MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục biểu đồ, hình ảnh
viii
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2.1 Nhóm nhân tố tự nhiên
10
1.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế
13
1.2.3 Nhóm nhân tố xã hội
14
1.3 Cơ sở khoa học về khai thác sử dụng hợp lý đất chưa sử dụng
15
1.3.1 Những đặc điểm cơ bản của vùng đất chưa sử dụng
15
1.3.2 Tiềm năng khai thác sử dụng và hướng cải tạo đất chưa sử dụng.
17
1.3.3 Cơ sở khoa học khai thác hợp lý đất chưa sử dụng
19
1.4 Những nghiên cứu về đất chưa sử dụng trên thế giới và Việt Nam
2.3 Nội dung nghiên cứu
28
2.3.1 Điều tra, đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
huyện ảnh hưởng đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên đất.
28
2.3.2 Đánh giá hiện trạng đất chưa sử dụng và quá trình hình thành loại đất này.
28
2.3.3 Đánh giá khả năng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng huyện Tân Kỳ.
28
2.3.4 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất CSD đã thực hiện những
năm qua
29
2.3.5 Đề xuất sử dụng đất chưa sử dụng phục vụ phát triển sản xuất nông lâm
nghiệp của huyện.
29
2.4 Phương pháp nghiên cứu
29
32
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu
32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường
32
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
41
3.1.3 Tình hình sử dụng đất huyện Tân Kỳ
47
3.2 Đánh giá thực trạng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng.
53
3.2.1 Tình hình khai thác sử dụng đất chưa sử dụng huyện Tân Kỳ.
53
3.2.2 Đặc điểm, các trạng thái đất chưa sử dụng của huyện Tân Kỳ.
57
3.4.2 Hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trên đất chưa sử dụng trong
những năm qua.
71
3.5 Đề xuất hướng sử dụng đất chưa sử dụng đến năm 2020
77
3.5.1 Những căn cứ để đề xuất hướng sử dụng đất.
77
3.5.2 Quan điểm chung trong khai thác sử dụng đất chưa sử dụng
78
3.5.3 Đề xuất hướng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng
78
3.5.4 Các giải pháp khai thác sử dụng hiệu quả đất chưa sử dụng
81
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
86
Chi phí trung gian cùng tham gia
FAO
Tổ chức Nông lương thế giới
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GTGT
Giá trị gia tăng
GTSX
Giá trị sản xuất
Ia
Đất trống trảng cỏ
Ib
Đất trống cây bụi
Ic
Đất trống có cây gỗ rải rác
vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
1.1
Một số chỉ tiêu đánh giá đất chưa sử dụng
1.2
Cơ cấu diện tích đất đai của vùng Bắc Trung Bộ năm 2013
10
1.3
Thống kê diện tích đất một số quốc gia trên thế giới
22
1.4
Biến động đất chưa sử dụng toàn quốc từ 2000 đến 2013
6
hành chính năm 2014
53
3.6
Biến động diện tích đất chưa sử dụng huyện Tân Kỳ giai đoạn 2005 – 2014
55
3.7
Hiện trạng đất bằng chưa sử dụng huyện Tân Kỳ năm 2014
57
3.8
Hiện trạng đất đồi núi chưa sử dụng theo độ cao và cấp độ dốc huyện
Tân Kỳ năm 2014
59
3.9
Kế hoạch đưa đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng phân theo từng năm
Tổng hợp vay vốn trồng rừng và chăm sóc rừng xã Đồng Văn giai đoạn
2012-2013
74
3.15
Hướng khai thác đất chưa sử dụng
79
3.16
Kế hoạch đưa đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho 05 năm tiếp theo
80
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
STT
Tên biểu đồ, hình ảnh
Trang
Hình 3.1
Đất đồi núi CSD trạng thái Ic
61
Ảnh 3.4
Loại hình trồng sắn trên đất CSD
70
Ảnh 3.5
Loại hình trồng chanh trên đất đồi núi CSD
70
Ảnh 3.6
Loại hình trồng rừng sản xuất trên đất đồi núi CSD
71
Ảnh 3.7
Loại hình trồng sắn xen canh rừng sản xuất trên đất đồi núi CSD
71
viii
trong đó diện tích đất chưa sử dụng là 2.384,60 ha, chiếm 3,27% tổng diện tích tự
nhiên.Với đặc thù là một huyện miền núi, địa hình chia cắt mạnh nên hiện tượng
suy thoái đất do xói mòn, mất chất dinh dưỡng là không thể tránh khỏi. Trong
những năm trước đây rừng bị tàn phá do đốt nương làm rẫy trên đất dốc, biện pháp
canh tác chưa hợp lý cùng với điều kiện mưa lớn tập trung theo mùa đã làm cho đất
đai bị xói mòn rửa trôi, trơ sỏi đá.
Xuất phát từ thực trạng tài nguyên đất, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp khai
thác sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nói chung và đất chưa sử dụng nói riêng tại
huyện Tân Kỳ là rất cần thiết ; để đáp ứng nhu cầu về các loại sản phẩm nông
nghiệp ngày càng tăng bên cạnh việc đầu tư thâm canh tăng năng suất thì việc mở
rộng diện tích canh tác nông nghiệp ở những nơi còn đất chưa sử dụng cũng hết sức
cần thiết. Không chỉ phục vụ nhu cầu sản xuất trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài
đối với việc bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái. Vì vậy, trong phạm vi
của một luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý đất đai, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá thực trạng và khả năng khai thác sử dụng đất chưa sử dụng
huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An” nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong
phát triển nông lâm nghiệp ở huyện Tân Kỳ nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Điều tra, đánh giá hiện trạng đất chưa sử dụng: số lượng, chất lượng, địa
bàn phân bố nhằm xác định những đặc tính cơ bản và khả năng khai thác sử dụng
trong sản xuất nông lâm nghiệp của huyện.
- Đề xuất sử dụng hợp lý đất chưa sử dụng vào mục tiêu phát triển sản xuất
nông, lâm nghiệp của huyện phù hợp với điều kiện sản xuất nông hộ hiện nay.
2
Chương 1
‘‘Núi đá không có rừng cây’’ là đất chưa sử dụng ở dạng núi đá mà trên đó
không có rừng cây.
1.1.2. Quá trình hình thành đất chưa sử dụng
Đồi núi trọc nước ta được hình thành do nhiều nguyên nhân tự nhiên kinh tế
xã hội nhất định. Tại mỗi vùng đất trống, đồi núi trọc thì đều có những đặc điểm tự
nhiên, nguồn nước, hệ sinh thái…khác nhau. Do đó mà những giải pháp về khai
hoang, sử dụng đất đồi núi chưa sử dụng không thể giống đất đồng bằng, thậm chí
cũng không thể giống nhau giữa các vùng có đất đồi núi chưa sử dụng.
-
Đất đồi núi trọc tự nhiên:
Đó là những vùng đất có những điều kiện tự nhiên vốn có (địa hình, nông hóa, thổ
nhưỡng) không thể có một loại cây nào có thể tồn tại và phát triển ở đó được. đối
với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc thì loại đất này chiếm khoảng từ 7-10%
tổng diện tích đất đồi núi chưa sử dụng (Nguyễn Văn Thịnh, 1996). Diễn biến của
đất đồi núi chưa sử dụng tự nhiên phát triển theo hai xu hướng cơ bản:
Diện tích tăng một cách tự nhiên được tác động hoàn toàn các tính chất tự
nhiên như điều kiện địa lý, địa chất…xu hướng này gia tăng hay hạn chế hoàn toàn
chịu sự tác động của hai yếu tố đó là tự nhiên và con người. Hoạt động tích cực của
con người sẽ có tác động tích cực làm tăng khả năng thu hẹp diện tích đất này.
Ngược lại, nếu để tự nhiên diễn ra các quá trình xói mòn, rửa trôi đất do mưa, gió
gây ra mà không có sự chế ngự của con người thì diện tích đất chưa sử dụng tăng
thêm là lẽ dĩ nhiên.
- Đất đồi núi chưa sử dụng do quá trình sử dụng, khai thác của con người tạo ra.
Loại đất này cũng diễn biến theo các xu hướng sau:
Diện tích đồi núi trọc ngày càng tăng nhanh nếu con người chỉ biết khai thác
một lần theo kiểu bọc lột tài nguyên thiên nhiên.
Diện tích có khả năng thu hẹp nếu biết kết hợp khai thác bảo vệ rừng và đất
Hệ lụy của các nguyên nhân trên dẫn tới những hậu quả ảnh hưởng trực tiếp
tới đời sống của con người như lũ quét, sạt lở đất, sa mạc hóa.
Theo tổ chức lương thực thực phẩm thế giới (FAO) thì trong vòng 20 năm
tới, hơn 140 triệu ha đất (tương đương với diện tích của Alska sẽ bị mất đi giá trị
trồng trọt và chăn nuôi.Đất đai ở hơn 100 nước trên thế giới đang chuyển chậm sang
dạng hoang mạc. Trên phạm vi toàn cầu, khoảng 25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi
hằng năm vào các sông ngòi và biển cả (Lê Văn Khoa, 2010).
Do đó đất chưa sử dụng là một trong những hiện tượng có tính tự nhiên và
chịu những tác động do con người tạo nên trong quá trình khai thác sử dụng. Đây là
5
nhân tố có ý thức, mục đích của con người gây ra và cũng có các biện pháp cải tạo
nhằm làm giảm diện tích đất chưa sử dụng.
Một số chỉ tiêu đánh giá đất chưa sử dụng và cải tạo sử dụng hợp lý đất chưa
sử dụng theo tiêu chuẩn ở bảng sau:
Một số chỉ tiêu đánh giá đất chưa sử dụng bảng 1.1
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu đánh giá đất chưa sử dụng
Chỉ tiêu
Tốt
Trung bình
Nghèo xấu
100 – 50
< 50
pHKCL
> 5,50
5,50 – 4
2,50
2,50 – 1
0,15
0,15 – 0,10
< 0,10
P2O5 tổng số (%)
> 0,10
0,10 – 0,05
5 – 10
> 10
Độ sâu tầng đất (cm)
Đá lộ đầu
> 100
Nguồn: Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên -1999
1.1.3. Nguyên nhân hình thành đất chưa sử dụng
Nguyên nhân chính hình thành đất chưa sử dụng có thể quy tụ thành hai
nhóm nguyên nhân sau:
- Nguyên nhân khách quan: Đó là những nguyên nhân nằm ngoài sự can
thiệp của con người. có liên quan đến cấu tạo tầng địa chất, nguồn gốc đá mẹ, độ
dày tầng đất quá mỏng, bị xói mòn rửa trôi qua một quá trình lâu dài làm cho thực
vật không thể mọc được, con người không thể khai thác đất đó cho các mục đích
sản xuất nông, lâm nghiệp.
6
- Nguyên nhân chủ quan do quản lý, sử dụng của con người: Chủ yếu là các
nguyên nhân sau đây:
- Sức ép gia tăng dân số và tình trạng đói nghèo liên miên.
- Đốt rừng làm rẫy, du canh du cư làm cho đất ngày càng nghèo kiệt đến phải
bỏ hoang. Tập quán sống du canh du cư cùng với phương thức canh tác lạc hậu của
dân cư cũng là nguyên nhân tạo nên đất đồi núi chưa sử dụng
Trên thực tế việc hình thành đất chưa sử dụng là chịu sự tác động của hai
18.075 ha. Trong khi đó diện tích rừng vị mất giai đoạn 2003-2007 thì nhiều hơn
giai đoạn trước là khoảng 18.157 ha (Phạm Tiến Đạt và cs.., 2009).
Ở các nước phát triển, diện tích rừng tăng 9 triệu ha, con số này quá nhỏ so với
diện tích rừng đẫ mất đi chất lượng của những khu rừng còn lại đang bị đe dọa bởi
nhiều sức ép do tình trạng gia tăng dân số, nhu cầu khai thác gỗ củi và cháy rừng.
Nguyên nhân hình thành đất chưa sử dụng rất đa dạng và phong phú. Do tính
chất phức tạp về nguồn gốc, nên để thuận tiện trong phân tích và đánh giá ta nên
chia thành các nhóm nguyên nhân sau đây:
Nguyên nhân thứ nhất: Các yếu tố tự nhiên đó là khí hậu và địa hinh.có thêt
nói đây là hai yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất nông nghiệp và
điều kiện sinh hoạt của con người.
Địa hình là yếu tố có quan hệ chặt chẽ tới xói mòn bề mặt vì với địa hình
dốc,dòng chảy sẽ dễ xảy ra. Cường độ xói mòn tỷ lệ thuận với độ dốc. Còn trong
điều kiện đất bằng phẳng thì xói mòn bề mặt do mưa hầu như không đáng kể. Địa
hình dốc là yếu tố “bảo thủ” khó khắc phục.
Nguyên nhân thứ hai: Tập quán du canh, du cư và tập tục di cư tự do của một
số đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu tập trung ở vùng Tây Bắc. Du canh du cư là
một phương thức sản xuất và sinh hoạt lạc hậu từ bao đời để lại. Bên cạnh đó, có
hơn 2 triệu người sống du canh du cư.số dân cư nay dang sống rải rác trên 90 huyện
vùng cao cới 80% dân số có thu nhập từ nương rẫy. Hàng năm họ đốt rừng trồng tỉa,
không hề làm đât, bón phân và thực hiện các biện pháp chống xói mòn Việc di cư
tự do không theo kế hoạch hàng năm đã kéo theo việc khai thác sử dụng đất bừa
bãi, chặt phá rừng làm nương rẫy đang là thực trạng đáng lo ngại nhất. Theo điều tra
của GS. Bùi Quang Toản, ở Tây Bắc nước ta trong vòng 20 năm dân số tăng lên 2,3
lần thì độ che phủ giảm đi một nửa. Cũng trong thời gian trên diện tích nương rẫy
8
tăng lên 1,7 lần, như vậy là diện tích rừng giảm, diện tích nương rẫy tăng và đương
tế xã hội đang còn nhiều khó khăn phức tạp làm cho bảo vệ môi trường sinh thái
càng khó thêm (Nguyễn Văn Thịnh, 1996).
Bảng 1.2. Cơ cấu diện tích đất đai của vùng Bắc Trung Bộ năm 2013
Đơn vị: ha
Đất nông nghiệp
Tỉnh
Diện tích
Đất sản
xuất nông
nghiệp
Đất lâm
Đất
nghiệp
NTTS
Đất
NN
khác
Đất phi
Đất
963.691
7.984
616
129.172
270.649
Hà Tĩnh
599.782
130.117
351.891
4.661
259
84.453
27.963
Quảng Bình
806.527
503.321
60.816
325.209
6.027
411
91.396
19.461
5145.556
892.657
3144.185
36.551
2.639
567.383
500.488
100
10
từng vùng, miền nhằm mục đích đạt được kết quả như mong muốn.
Các nhân tố tự nhiên tác động đến quá trình hình thành đất và đang có những
ảnh hưởng lâu dài trong quá trình sử dụng đất đai. Trong mọi trường hợp, tốc độ
phát triển sản xuất phần lớn phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên và trạng thái của
chúng. Những yếu tố tự nhiên thường có ảnh hưởng khá lớn đến các ngành, nhưng
đặc biệt nhất là ngành nông nghiệp. Sự ảnh hưởng đó mang ý nghĩa lớn không chỉ
trong phạm vi vùng, khu vực mà ngay cả những vùng nhỏ tuỳ điều kiện cụ thể của
từng nơi (Phùng Văn Hiếu, 2010).
- Khí hậu thời tiết: Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Theo vị
trí địa lý lãnh thổ Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu
nên thời tiết là nắng lắm mưa nhiều, là điều kiện khá thuận lợi cho việc sinh trưởng
của các loại thực vật nhiệt đới cũng như phát triển sản xuất nông nghiệp theo
phương thức tăng vụ trong năm.
- Nhiệt độ và ánh sáng: nhiệt độ cao đều, tổng tích ôn lớn, năng lượng dồi
dào làm tăng khả năng quang hợp và tích tụ các chất là yếu tố thuận lợi cho nhiều
loại cây trồng. Các vùng nóng (vùng có tổng tích ôn từ 8000 – 90000C, nhiệt độ
trung bình năm từ 21- 240C) rất thuận lợi để tăng vụ cây trồng hàng năm. Các vùng
nóng vừa (vùng có tổng tích ôn từ 7000 – 80000C, nhiệt độ trung bình năm từ 20210C) vẫn có khả năng tăng vụ nhưng không lớn. Vùng rất nóng (vùng có tổng tích
ôn trên 90000C, nhiệt độ trung bình năm từ 24- 250C) rất thích hợp để phát triển cây
dài ngày nhiệt đới, việc tăng vụ cũng khá dễ dàng.
-Lượng mưa trung bình năm cao 1800-2000mm, mùa mưa thường ngắn
nhưng cường độ mạnh là yếu tố thúc đẩy sự phân huỷ đá sâu sắc và tạo nên tầng đất
dày cho nhiều loại đất đồi núi. Xói mòn đất xảy ra nghiêm trọng trong mùa mưa
làm cho đất bị nghèo xấu, năng suất cây trồng càng bị giảm sút mạnh, dẫn đến tình
trạng nhiều vùng đất dốc không thể canh tác được nữa dẫn đến hiện tượng kết von
đá ong hoặc tạo ra những loại đất bạc màu, xói mòn trơ sỏi đá, là mối đe dọa trực
cơ và mùn nhiều sẽ cho đất có kết cấu tốt và hạn chế xói mòn .Ảnh hưởng rõ rệt
hơn cả là kết cấu đất. Đất có kết cấu viên bền, tơi xốp không những thấm nước
nhanh mà còn chống chịu sự bắn phá của động lực hạt mưa, hạn chế xói mòn và
ngược lại (Đỗ Thị Lan, 2010).
Đất càng dày mà có kết cấu tốt thì thấm nước nhiều, nhanh nên xói mòn ít
12
hơn đất mỏng và không có kết cấu.
Vì những đặc điểm của nhân tố tự nhiên là mang tính khu vực, vị trí địa lý
của vùng quyết định sự sai khác về tình trạng nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm không
khí…Vì vậy khi nghiên cứu đất chưa sử dụng không thể áp đặt một cách máy móc
các kỹ thuật canh tác cũng như cơ cấu cây trồng của vùng này cho vùng khác được
nếu chủ quan sẽ mang lại hậu quả xấu, mà trước hết phải nghiên cứu các yếu tố tự
nhiên, xác định các mặt lợi thế và hạn chế từ đó mà vạch ra phương hướng và mục
tiêu cụ thể khai thác đất chưa sử dụng cho từng vùng . Công việc trên không chỉ
thông qua kinh nghiệm của quần chúng nhân dân mà phải có sự giúp đỡ của nhà
nước- nhất lá các tổ chức nghiên cứu khoa học (Nguyễn Văn Thịnh, 1996).
1.2.2. Nhóm nhân tố kinh tế
Trước hết, vùng đất đồi núi chưa sử dụng tập trung ở các tỉnh trung du miền
núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ gắn liền với sinh sống của các dân tộc ít người còn
nhiều tập quán lạc hậu: đốt rừng làm rẫy, khai thác các sản phẩm có sẵn trong tự
nhiên, du canh du cư…mặt khác trình độ dân trí thấp ,tỉ lệ nghèo đói cao, ít kinh
nghiệm kinh doanh sản xuất hàng hóa.. là những nhân tố gây khó khăn cản trở cho
quá trình bảo vệ tài nguyên, khai thác và sử dụng đất chưa sử dụng. Sự điều chỉnh
khôn khéo các phương thức khai thác sẽ giúp cho họ khắc phục được tình trạng
thiếu lương thực và tồn tại bền vững.
Nếu như trong nền kinh tế hiện vật, mỗi gia đình nông dân đều tự túc được
nhu cầu tối thiểu cơ bản, thì chuyển sang nền kinh tế hàng hóa ,người kinh doanh
mỗi quốc gia được thể hiện thông qua Hiến pháp, Luật đất đai, Nghị định, Thông tư
hướng dẫn…, chính sách nông nghiệp, bộ máy tổ chức và cán bộ, cơ sở vật chất kỹ
thuật, cấu trúc hạ tầng, vốn.... Chính những nhân tố đó là đòn bảy kinh tế thúc đẩy các
đối tượng khai thác sử dụng đất có hiệu quả. (Phùng Văn Hiếu, 2010).
Như vậy, những nhân tố về điều kiện tự nhiên, và điều kiện kinh tế - xã hội
tác động trực tiếp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai. Muốn nghiên cứu và xử lý
mối quan hệ giữa các nhân tố chúng ta cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy
luật kinh tế xã hội. Việc xác định mục đích sử dụng đất hợp lý và sử dụng ưu thế tài
nguyên đất đai sẽ làm cho diện tích đất hữu hạn cho hiệu quả kinh tế, xã hội ngày
càng cao và hiệu quả khai thác, sử dụng được bền vững.
14
1.3. Cơ sở khoa học về khai thác sử dụng hợp lý đất chưa sử dụng
1.3.1. Những đặc điểm cơ bản của vùng đất chưa sử dụng
Số liệu tổng hợp của Tổng cục Thống kê mới đây cho thấy, diện tích đất
chưa sử dụng toàn quốc tính đến 01/01/2014 là 2.476.908 ha. Diện tích đất chưa sử
dụng nước ta hiện nay tập trung chủ yếu ở nhiều vùng núi hẻo lánh của nước ta và
trung du thuộc các huyện dân cư thưa thớt, đất đai xấu, khó canh tác hoặc không thể
canh tác được, cơ sở hạ tầng kém phát triển, địa hình phức tạp, độ dốc cao (Phùng
Văn Hiếu, 2010). Một phần cũng do đặc điểm tự nhiên sẵn có của từng vùng, phần
nữa cũng là do quá trình canh tác chưa đúng kỹ thuật, chọn cây trồng chưa phù hợp
với từng loại đất. Tình trạng du canh, đốt rừng làm nương rẫy của một số đồng bào
dân tộc ít người dẫn đến diện tích đất chưa sử dụng nước ta ngày một tăng.
Trong tương lai, nếu chúng ta biết giảm thiểu những điểm bất lợi và phát huy
những điều kiện thuận lợi sẵn có như sử dụng kiến thức bản địa của địa phương trải
qua một thời gian canh tác lâu dài họ đã tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu (Trần
Sỹ Hải và cs.., 2007), biết đầu tư khai thác hợp lý hiệu quả nguồn tài nguyên đất
này cho phát triển nông, lâm nghiệp sẽ đem lại lợi ích lớn cho đất nước .
ra mãnh liệt, kết quả là đất bị rửa trôi chất dinh dưỡng, làm tích lũy secquioxit, kết
von đá ong ở nhiều nơi có độ ẩm thấp. Phần lớn đất feralit đỏ vàng ở Việt Nam chứa
Fe3+ và Al3+ cao, có nơi lên đến 50-60%. Đất thường có mực nước ngầm cao, gây kết
von trên diện rộng, có khi xuất hiện tầng đá ong chặt (Đào Khang, 1999).
Đối với các quốc gia có phần lớn lãnh thổ là đồi núi thì việc đầu tư cho công
tác chống xói mòn đất là tương đối cao và khó khăn. Một số giải pháp chống xói
mòn bảo vệ đất có thể kể đến như: giải pháp công trình, giải pháp sinh học. Vấn đề
đặt ra ở đây là các biện pháp công trình có tác dụng bảo về đất tốt nhất đạt tới 8090% nhưng đồng nghĩa với điều đó thì chi phí bỏ ra cho giải pháp đó tỷ lệ thuận
với hiệu quả mà nó đem lại. Đó là bài toán chưa có lời giải đối với các nước chậm
phát triển, có vốn đầu tư thấp.
Hậu quả của xói mòn là làm cho đất bị nghèo xấu, thoái hóa, năng suất cây
trồng bị giảm mạnh dẫn đến tình trạng nhiều vùng đất dốc không thể canh tác được
nữa. Vì vậy phòng chống xói mòn là một biện pháp cực kỳ quan trọng để sử dụng
đất dốc có hiệu quả, là một yêu cầu không thể thiếu được trong việc phát triển kinh
tế nông hộ ở miền núi. Nhiều tác giả ở Việt Nam đặc biệt quan tâm và đã có những
16
công trình nghiên cứu về vấn đề này ở một số vùng đồi núi khác nhau trên cả nước,
cụ thể là: Xói mòn đất hiện đại và các biện pháp chống xói mòn của Nguyễn Quang
Mỹ (2005). Nghiên cứu sự xói mòn rửa trôi do đất dốc gây lên đất chưa sử dụng
Tây Bắc của Bùi Quang Toản (1991).
Đối với các vùng đất chưa sử dụng cũng cần chú ý một số đặc điểm về kinh
tế và xã hội như: Việc cày bừa chăm bón và thu hái sản phẩm rất vất vả, nặng nhọc
do phải trèo đèo, lội suối, vượt dốc. Phần lớn những công việc đó phải dung sức
người, phải đổ mồ hôi, công sức và thời gian rất nhiều, về cơ bản chủ yếu là bị yếu
tố địa hình chi phối, thứ hai nữa là do bên cạnh điều kiện kinh tế khó khăn kéo theo
cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật cũng như trình độ người lao động còn hạn chế. Từ
đó việc tiếp thu, áp dụng kỹ thuật, biện pháp canh tác còn gặp nhiều khó khăn
nhân để diện tích đồi núi trọc ngày càng tăng.
Thiếu lương thực, thức ăn gia súc, thiếu chất đốt.
Thiếu vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng thấp kém.
Thiếu trí tuệ.
Xây dựng các chương trình, dự án khai thác đất đồi núi, bao gồm các giải pháp:
Phát triển lâm nghiệp cồng đồng
Sử dụng lao động nông thôn.
Phát triển thủy lợi, trồng cây đặc sản sản xuất.
Ở Indonêxia chính phủ quan tâm đến nạn phá rừng nhất là rừng đầu nguồn,
đến kỹ thuật canh tác nông nghiệp và chế biến lâm sản, chủ trương làm ruộng bậc
thang và trồng cây theo vanh đai hợp tác với các nước Hà Lan, Đức, FAO, ICRAF
về nhiều lĩnh vực như: Xây dựng các chủ trương chính sách, chuyển giao kỹ thuật
và công nghệ, cung cấp thiết bị và thông tin hiện đại (Đào Khang, 1999).
Thành lập các tổ chức và văn phòng quốc gia quản lý đất đồi núi
Nhiều nước trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương chủ trương đa dạng hóa các
hình thức và tổ chức kinh doanh rừng, sử dụng đất chưa sử dụng với các mô hình:
Rừng làng, vườn làng, vườn rừng gia đình, vườn ươm cây, vườn rừng nhân dân,
trang trại nông - lâm nghiệp.
Ở Ấn Độ thành lập văn phòng quốc gia sản xuất đất hoang hóa và văn phòng
quốc gia bảo vệ và sử dụng đất đai (đặt tại Bộ Lâm nghiệp và Môi trường).
Ở Thái Lan: từ năm 1975 đã phát triển hình thức rừng làng, vườn làng được
chú trọng và thu nhiều kết quả tốt.
18
1.3.3. Cơ sở khoa học khai thác hợp lý đất chưa sử dụng
1.3.3.1 Đánh giá tiềm năng đất
Đề cương đánh giá đất của FAO:
Qua các hôi thảo quốc tế về đánh giá đất: