MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục hình
viii
MỞ ĐẦU
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1.4. Các yếu tố liên quan đến dồn điền đổi thửa
5
1.1.5. Dồn điền đổi thửa ở một số nước trên Thế Giới
7
1.2. Dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
10
1.2.1. Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
10
1.2.2. Tính cấp thiết phải tiến hành dồn điền đổi thửa tại Việt Nam
14
1.2.3. Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa
16
1.2.4. Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh
18
1.2.5. Những tác động của dồn điền đổi thửa đối với quản lý Nhà nước về
đất đai và sản xuất nông nghiệp
2.3. Nội dung nghiên cứu
27
2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thường Tín
27
2.3.2. Thực trạng và quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa trên địa bàn
huyện Thường Tín
27
2.3.3. Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
27
2.3.4. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu của của công tác dồn điền đổi
thửa huyện Thường Tín
27
2.4. Phương pháp nghiên cứu
27
2.4.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
27
35
3.1.3. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
35
3.1.4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường
41
3.1.5. Tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất
43
3.2. Thực trạng dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thường Tín
50
3.2.1. Cơ sở pháp lý của dồn điền đổi thửa
50
3.2.2. Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa
51
3.2.3. Đánh giá việc thực hiện công tác dồn điền đổi thửa huyện Thường Tín
55
80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
82
PHỤ LỤC
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Kí hiệu
1
BVTV
: Bảo vệ thực vật
2
CP
: Chính phủ
8
GTSX
: Giá trị sản xuất
9
GCNQSDĐ
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
10
HTX
: Hợp tác xã
11
TCTK
: Tổng cục thống kê
12
TW
: Trung ương
16
3.1
Hiện trạng sử dụng đất huyện Thường Tín trước và sau dồn điền đổi thửa
47
3.2
Kết quả dồn điền đổi thửa huyện Thường Tín đến năm 2014
57
3.3
Kết quả dồn điền đổi thửa theo nhóm hộ huyện Thường Tín
58
3.4
Thực trạng ruộng đất trước và sau thực hiện dồn điền đổi thửa tại các
xã nghiên cứu đại diện
3.5
62
Diện tích đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa tại các xã nghiên
Hiệu quả kinh tế bình quân loại hình lúa - cá - thủy cầm tại 3 xã
nghiên cứu đại diện
71
3.11
Hiệu quả kinh tế của loại hình chuyên thả cá
72
3.12
So sánh hiệu quả kinh tế giữa các loại hình sử dụng đất sau dồn điền
đổi thửa với hiệu quả chuyên lúa trước dồn điền đổi thửa
3.13
73
Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trên 1 ha/năm tại 3 xã
nghiên cứu đại diện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
75
Page vii
65
3.5
So sánh hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất
74
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là
tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, là thành phần quan trọng của môi
trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh, quốc phòng, là yếu tố cấu thành lãnh thổ của mỗi quốc gia. Đất đai
là quý giá bởi đất đai có hạn.
Đất đai là yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp. Trong lịch sử
phát triển nông nghiệp, cải cách ruộng đất luôn là khâu bứt phá quyết định mọi
quan hệ sản xuất và ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của
mỗi quốc gia.
Việt Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng nói chung và ở huyện
Thường Tín nói riêng có bình quân diện tích đất trên đầu người rất thấp. Trong điều
kiện công nghiệp chưa thực sự phát triển trên địa bàn huyện, dân số ở nông thôn
chiếm tỷ lệ lớn (gần 70%), đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người thấp lại
manh mún, nên mặc dù là huyện ngoại thành của Hà Nội, nhưng sự phát triển kinh
đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả dồn
điền đổi thửa tại huyện Thường Tín - thành phố Hà Nội”
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thường
Tín - thành phố Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy công tác dồn điền đổi thửa trên địa
bàn huyện.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đề tài cần phân tích được các yếu tố về: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,
làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho dồn điền đổi thửa;
- Đánh giá đúng được thực trạng dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện, trên
cơ sở đó đề xuất giải pháp thúc đẩy công tác dồn điền đổi thửa và sử dụng đất trong
những năm tiếp theo.
- Các giải pháp đề xuất phải sát với thực tế sản xuất và khả thi.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận về dồn điển đổi thửa
1.1.1. Vấn đề manh mún đất đai
Manh mún đất đai có thể được hiểu là sự manh mún về mặt ô thửa đối với
một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) tức là một hộ gia đình, cá nhân có nhiều
thửa ruộng với kích thước nhỏ bị phân tán ở nhiều xứ đồng. Mặt khác có thể hiểu là
sự manh mún biểu hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng diện
tích quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố về phương tiện
sản xuất khác (Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, 2004).
Manh mún đất đai làm giảm tính hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, sự nhỏ
các địa phương cần phải xác định và thực hiện để dồn điền đổi thửa, sẽ không làm
thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật.
Tuy nhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng
đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng
đất ở các nhóm xã hội khác nhau (Bộ môn Hệ thống nông nghiệp, 2004).
Dồn điền đổi thửa thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất, thúc đẩy quá trình
hiện đại hóa - công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn.
Tích tụ ruộng đất là sự tích tụ tư bản cho sản xuất nông nghiệp dưới hình
thức ruộng đất để đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, áp dụng
công nghệ cao trong sản xuất và quản lý sản xuất nông nghiệp, nhằm tăng sức cạnh
tranh sản phẩm trên thương trường, nhờ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
nông nghiệp. Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang tính sinh học nên tích tụ
ruộng đất trong nông nghiệp khác hẳn với tích tụ tư bản trong công nghiệp, điều đó
được thể hiện:
- Quá trình tích tụ tư bản trong công nghiệp hình thành các doanh nghiệp lớn,
các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, đa sở hữu, đa ngành nghề, với cơ cấu công ty mẹ
công ty con, công ty cháu… hoạt động không giới hạn trên phạm vi toàn cầu.
- Trong khi đó tích tụ tư bản (ruộng đất) trong nông nghiệp thì không hoàn
toàn như vậy, do đặc điểm sản xuất mang tính sinh học quy định, nên quy mô của
doanh nghiệp nông nghiệp là có giới hạn.
Tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tối đa hóa lợi ích và tối đa hóa lợi nhuận của
sản xuất nông nghiệp là tiêu chí cơ bản của trang trại sản xuất nông nghiệp. Vì thế,
sản xuất nông nghiệp của trang trại sản xuất nông nghiệp mang tính chất kinh
doanh, còn hộ tiểu nông thì chỉ là tự túc tự cấp (Vũ Trọng Khải, 2008).
1.1.3. Vai trò của công tác dồn điền đổi thửa
- Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp khắc phục tình trạng ruộng đất manh
mún, phân tán.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
thuận lợi hoặc khó khăn cho công tác dồn điền đổi thửa. Để tìm hiểu những yếu tố
ảnh hưởng đến DĐĐT, chúng ta xem xét một số nhóm yếu tố làm thuận lợi hoặc
gây khó khăn cho dồn điền đổi thửa sau đây:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
1.1.4.1. Nhóm các yếu tố về tự nhiên
Nhóm yếu tố tự nhiên như: khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ
nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước…, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
sử dụng đất. Để tiến hành DĐĐT cần xem xét những yếu tố này. Thời kì bao cấp,
ruộng đất được phân hạng chủ yếu dựa trên yếu tố tự nhiên. Thời kì đó, đất sản xuất
nông nghiệp dựa trên nhóm yếu tố tự nhiên để phân hạng đất, như phân theo: cao,
vàn, thấp để xác định mức thuế nông nghiệp (Nguyễn Đình Bồng, 2012). Dồn điền
đổi thửa cần xem xét nhóm yếu tố tự nhiên. Những yếu tố này gồm:
+ Đặc điểm thổ nhưỡng (lý, hóa tính của đất).
+ Nguồn nước và chế độ nước. Đây là yếu tố rất cần thiết, nó là điều kiện để
sản xuất và tăng tính màu mỡ của đất canh tác.
+ Địa hình, độ dốc là yếu tố quyết định lớn đến bố trí sản xuất.
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ,
nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp liên quan đến khả năng và
hiệu quả sử dụng đất.
1.1.4.2. Nhóm các yếu tố về kinh tế - xã hội
Nhóm này bao gồm những yêu tố như: ranh giới hành chính, cơ sở hạ tầng
giao thông, thủy lợi, tập quán canh tác của người dân. Những yếu tố này có ý nghĩa
quan trọng đối với dồn điền đổi thửa. Những yếu tố này gồm:
Ranh giới hành chính
Ranh giới hành chính của một địa phương là phạm vi mà ở đó thực thi các
hoạt động của tổ chức hành chính Nhà nước và kinh tế địa phương. Dựa trên
dựa trên các yếu tố tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, môi trường xác định hệ
thống cây trồng, vật nuôi, cơ cấu sử dụng đất hợp lí để phát triển bền vững.
- Yếu tố tổ chức sản xuất liên quan đến giải pháp và cơ chế phát triển sản
xuất. Hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến khai thác và nâng cao hiệu
quả sử dụng đất.
- Khuyến khích phát triển sản xuất của Nhà nước có tác động mạnh đến đầu
tư sản xuất. Việc ưu tiên vốn cho phát triển trang trại sản xuất nông nghiệp sẽ thúc
đẩy quá trình dồn điền đổi thửa. Khi trang trại được vay vốn, được bảo trợ, chủ
trang trại chú trọng đầu tư, và mang lại hiệu quả cao thì quá trình tích tụ ruộng đất,
hình thành trang trại sẽ nhanh chóng tự phát triển.
1.1.5. Dồn điền đổi thửa ở một số nước trên Thế Giới
1.1.5.1. Ở Nhật Bản
Để chấn hưng nền nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
chính sách nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Để thực
hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra "sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục
tiêu: rộng, chắc chắn, sâu".
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3ha.
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay lún trên cơ sở thiết kế xây
dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và từng khu vực để có thể sử dụng máy móc
cho thuận lợi.
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1m.
Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc:
+ Về mặt hành chính: xử lý chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn.
+ Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây
dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng.
nông nghiệp). Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát
triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ
nông dân, có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai. Ước
tính đã có trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô
ruộng đất sản xuất. Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm
còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản
phẩm nông nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao
động để sản xuất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003).
1.1.5.3. Ở Indonesia
Đất sản xuất nông nghiệp của Indonesia tập trung chủ yếu ở đồng bằng Java,
ở đây ruộng đất cũng rất manh mún. Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn
0,5 ha chiếm trên 52% trong tổng số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha
chiếm 27%, chỉ có 0,4% loại trang trại có 4 đến 5 ha. Trong khi đó, 40% số trang trại
do người làm công quản lý chứ không do chủ đất quản lý. Tình trạng này đã ảnh hưởng
nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó. Tuy có
sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất, nhưng ít phân cực giữa các loại nông hộ, các
trang trại quy mô lớn đến hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có
ruộng đất vẫn tăng lên. Như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một số trang
trại lớn mà chỉ được trao đổi giữa các chủ nhỏ (Chu Mạnh Tuấn, 2007).
1.1.5.4. Ở Thái Lan
Đất đai nông nghiệp trên đồng bằng Chao phraya của Thái Lan có sức ép về
dân số thấp hơn. Sự phân chia nhỏ ruộng đất tuy chưa đến mức quá manh mún
nhưng trong quá trình xây dựng và phát triển siêu đô thị ở Băng Kok đã thu hút lao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
động nông thôn ra thành thị làm cho quy mô ruộng đất nông nghiệp tăng lên. Cách
Page 10
phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền. Chính
quyền cách mạng đã ban hành nhiều sắc luật về ruộng đất và chính sách đối với
nông dân như: Sắc lệnh số 78/SL ngày 14/7/1949 giảm 25% tô. Năm 1952, Chính
phủ ban hành Điều lệ về sử dụng công điền, công thổ để cho công bằng và có lợi
cho người nghèo và chia lại ruộng đất cho nông dân. Ngày 4/12/1953 Quốc hội
thông qua Luật cải cách ruộng đất với mục tiêu để giải phóng sức sản xuất ở nông
thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng
lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến, để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn
thành giải phóng dân tộc đồng thời đem những đồn điền, ấp trại tịch thu của thực
dân Pháp và bọn phản động chia cho nông dân tá điền. Sau khi kết thúc chiến tranh
với thực dân Pháp vào năm 1954, miền Bắc thực hiện chương trình cải cách ruộng
đất cơ bản. Mục đích là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người
Pháp, tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu
hiệu “Người cày có ruộng”. Giai đoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất
đó là miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức
hợp tác xã từng khâu (bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao). Ngày
14/12/1956 Bộ tài chính đã có thông tư số 430 hướng dẫn việc thi hành miễn giảm
thuế nông nghiệp để tạo điều kiện cho nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Đến
năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào
hợp tác xã bậc thấp. Trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư
liệu sản xuất. Ở hình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư
liệu sản xuất khác (trâu, bò, gia súc và các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự
quản lý chung.
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng
phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh để lại, những hậu
quả từ những chính sách trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và thời kỳ
1.2.1.3. Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới
Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của đời sống kinh tế - xã
hội ở Việt Nam. Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam, ngày 05/4/1988
Nghị quyết 10/NQ-TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi
“Khoán 10”) được ban hành. Với sự ra đời của Khoán 10 người nông dân được giao
đất nông nghiệp sử dụng từ 10-15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận
như một đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp. Sản xuất lương thực đã
có sự khởi sắc đáng kể, từ 19,5 triệu tấn năm 1988 lên 21,5 triệu tấn năm 1989, tức
là tăng thêm 2 triệu tấn trong 1 năm. Tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp gần
10%, là một kỷ lục chưa từng có. Sản lượng lương thực tăng nhanh không những
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
cung cấp đủ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu (năm 1989, lần đầu tiên Việt
Nam xuất khẩu 1,2 triệu tấn gạo).
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách nông nghiệp và nông
thôn, đặc biệt liên quan đến sử dụng đất đai đã ra đời. Những chính sách quan trọng
nhất đó là Luật Đất đai năm 1993, Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP
năm 1994 về quy định việc giao đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp, sau đó là Luật
Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001; Luật Đất đai năm 2003; Mới nhất là
Luật đất đai 2013. Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên quan trực tiếp
hoặc hỗ trợ gián tiếp đến vấn đề về đất đai.
Theo Luật Đất đai 2013, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất có
thời hạn là 50 năm với 8 quyền: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho
thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, bổ sung 3 quyền so
với luật đất đai 2003 là quyền cho thuê lại, tặng cho và góp vốn quyền sử dụng đất.
Như vậy người dân sẽ được hưởng nhiều quyền lợi hơn trong quá trình sử dụng đất.
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt là vấn đề ruộng đất
trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm
giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện tích và ô thửa.
Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún, phân tán, tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần
thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn.
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tùy tiện dẫn đến tình trạng
khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến
thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở ngại cho
việc quản lý, sử dụng đất. Trước yêu cầu đổi mới nền kinh tế để đáp ứng với nền
kinh tế thị trường, cần phải tổ chức lại sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hơn nữa, với quy mô sản xuất như hiện nay, kỹ thuật canh tác, nền nông
nghiệp với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ và trang thiết bị sản xuất
ở đầu vào đầu ra đều lạc hậu. Nghề nông vẫn là nghề “cha truyền con nối”, “lão
nông tri điền”. Chế biến và buôn bán vẫn như xưa, không liên kết với sản xuất theo
chuỗi giá trị ngành hàng. Nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng đang
tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong thế yếu. Người nông dân với 5-7 công đất thì
họ không cần hợp tác, không thể gắn kết với doanh nghiệp để phát triển sản xuất.
Quan trọng hơn, quy mô 5-7 công đất thì không thể ứng dụng tốt nhiều tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất (Vũ Trọng Khải, 2015).
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến hành
dồn điền đổi thửa. Để hiểu rõ hơn tại sao phải nhanh chóng tiến hành công tác dồn
điền đổi thửa chúng ta cần tìm hiểu những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
đất gây trở ngại cho sản xuất và công tác quản lý Nhà nước về đất đai (Bộ Tài
nguyên & Môi trường, 2010).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Bảng 1.1. Thực trạng manh mún đất đai thời điểm 2010 một số tỉnh
Diện tích đất canh tác Số mảnh Tổng khoảng cách
Lào Cai
Phú Thọ
Lai Châu
Điện Biên
Nghệ An
Quảng Nam
Khánh Hòa
Đắk Lắk
Đắk Nông
Lâm Đồng
Long An
Đồng bằng phía Bắc
Miền núi phía Bắc
Tây Nguyên
Đồng bằng phía Nam
Total
trung bình (ha)
đất
đến các mảnh (m)
3,4
3,7
4,7
6.499
4.084
9.655
12.196
3.871
3.180
4.242
5.754
7.188
5.036
2.298
4.034
9.602
6.066
2.828
4.766
N = 1995
(Nguồn: Lê Thị Anh, 2014)
Theo số liệu điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2011 Việt
Nam vẫn còn 69% số hộ sử dụng đất sản xuất có quy mô dưới 0,5 ha; 34,7% số hộ
có quy mô dưới 0,2 ha. Như vậy, có thể thấy đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
đang bị phân tán lớn, quy mô sản xuất nhỏ, số thửa canh tác nhiều.
Chính vì những nguyên nhân trên mà càng cần thiết tiến hành dồn điền đổi
thửa.
1.2.3. Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa
khác nhau với chất lượng đất khác nhau. Đây là một trong những nguyên nhân
cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam. Manh mún có nhiều mức
độ khác nhau, ở một số vùng tình trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở
những nơi hoặc vùng khác.
Trong các báo cáo gửi Chính phủ và UBND tỉnh, khi rút kinh nghiệm công
tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền, đổi
thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không
có mâu thuẫn về đất đai.
Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự
nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn. Tuy nhiên, ở rất nhiều
tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi
giữa các hạng đất. Bởi đất đai ở Việt Nam là sở hữu toàn dân, do đó các hộ nông
dân cho rằng họ không có quyền tham gia vào quá trình giao lại đất hoặc thảo luận
về kế hoạch hoá sử dụng đất (Nguyễn Danh Công, 2014).
1.2.4. Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số tỉnh
Nhận thức được sản xuất manh mún, chưa tạo ra được những vùng sản xuất
lớn, tập trung nên sản phẩm nông nghiệp chưa thực sự trở thành hàng hóa, giá trị
nông nghiệp chưa cao. Thái Bình xác định công tác dồn điền đổi thửa là nhiệm vụ
quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở đó UBND tỉnh đã
phê duyệt Đề án số 214/QĐ-UBND ngày 15/02/2011 về việc dồn điền đổi thửa đất
nông nghiệp, thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới và Kế hoạch số 20/KHUBND ngày 16/08/2011 về kế hoạch dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp thực hiện
quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Kết quả đến hết quý I năm 2013, Thái Bình
cơ bản đã thực hiện xong dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng. Tỉnh
đã giảm được 499.930 thửa, chỉ còn 462.187 thửa, bình quân chung toàn tỉnh là
công cộng hoặc tập trung thành vùng thuận tiện cho việc quản lý, sử dụng lâu dài.
Sau DĐĐT nhiều địa phương đã hình thành được các vùng sản xuất tập trung,
chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa, thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng
nông thôn mới và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Ở Nam Định, sau vụ mùa năm 2011 (đợt 1), có 91/209 xã, thị trấn triển khai
DĐĐT, trong đó có 84/96 xã, thị trấn xây dựng nông thôn mới. Đến hết năm
2011, có 57 xã, thị trấn đã hoàn thành giao đất ngoài thực địa; Hải Hậu là huyện đầu
tiên hoàn thành công tác DĐĐT (35/35 xã, thị trấn). Sau vụ mùa năm 2012 (đợt 2),
có thêm 108 xã, thị trấn triển khai; như vậy đến năm 2012 đã có 199/209 xã, thị trấn
(2.999 thôn) triển khai DĐĐT, trong đó có 96 xã, thị trấn xây dựng nông thôn mới.
Trong 108 xã, thị trấn triển khai trong năm 2012, đến 21/12/2012 đã có 75 xã, thị
trấn hoàn thành giao đất ngoài thực địa, 33 xã, thị trấn đang tập trung hoàn thành
công trình giao thông thủy lợi nội đồng, bốc thăm vị trí và chuẩn bị giao đất ngoài
thực địa (Nguyễn Thế Vịnh, 2013).
Ở Hà Nội, chỉ trong một thời gian ngắn (gần hai năm: từ tháng 5/201212/2014), toàn thành phố Hà Nội đã dồn điền đổi thửa được 75.965,3 ha/76.365,07
ha, một diện tích đất nông nghiệp rất lớn mà hơn 10 năm qua chưa làm được. Sau
hai năm thực hiện, Hà Nội đã dồn điền đổi thửa được 99,48% kế hoạch. Một số
huyện thực hiện dồn được diện tích lớn như: Chương Mỹ hơn 10,2 nghìn ha; Sóc
Sơn hơn 10,3 nghìn ha; Phú Xuyên hơn 8,9 nghìn ha; Mỹ Đức hơn 7,5 nghìn ha…
Trong đó, có nhiều huyện thực hiện vượt chỉ tiêu theo kế hoạch dồn điền đổi thửa
như Phú Xuyên, Sóc Sơn, Ba Vì, Sơn Tây, Thạch Thất (Tú Mai, 2015).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 19