly 10km.
1.2.3.4. Cơ chế gây bệnh
Thời kì nung bệnh thường từ 1 – 3 ngày khi gây bệnh thực nghiệm: 2 – 7
ngày hoặc 11 ngày khi gây bệnh trong tự nhiên (Tô Long Thành, 2005).
Virus LMLM xâm nhập vào động vật chủ theo đường hô hấp hoặc theo vết
xước trên da, đầu tiên chúng nhân lên với số lượng nhỏ tại nơi xâm nhập
(Sobrino và cs., 2001).
15
Vùng yết hầu của động vật nhai lại được coi như vùng sinh bệnh ban đầu
-
Ít hình thành mụn nước ở miệng, do đó không có hiện tượng chảy nước dãi.
-
Lợn con đang bú hoặc mới cai sữa thường bị ỉa chảy hoặc chết đột ngột.
1.2.5. Bệnh tích
Theo Nguyễn Bá Hiên và cộng sự (2011), bệnh tích đặc trưng của bênh
LMLM là: Hình thành các mụn nước riêng lẻ hoặc tập trung thành đám, có kích
thước từ 2mm dến 10cm, tiến triển ở các giai đoạn khác nhau: Đám có màu trắng
, hình thành mụn nước. Sau khi vỡ, để lại vết đỏ rớm máu, trên có phủ bựa fibrin
màu xám.
Cơ tim biến chất, mềm, dễ nát, có vết trắng xám nhạt hay vàng nhạt. Màng
bao tim sưng to, trong chứa màu vàng. Tâm nhĩ có lốm đốm xuất hiện từng
mảng. Bệnh tích ở tim thường thấy ở con vật mắc bệnh thể nặng.
Mụn nước mọc ở kẽ móng, xung quanh móng và dễ làm long móng.Các
trường bị hợp vật bệnh biến chứng nhiễm khuẩn, thường chân móng bị thối loét
16