MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt dùng trong luận văn
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục hình
viii
MỞ ĐẦU
1
1
7
1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc
9
1.1.4 Một vài nhận xét qua quá trình tìm hiểu quy hoạch của một số nước.
12
1.2 Tổng quan về công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng
ở nước ta.
13
1.2.1 Lịch sử công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng và
mối quan hệ giữa hai loại QH ở nước ta từ năm 1975 đến nay.
14
1.2.2 Đánh giá chung về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và
thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch.
19
1.3 Luận chứng về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng.
22
27
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
29
3.1 Khái quát về điều khiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Ba Vì.
29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, Tài nguyên thiên nhiên.
29
3.1.2 Thực trạng kinh tế xã hội.
31
3.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập.
35
3.1.4 Thực trạng phát triển đô thị và cơ sở hạ tầng.
37
3.1.5 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội của huyện
Ba Vì.
55
3.4 Phân tích so sánh về nội dung giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng trên địa bàn huyện Ba Vì.
57
3.4.1 So sánh các quy định về nội dung lập quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây.
57
3.4.2 So sánh một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng.
60
3.4.3 So sánh phương án sử dụng đất giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
63
Page iv
3.4.4 Tác động qua lại về nội dung giữa hai loại quy hoạch
66
82
1
Kết luận
82
2
Một số đề nghị
83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
85
PHẦN PHỤ LỤC
87
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt
QH
Quy hoạch
QHSDĐ
Quy hoạch sử dụng đất
QHXD
Quy hoạch xây dựng
THPT
Trung học phổ thông
TM-DV
Thương mại-Dịch vụ
TNCS
Thanh niên Cộng sản
TP
Thành Phố
TW
3.3
Kết quả thực hiện QHSDĐ của huyện Ba Vì.
44
3.4
So sánh một số quy định về thời gian, không gian lập quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng
3.5
50
So sánh quy định về thẩm định và xét duyệt quy hoạch sử dụng đất
và quy hoạch xây dựng
3.6
53
Sosánh sự khác nhau giữa các loại đất cơ bản quy hoạch sử dụng
đất và quy hoạch xây dựng
3.7
56
DANH MỤC HÌNH
TT
Tên hình
Trang
3.1
Sơ đồ vị trí Huyện Ba Vì trong vùng Hà Nội
29
3.2
Phối cảnh mô phỏng địa hình huyện Ba Vì
31
3.3
Hiện trạng giao thông
38
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
trợ lẫn nhau trong việc thực hiện chức năng của mỗi loại quy hoạch. Việc
nghiên cứu về nội dung và bản chất của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng
đất và quy hoạch xây dựng để đánh giá sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn
nhau giữa hai loại quy hoạch này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm
sự thống nhất giữa hai loại quy hoạch.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau mà
giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng thường không được lập đồng
bộ với nhau cả về thời gian và không gian, nhiều nội dung còn trùng lặp, mâu
thuẫn, chồng chéo lẫn nhau, gây khó khăn cho công tác lập, thực hiện, kiểm tra,
đánh giá công tác quy hoạch.
Để phát huy được những yếu tố tích cực trong mối quan hệ giữa hai loại
quy hoạch, khắc phục được các mâu thuẫn, bất cập, tạo sự đồng bộ và nâng cao
hiệu quả của công tác quy hoạch sử dụng đất cũng như quy hoạch xây dựng trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần nghiên cứu để làm rõ nội dung và bản
chất mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch, làm cơ sở cho việc phối hợp giữa các
cơ quan Nhà nước trong công tác quản lý quy hoạch nói chung, quy hoạch sử
dụng đất, quy hoạch xây dựng nói riêng.
Ba Vì là huyện miền núi của Thủ đô Hà Nội, với 7 xã miền núi, chiếm
phần lớn dãy núi Ba Vì và Vườn quốc gia Ba Vì; cách Trung tâm thành phố
thành phố Hà Nội 53 km theo đường QL32. Ba Vì là huyện có diện tích lớn nhất
của thành phố Hà Nội với diện tích là 42.402,7 ha chiếm 12,74% tổng diện tích
tự nhiên của toàn thành phố, dân số năm 2014 là 253 nghìn người, mật độ dân số
trung bình là 597 người/km2 thấp so với mật độ dân số của Thành phố. Tuy nhiên
Ba Vì được xác định là huyện có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN.
1.1. Khái quát mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng của một số nước trên thuế giới.
Trên thế giới, công tác quy hoạch thường gắn với việc quản lý hành chính
và quản lý đất đai. Quy hoạch thực sự trở thành một công cụ không thể thiếu và
rất đắc lực cho việc quản lý hành chính cũng như quản lý đất đai. Tùy theo chế
độ chính trị, chế độ kinh tế, xã hội, tùy theo những điều kiện kinh tế - xã hội cụ
thể của mỗi nước mà quy hoạch có những hình thức, đặc điểm, mức độ rất khác
nhau. Mỗi loại quy hoạch có những mục tiêu cụ thể khác nhau nhưng tất cả các
quy hoạch đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường
trên quan điểm phát triển bền vững.
Đối với quy hoạch phát triển theo lãnh thổ, đa số các nước trên thế giới
không có sự phân biệt rõ ràng về các loại quy hoạch: phát triển kinh tế - xã hội,
sử dụng đất, xây dựng mà đa số các quy hoạch lãnh thổ thường mang tính bao
quát, đáp ứng nhu cầu phát triển chung về nhiều mặt.
Việc giải quyết mối quan hệ giữa các loại quy hoạch là một vấn đề khá phức
tạp và khó khăn, đòi hỏi Chính phủ của mỗi nước phải có những chính sách đúng
đắn, phù hợp trên cơ sở kết quả nghiên cứu, thảo luận một cách khoa học và đầy đủ.
Và chỉ khi giải quyết tốt các mối quan hệ này thì mới bảo đảm được tính khả thi,
tính hiệu quả của các quy hoạch. Hầu hết các nước trên thế giới đều rất coi trọng quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị. Các quy hoạch này một mặt đáp
ứng nhu cầu phát triển chung, mặt khác đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng có hiệu
quả tài nguyên đất đai, phát triển các đô thị theo xu hướng phát triển các không gian
chức năng đô thị nhằm nâng cao các điều kiện sống của con người.
hiện các nội dung quy hoạch lãnh thổ cần có các hoạt động của quy hoạch lãnh
thổ, chương trình phát triển lãnh thổ. Nhiệm vụ chính của quy hoạch lãnh thổ là
xây dựng những chương trình và kế hoạch phát triển lãnh thổ, gồm:
- Xây dựng bản phúc trình về trật tự không gian lãnh thổ: Xác định ranh
giới giữa các vùng đô thị, vùng nông thôn, vùng tụt hậu; phân tích, đánh giá các
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa.
- Xây dựng bản đồ địa chính lãnh thổ: Thể hiện được tất cả hiện trạng, kế
hoạch và biện pháp cần thiết cho quy hoạch lãnh thổ. Đó là các sử dụng trực
tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến mặt bằng sử dụng đất. Tư liệu địa chính
như vậy là nguồn thông tin quý giá cho các báo cáo, các chương trình và các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
kế hoạch. Các dữ liệu được thu nạp trong máy vi tính và gắn liền với hệ thống
thông tin địa lý (GIS);
- Chương trình phát triển lãnh thổ là quan trọng nhất, do Chính phủ trung
ương xây dựng;
- Kế hoạch phát triển lãnh thổ là bước cuối cùng của công việc quy hoạch
lãnh thổ.
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, Chính phủ của mỗi bang chủ quản việc quy
hoạch lãnh thổ. Trên bình diện bang (cấp quốc gia), việc xây dựng chương trình
phát triển lãnh thổ không mang tính cưỡng bức và thường được hội nhập vào “kế
hoạch phát triển lãnh thổ” nêu đầy đủ, chính xác và rất chi tiết các số liệu.
Quy hoạch vùng ở Đức có nhiệm vụ chính là thực hiện và sắp xếp sự phát
triển tích cực của một khu vực. Khái niệm vùng được hiểu là những khu vực lớn
trung bình, một phần của một bang, thường gồm nhiều huyện gộp lại. Quy hoạch
vùng quan tâm đến sự phát triển kinh tế và xã hội đồng thời với việc bảo tồn và
nước Đức ở châu Âu và trên thế giới .
Như vậy, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Cộng hòa Liên
bang Đức không phải là các quy hoạch riêng rẽ mà là các quy hoạch ngành, quy
hoạch bộ phận trong hệ thống quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng. Vì vậy,
mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này có sự thống nhất về không gian và thời
gian quy hoạch; cơ bản phù hợp với nhau và hỗ trợ lẫn nhau về nội dung quy
hoạch. Những mâu thuẫn, đối kháng lẫn nhau về mục tiêu và nội dung giữa hai
loại quy hoạch được điều chỉnh, được hạn chế nhằm đạt mục tiêu chung là phát
triển mọi mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường.
1.1.2. Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ
Việc quản lý hành chính và quản lý đất đai ở Mỹ được thực hiện theo mô
hình địa lý – hành chính:
- Liên bang;
- Các bang: 50 bang và một số lãnh thổ đặc biệt;
- Các quận (County): có khoảng 3.500 quận;
- Các thành phố, thị trấn, hoặc các đơn vị đô thị nhỏ (Lê Quốc Khánh 2005).
Mỹ là nước có nền kinh tế đa dạng pha trộn giữa các doanh nghiệp lớn có
địa bàn hoạt động xuyên quốc gia và đa quốc gia với các doanh nghiệp nhỏ tại
địa phương. Các công ty và tập đoàn sản xuất hàng hoá và dịch vụ quy mô lớn
đòi hỏi có mô hình tổ chức tập trung nhằm quyết định nhanh việc điều hành và
phối hợp hoạt động các văn phòng và nhà máy trên toàn quốc bố trí gần các vùng
tiêu thụ, nguyên – nhiên liệu và nhân công. Mỹ cũng là nước có nhiều thể chế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
đảm bảo mức độ phi tập trung hoá cao. Nhờ đó mỗi địa phương có toàn quyền
đưa ra các quyết định trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau.
Page 8
không nhất thiết đặt lợi ích phát triển của mỗi địa phương lên ưu tiên hàng đầu.
Ngoài ra, các quy hoạch ngành thường có xuất phát điểm và thời hạn quy hoạch
rất khác nhau, nên dễ nảy sinh ra nhiều vấn đề khi phối hợp chúng trên một quy
hoạch phát triển chung.
Như vậy, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở
Mỹ thực chất thể hiện chủ yếu ở mối quan hệ giữa quy hoạch xây dựng ngành
của các tập đoàn kinh tế với quy hoạch sử dụng đất của chính quyền các địa
phương. Mặc dù là một nước phát triển, các quy hoạch này được thống nhất
trong quy hoạch phát triển chung là quy hoạch vùng nhưng giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ trong thực tế thường vẫn có những mâu
thuẫn nảy sinh cần giải quyết mà nguyên nhân chính là do quyền lợi chính trị,
kinh tế của các chủ thể thực hiện quy hoạch rất khác nhau. Thực tế ở Mỹ, mỗi địa
phương có một hệ thống rất phức tạp các cơ quan quy hoạch, đưa ra nhiều biện
pháp quy hoạch chồng chéo trên địa bàn địa phương. Chỉ có các dự án ngành như
giao thông, thủy lợi - thủy điện, truyền tải điện,... hoặc các dự án phát triển tổng
hợp (bao gồm cả hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế...) trong đó Chính phủ Liên
bang giúp đỡ tài chính cho các chính quyền địa phương nhằm mang lại lợi ích
cho tất cả các bên liên quan - mới có sức hấp dẫn và có thể hiện thực hoá tốt.
1.1.3. Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc
Bên cạnh Luật đất đai, Trung Quốc đã ban hành Luật Quy hoạch nông thôn
và đô thị (có hiệu lực từ ngày 01/01/2008). Công tác quy hoạch ở Trung Quốc
hiện nay chịu sự điều chỉnh chủ yếu của hai Luật này. Quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc là các quy hoạch độc lập nhưng có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau, tương đối thống nhất với nhau.
Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước của Trung Quốc được lập lần đầu tiên vào
năm 1987, lần thứ hai vào năm 1998 và lần thứ ba vào năm 2003; nội dung quy
và nhà đất, quản lý thị trường bất động sản.
Luật Quy hoạch nông thôn và đô thị của Trung Quốc nhấn mạnh các điểm
chính sau:
- Trong khu vực quy hoạch không được chiếm dụng đất nông nghiệp để xây
dựng doanh nghiệp, cơ sở công cộng, công trình công cộng và khu nhà ở.
- Khi khảo sát thiết kế và thực hiện quy hoạch, phải bảo vệ nguồn tài
nguyên và di sản văn hóa lịch sử, bảo đảm duy trì bản sắc địa phương, bản sắc
dân tộc và phong cách truyền thống. Trong quá trình khai thác và xây dựng khu
phố mới, phải bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường sinh thái, thể hiện đặc thù
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
địa phương. Khi sửa chữa khu phố cũ, phải bảo vệ di sản văn hóa và phong cách
truyền thống.
- Nghiêm cấm bất kỳ đơn vị và cá nhân tùy tiện thay đổi quy hoạch. Trước
khi sửa đổi quy hoạch, cơ quan tổ chức thiết kế quy hoạch phải tổng kết tình hình
thực hiện quy hoạch ban đầu đồng thời báo cáo lên cơ quan phê duyệt.
Về quản lý quy hoạch, thực hiện theo nguyên tắc:
- Phân cấp cụ thể trong việc xét duyệt quy hoạch.
- Khống chế một cách nghiêm ngặt về việc xây dựng các khu chức năng,
bảo đảm thống nhất với quy hoạch và quản lý toàn diện của thành phố.
- Quy hoạch chung và quy hoạch cụ thể phải quy định rõ ràng những nội
dung mang tính bắt buộc. Bất cứ đơn vị và cá nhân nào đều không được điều
chỉnh những nội dung có tính bắt buộc trong quy hoạch chung và quy hoạch cụ
thể mà đã được phê chuẩn.
- Quản lý một cách nghiêm ngặt về việc sửa đổi quy hoạch chung sử dụng
đất đai, quy hoạch chung thành phố và quy hoạch làng xã cũng như thị trấn.
đang phát triển (như Trung Quốc), có quy trình quy hoạch sử dụng đất đai mang
tính đặc thù riêng. Trước hết họ chú trọng về quy hoạch tổng thể không gian (hay
còn gọi là định hướng phát triển tổng thể - Master Plan), trên cơ sở quy hoạch
không gian người ta tiến hành phân vùng sử dụng đất, sau đó tiến hành quy
hoạch chi tiết cho từng khu vực.
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở các nước, nhất là ở các
nước phát triển thường là quy hoạch bộ phận của quy hoạch tổng thể không gian
nên về cơ bản có sự thống nhất, đồng bộ với nhau về không gian, thời gian, nội
dung quy hoạch; cả hai loại quy hoạch đều hướng tới mục tiêu chung là phát triển
kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường.
Trong quy hoạch lãnh thổ cũng như quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng
đất, các nước đều quan tâm giải quyết việc sắp xếp không gian, các biện pháp hạ
tầng không gian lớn, xác định những vùng ưu tiên, từ đó thực hiện các hoạt động
của quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch vùng.
Việc lập các quy hoạch thường do các cơ quan công quyền của Nhà nước
thực hiện, có sự tham gia của các tập đoàn, tổ chức kinh tế ở mức độ khác
nhau và thường có sự tham gia rộng rãi của người dân. Ở các nước phát triển,
về cơ bản các cơ quan nhà nước chỉ tham gia sâu vào quá trình duyệt quy
hoạch tổng thể không gian và phân vùng sử dụng đất. Quy hoạch chi tiết phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
triển từng vùng thông thường được đấu thầu cho các cơ quan phát triển bất
động sản tư nhân.
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nước mà mức độ chặt chẽ, thống
nhất, đồng bộ trong mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng có khác nhau nhưng nhìn chung giữa hai loại quy hoạch này cơ bản có sự
giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đang trở nên bức thiết cần
sớm được nghiên cứu giải quyết.
1.2.1. Lịch sử công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng và mối
quan hệ giữa hai loại QH ở nước ta từ năm 1975 đến nay.
Thời kỳ từ năm 1975 đến trước khi có luật đất đai 1993.
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
- Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra
cơ bản trên phạm vi cả nước. Vào cuối năm 1978, lần đầu tiên đã xây dựng được
các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông
lâm sản của cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trình Chính phủ xem xét phê duyệt. Trong các tài liệu này đều
đã đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học
quan trọng để luận chứng các phương án phát triển ngành.
Thực hiện Chỉ thị số 100/TW ngày 13 tháng 01 năm 1981 về cải tiến công
tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong
hợp tác xã nông nghiệp, thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã”
mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ
yếu của nó là bố trí sử dụng đất đai.
Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) đã
quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển
và phân bố lực lượng sản xuất…”. Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng
quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được ví
như 500 “pháo đài”. Quy hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong
các quy hoạch hoạch tổng thể kinh tế - xã hội này tuy đã có bước phát triển
nhưng vẫn chưa phải là một quy hoạch riêng biệt nên vẫn còn nhiều hạn chế.
Đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai trong hoạch
tổng thể kinh tế - xã hội. Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của
Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất
trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công
ta trong giai đoạn trước đổi mới (1986) vẫn còn khiêm tốn, chưa có hệ thống,
chưa định hình được hướng phát triển rõ ràng. Mặc dù thành quả quy hoạch xây
dựng trong thời kỳ này còn hạn chế nhưng nó cũng đóng góp đắc lực cho công
cuộc xây dựng ở miền Bắc cũng như trên phạm vi cả nước sau khi đất nước
thống nhất. Đồng thời, nó cũng đặt nền móng cho sự phát triển tiến bộ của công
tác quy hoạch xây dựng giai đoạn tiếp theo.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới đất nước tại Đại hội toàn quốc lần
thứ VI năm 1986, đánh dấu quá trình chuyển mình tích cực nhất của quy hoạch
xây dựng đô thị. Mặc dù còn nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về quy
hoạch, quản lý đô thị, công tác quy hoạch phát triển đô thị bước đầu đã có những
đóng góp đáng kể cho những thành công trong giai đoạn tiếp theo. Đây là giai
đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phương pháp nghiên cứu của công tác quy
hoạch đô thị. Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế kế hoạch
sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn đô thị nơi mà
mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn toàn do Nhà nước
cung cấp. Hầu như chưa có hình ảnh các khu nhà do dân tự xây, các khách sạn,
văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu ấn của tư nhân.
Đây là giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phương pháp nghiên cứu của
công tác quy hoạch đô thị. Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế
kế hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn đô thị
nơi mà mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn toàn do Nhà
nước cung cấp. Hầu như chưa có hình ảnh các khu nhà do dân tự xây, các khách
sạn, văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu ấn của tư nhân.
Giai đoạn này có rất ít văn bản chính thức hướng dẫn lập quy hoạch đô thị
chéo, mâu thuẫn với nhau. Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất thời
kỳ này không chỉ là đất nông lâm nghiệp mà bao gồm tất cả các loại đất (5 loại
đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 1987). Quy hoạch xây dựng đã có
liên quan nhiều đến quản lý đất đai. Bên cạnh những mặt thống nhất, hỗ trợ lẫn
nhau thì trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch xuất hiện những mâu thuẫn,
chồng chéo mà một trong những nguyên nhân, đồng thời là sự biểu hiện của nó là
sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về đất
đai và về xây dựng.
Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho công tác
quy hoạch sử dụng đất đai đai. Tổng cục Địa chính đã tổ chức các Hội nghị tập
huấn, triển khai công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai và chỉ đạo thực
hiện thí điểm ở 10 tỉnh, 20 huyện; ban hành quy trình, định mức và đơn giá điều
tra quy hoạch sử dụng đất đai áp dụng trong phạm vi cả nước.
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bản
hơn ở cả 4 cấp là: cả nước, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Báo cáo “Quy hoạch, kế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2000” đã được Chính phủ trình Quốc hội
khoá IX tại kỳ họp thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 10/5/1997). Quốc Hội đã ra Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10/5/1997 thông
qua kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2000 của cả nước ( Chu Văn Thỉnh, 2004)
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc Hội có Nghị quyết số
29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010.
Sau khi Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định của Chính phủ về thi hành
Luật Đất đai được ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư
Nhiều đồ án quy hoạch xây dựng Vùng đã được Chính phủ và Bộ Xây dựng chỉ
đạo thực hiện như Quy hoạch xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội, Quy hoạch xây
dựng Vùng Thành phố Hồ Chí Minh, các vùng biên giới, các vùng duyên hải...
Đối với khu vực nông thôn: Cùng với chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, quy
hoạch điểm dân cư nông thôn đã bước đầu phát triển với các điểm đáng chú ý,
từng bước tạo ra bộ mặt mới cho nông thôn nước ta thời kỳ đổi mới như: Ngói
hoá và kiên cố hoá nhà ở nông thôn; phát triển các công trình dịch vụ công cộng;
bê tông hoá đường làng ngõ xóm…
* Thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch:
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong thời
kỳ này đã thể hiện rõ rệt cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực. Giữa hai loại quy
hoạch đã có sự tác động, hỗ trợ tích cực lẫn nhau trong mỗi phạm vi quy hoạch;
loại quy hoạch này được lập đã căn cứ vào loại quy hoạch kia; trong việc lập
cũng như tổ chức thực hiện quy hoạch đã có sự phối hợp nhất định giữa các cơ
quan chức năng. Song giữa hai loại quy hoạch cũng nảy sinh những vấn đề mâu
thuẫn, bất cập, đòi hỏi phải được nghiên cứu giải quyết, nhất là về nội dung QH.
1.2.2. Đánh giá chung về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và
thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch.
Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất : Công tác quy hoạch sử dụng đất đai
đã có những bước tiến quan trọng qua từng thời kỳ phát triển, ngày càng đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong những năm gần đây công
tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện;
việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các cấp từng bước đi vào nề
nếp. Kết quả đó đã góp phần quan trọng trong việc tăng cường, thống nhất quản
lý Nhà nước về đất đai và sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp,
nông thôn; cơ bản đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 19