Phân tích thực trạng kê đơn thuốc kháng sinh cho bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh hà nam năm 2015 - Pdf 41

Mục lục
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN .........................................................................................3
1.1.
Qui định kê đơn thuốc nội trú trong quá trình sử dụng thuốc tại
bệnh viện.....................................................................................................................3
1.1.1.

Kê đơn nội trú trong quá trình sử dụng thuốc .......................................4

1.1.2.

Các chỉ số đánh giá việc kê đơn kháng sinh tại bệnh viện ....................5

1.2.

ĐẠI CƢƠNG VỀ THUỐC KHÁNG SINH ..............................................10

1.2.1.

Khái niệm chung ...................................................................................10

1.2.2.

Phân loại kháng sinh ............................................................................10

1.2.3.

Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh .................................................12

1.3.

3.2.1. Tỷ lệ các kháng sinh được kê có trong danh mục thuốc bệnh viện,
danh mục thuốc thiết yếu của bộ y tế ..................................................................32


3.2.2. Cơ cấu kháng sinh theo nguồn gốc xuất xứ, theo tên gốc và tên
thương mại, theo thành phần và đường dùng ....................................................34
3.2.3. Cơ cấu kháng sinh theo nhóm hoạt chất hoá học ....................................36
3.3. Phân tích việc thực hiện qui chế kê đơn kháng sinh nội trú tại bệnh viện
đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2015 ............................................................................38
3.3.1. Tỷ lệ bệnh án thực hiện đúng cách ghi chỉ định thuốc ............................38
3.3.2. Bệnh nhân được khai thác tiền sử dị ứng, làm kháng sinh đồ, xét
nghiệm vi khuẩn, hội chẩn trước khi sử dụng kháng sinh ................................39
3.3.3. Tỷ lệ các kiểu phối hợp kháng sinh thường gặp .......................................40
3.3.4. Số thuốc kháng sinh trung bình trong một bệnh án nội trú ....................41
3.3.5. Thời gian điều trị kháng sinh trung bình .................................................42
3.3.6. Tỷ lệ kháng sinh cho một đợt điều trị ........................................................42
Chƣơng IV : BÀN LUẬN............................................................................................45
4.1. Tỷ lệ sử dụng kháng sinh tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2015 ..45
4.2. Cơ cấu kháng sinh sử dụng tại bệnh viện ......................................................45
4.3. Việc thực hiện qui chế kê đơn kháng sinh nội trú tại bệnh viện..................48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.....................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................................56


QUY ƢỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Tiếng Anh

Tiếng Việt


BVĐK

Bệnh viện đa khoa

BYT

Bộ Y tế

DDD

Defined Dose Daily

Liều xác định trong ngày

DMTBV

Danh mục thuốc bệnh viện

DMTCY

Danh mục thuốc chủ yếu

DSCK I

Dƣợc sĩ chuyên khoa I

GARP

HIV

Stapylococcus aureus kháng

Stapylococcus aureus

methicillin

New delhi metallo – beta

Men làm cho vi khuẩn kháng với

lactamase 1

các kháng sinh nhóm beta-lactam
Nhiễm khuẩn bệnh viện

NKBV
WHO

World Health Organization

Tổ chức y tế thế giới

XDR-TB

Extensively drug-resistant

Bệnh lao siêu kháng thuốc

turbeculosis


30

Bảng 3.3

Phân loại bệnh án theo nhóm bệnh lý

31

Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8

Tỷ lệ các kháng sinh đƣợc kê có trong danh mục thuốc
bệnh viện hoặc danh mục thuốc thiết yếu của bộ y tế
Các thuốc nằm ngoài danh mục thuốc bệnh viện và thuốc
thiết yếu
Cơ cấu thuốc kháng sinh tiêu thụ theo nguồn gốc xuất xứ
Cơ cấu thuốc kháng sinh tiêu thụ theo tên gốc, tên thƣơng
mại
Cơ cấu thuốc kháng sinh tiêu thụ theo thuốc đơn/đa thành
phần

32
33
34
35
35


Tỷ lệ bệnh nhân đƣợc khai thác tiền sử dị ứng, làm kháng

Bảng 3.14

sinh đồ, xét nghiệm vi khuẩn, hội chẩn trƣớc khi sử dụng

39

kháng sinh

Bảng 3.15
Bảng 3.16
Bảng 3.17

Tỷ lệ các kiểu phối hợp kháng sinh thƣờng gặp
Số lƣợng thuốc kháng sinh đƣợc sử dụng trong một bệnh
án điều trị nội trú
Thời gian điều trị kháng sinh trung bình

40
41
42


Bảng 3.18

Cơ cấu thuốc kháng sinh cho một đợt điều trị

42


việc nghiên cứu tìm ra kháng sinh mới đã tạo ra thế hệ vũ khí hữu hiệu giúp con
ngƣời trong cuộc chiến chống lại vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên hiện nay thực trạng
lạm dụng thuốc kháng sinh ở các cơ sở y tế cũng nhƣ trong cộng đồng đang trở
thành vấn đề thách thức đối với toàn cầu và đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển
[31].
Ngày nay trên thế giới xuất hiện nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh đã trở nên
ngày càng kháng kháng sinh. Các kháng sinh “thế hệ một” gần nhƣ không đƣợc lựa
chọn mà đƣợc thay thế bằng các thuốc thế hệ mới hơn. Cùng với đó là chi phí để
chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn cũng tăng lên thậm chí một số kháng sinh thuộc
nhóm “lựa chọn cuối cùng” cũng đang mất dần hiệu lực[21].
Tại Việt Nam, tình hình kháng kháng sinh đang ở mức độ cao. Việt Nam
cũng là nƣớc có mức độ kháng penicillin (71,4%) và erythromycin (92,1%) cao
nhất trong số các nƣớc thuộc mạng lƣới giám sát các căn nguyên của kháng thuốc ở
châu Á (ANSORP)[20]. Mặc dù khó đánh giá một cách chính xác về tình hình
kháng kháng sinh, tuy nhiên vấn đề này đã và đang gây ra những tác động tiêu cực
đối với ngành y tế và kinh tế Việt Nam. Trƣớc tình hình đó Chính phủ đã đƣa ra
nhiều chính sách cũng nhƣ tham gia vào các chƣơng trình dự án của thế giới nhằm
mục tiêu làm thế nào để sử dụng kháng sinh một cách hợp lý. Mới đây Bộ Y tế đã
phê duyệt kế hoạch hành động Quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ 2013 –
2020 [1].
Trong bệnh viện, việc sử dụng kháng sinh an toàn và hợp lý đóng góp hết
sức to lớn trong việc hạn chế vi khuẩn kháng thuốc từ đó hạn chế sự lây lan của vi
khuẩn kháng thuốc, hạn chế nhiễm trùng bệnh viện, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh,
tỷ lệ tử vong cũng nhƣ gánh nặng về y tế và kinh tế xã hội. Do đó việc đánh giá

1


thực trạng sử dụng kháng sinh hiện nay là hết sức cần thiết để phản ánh thực trạng
và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc kháng sinh.

tăng nguy cơ xảy ra phản ứng có hại và sự lệ thuộc vào thuốc của bệnh nhân.
Vì vậy WHO cho rằng “ Sử dụng thuốc hợp lý là phải đáp ứng đƣợc yêu cầu
lâm sàng của ngƣời bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể ngƣời bệnh (đúng liều,
đúng khoảng cách đƣa thuốc và thời gian sử dụng thuốc). Thuốc phải đáp ứng đƣợc
những yêu cầu về chất lƣợng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm
tới mức thấp nhất chi phí cho ngƣời bệnh và cộng đồng”.[3]
Chẩn
đoán

Sử
dụng
thuốc

Tuân
thủ diều
trị

Kê đơn

Giao
phát

Hình 1.1: Mô hình sử dụng thuốc tại bệnh viện

3


1.1.1. Kê đơn nội trú trong quá trình sử dụng thuốc
Là việc quyết định thuốc nào là cần thiết cho bệnh nhân, liều bao nhiêu và
quá trình điều trị là bao lâu[25]. Đối với bệnh nhân nội trú thì thuốc đƣợc kê trong

 Dựa vào hƣớng dẫn thực hành điều trị, đảm bảo liệu trình điều trị.
- Y lệnh dùng thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào hồ sơ bệnh án gồm: tên
thuốc, hàm lƣợng, liều dùng, đƣờng dùng và thời gian dùng.
- Phải ghi y lệnh dùng thuốc theo đúng trình tự thuốc tiêm, thuốc viên,
thuốc nƣớc, tiếp đến là phƣơng pháp điều trị khác.
- Dùng thuốc kháng sinh phải đánh số theo dõi số lần dùng, liều dùng, tổng
liều.
- Dùng thuốc gây nghiện đánh số theo dõi ngày dùng, liều dùng, tổng liều,
số lƣợng phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa.
- Khi kê đơn thuốc gây nghiện, thuốc quí hiếm cấp phát cho ngƣời bệnh tại
khoa dƣợc phải đƣợc giám đốc bệnh viện hoặc trƣởng khoa(đƣợc phân
cấp) kí duyệt.
Do đó, để giám sát thực hiện quy chế chuyên môn trong việc chỉ định
thuốc trong hồ sơ bệnh án, đối với mỗi hồ sơ bệnh án cần kiểm tra các
chỉ tiêu trên.[2]
1.1.2. Các chỉ số đánh giá việc kê đơn kháng sinh tại bệnh viện
a. Trong quá trình nghiên cứu đánh giá việc sử dụng thuốc chống nhiễm khuẩn tại
bệnh viện, cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kì và tổ chức quản lý sức khỏe trong hệ
thống dƣợc phẩm của Mỹ đã dựa trên bộ chỉ số đánh giá sử dụng thuốc của tổ chức
y tế thế giới ban hành năm 1993 để đƣa ra bộ chỉ số đối với sử dụng kháng sinh
đƣợc sử dụng đối với các bệnh viện, và bộ chỉ số này đƣợc sửa đổi và bổ sung lần 2
vào năm 2012. Bộ chỉ số này bao gồm 17 chỉ số, 5 chỉ số liên quan đến bệnh viện,
9 chỉ số liên quan đến bác sĩ kê đơn và 2 chỉ số liên quan đến việc chăm sóc bệnh
nhân, 1 chỉ số liên quan đến kháng sinh đồ đã làm. Các nhà quản lý bệnh viện, hội
đồng thuốc và điều trị, các nhà nghiên cứu hoạch định chiến lƣợc có xu hƣớng sử
dụng bộ chỉ số này coi nhƣ một công cụ đánh giá hữu hiệu để đánh giá tình hình sử
dụng kháng sinh trong bệnh viện.[29]

5




Chỉ số bổ sung:
- Tỷ lệ % kháng sinh đồ đƣợc làm trong tổng số bệnh nhân đƣợc điều trị bằng
kháng sinh
b. Đồng thời trong thông tƣ số 21/TT-BYT ra ngày 8/8/2013 của Bộ Y tế đã đƣa ra
các chỉ số liên quan đến việc sử dụng thuốc kháng sinh tại các cơ sở khám chữa
bệnh ban đầu gồm:
Các chỉ số kê đơn:
- Số thuốc kê trung bình trong một đơn.
- Tỷ lệ % thuốc đƣợc kê tên generic hoặc tên chung quốc tế (INN).
- Tỷ lệ % đơn kê có kháng sinh.
- Tỷ lệ % đơn kê có thuốc tiêm.
- Tỷ lệ % thuốc đƣợc kê đơn có trong DMTTY do Bộ Y tế ban hành.
Các chỉ số chăm sóc người bệnh:
- Thời gian khám bệnh trung bình.
- Thời gian phát thuốc trung bình.
- Tỷ lệ % thuốc đƣợc cấp phát trên thực tế.
- Tỷ lệ % thuốc đƣợc dãn nhán đúng.
- Hiểu biết của ngƣời bệnh về liều lƣợng.
Các chỉ số cơ sở:
- Sự sẵn có của các thuốc thiết yếu hoặc thuốc trong danh mục cho bác sĩ kê
đơn.
- Sự sẵn có của các phác đồ điều trị.
- Sự sẵn có của các thuốc chủ yếu.
Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện:
- Tỷ lệ % ngƣời bệnh đƣợc điều trị không dùng thuốc.
- Giá trị tiêu thụ cho thuốc trung bình của mỗi đơn.
- Tỷ lệ % giá trị tiêu thụ thuốc dành cho kháng sinh.
- Tỷ lệ % giá trị tiêu thụ thuốc dành cho thuốc tiêm.

- Ngày điều trị kháng sinh (DOT - Days Of Therapy) trung bình.
8


- Liều dùng một ngày (DDD - Defined Daily Dose) với từng kháng sinh cụ thể.
- Số lƣợng, tỷ lệ % ngừng kháng sinh, chuyển kháng sinh từ đƣờng tiêm sang
kháng sinh uống trong những trƣờng hợp có thể.
Tiêu chí về nhiễm khuẩn bệnh viện
- Tỷ lệ % ngƣời bệnh mắc nhiễm khuẩn bệnh viện trên tổng số ngƣời bệnh nằm
viện.
- Tỷ lệ % ca phẫu thuật bị nhiễm khuẩn vết mổ trên tổng số số ca phẫu thuật.
- Tỷ lệ % ngƣời bệnh mắc viêm phổi do thở máy trên tổng số ngƣời bệnh thở máy.
- Tỷ lệ % ngƣời bệnh mắc nhiễm khuẩn huyết liên quan đến đặt đƣờng truyền trung
tâm (catheter) trên tổng số ngƣời bệnh đặt đƣờng truyền trung tâm.
- Tỷ lệ % ngƣời bệnh mắc nhiễm khuẩn tiết niệu trên tổng số ngƣời bệnh đƣợc đặt
thông tiểu.
- Tỷ lệ % dung dịch vệ sinh tay sử dụng trên tổng số số giƣờng bệnh.
- Tỷ lệ % các trƣờng hợp nhiễm vi khuẩn đa kháng (trong đó có carbapenem) đƣợc
cách ly.
Tiêu chí về mức độ kháng thuốc (xác định theo tiêu chuẩn EUCAST hoặc CLSI):
- Số lƣợng, tỷ lệ % vi khuẩn kháng thuốc đối với từng loại kháng sinh/từng loại
bệnh phẩm/khoa hoặc khối lâm sàng;
- Số lƣợng, tỷ lệ % chủng vi khuẩn sinh (β - lactamase phổ rộng (Extended
spectrum beta-lactamase - ESBL);
- Số lƣợng, tỷ lệ % chủng tụ cầu vàng kháng methicillin (Methicillinresistant Staphylococcus Aureus - MRSA);
- Số lƣợng, tỷ lệ % chủng tụ cầu vàng giảm tính nhạy cảm với vancomycin (ở mức
I - Intermediate) (Vancomycin - resistant Staphylococcus Aureus - VRSA);

9



10


Tính nhạy cảm của kháng sinh đƣợc xác định dựa vào nồng độ ức chế tối
thiểu và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu. Dựa vào tính nhạy cảm của vi khuẩn với
kháng sinh, ngƣời ta chia kháng sinh thành 2 nhóm chính: kháng sinh diệt khuẩn và
kháng sinh kìm khuẩn.
a.

Kháng sinh diệt khuẩn
Là kháng sinh có nồng độ diệt khuẩn tối thiểu tƣơng đƣơng với nồng độ ức

chế tối thiểu và dễ dàng đạt đƣợc nồng độ diệt khuẩn tối thiểu trong huyết tƣơng.
Nhóm này bao gồm: penicillin, cephalosporin, aminosid polymyxin.
b.

Kháng sinh kìm khuẩn
Là kháng sinh có nồng độ diệt khuẩn tối thiểu lớn hơn nồng độ ức chế tối

thiểu và khó đạt đƣợc nồng độ bằng nồng độ diệt khuẩn tối thiểu trong huyết tƣơng.
Nhóm này gồm: tetracycline, cloramphenicol, macrolid.
1.2.2.2. Dựa vào cơ chế tác dụng của kháng sinh
Dựa vào cơ cế tác dụng chia thành các nhóm:
Thuốc ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn:β - lactam, vancomycin, bacitracin,
fosfomycin.
Thuốc ức chế hoặc thay đổi tổng hợp protein của vi khuẩn: cloramphenicol,
tetracyclin, macrolid, lincosamid và aminoglycosid.
Thuốc ức chế tổng hợp acid nhân: co - trimoxazol
Thuốc làm thay đổi tính thấm của màng tế bào: polymyxin, amphotericin

có hoạt lực cao với vi khuẩn gây bệnh và thấm tốt vào tổ chức nhiễm bệnh.
+ Cơ địa bệnh nhân: Muốn dùng kháng sinh còn phải chú ý vào vấn đề bệnh
nhân có dung nạp tốt hay không, và cần lƣu ý đến đối tƣợng bệnh nhân là ngƣời
cao tuổi, suy thận, suy gan hoặc trẻ nhỏ.
- Lựa chọn kháng sinh đúng liều, đúng cách, đủ thời gian
Không có qui định cụ thể về độ dài đợt điều trị với mọi loại nhiễm khuẩn nhƣng
nguyên tắc chung là :
+ Sử dụng kháng sinh đến khi hết vi khuẩn trong cơ thể + 2-3 ngày ở ngƣời
bình thƣờng và + 5-7 ngày ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
+ Với nhiễm khuẩn nhẹ, đợt điều trị thƣờng kéo dài khoảng 7-10 ngày, nhƣng
với nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng sinh khó thâm
nhập thì đợt điều trị kéo dài hơn.
12


- Phối hợp kháng sinh hợp lý
Mục đích của việc phối hợp kháng sinh là để tăng tác dụng lên các chủng đề kháng
mạnh, giảm khả năng kháng thuốc hoặc tránh tạo những chủng vi khuẩn đề kháng,
nới rộng phổ tác dụng của kháng sinh.
- Dự phòng kháng sinh hợp lý
Dự phòng kháng sinh là dùng kháng sinh để dự phòng ngăn ngừa nhiêm khuẩn
hoặc ngăn ngừa nhiễm khuẩn tái phát. Trong điều trị nội khoa nên sử dụng kháng
sinh dự phòng khi có các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn[4].
1.3.

Thực trạng kê đơn thuốc kháng sinh trong nhƣng năm gần đây

1.3.1. Thực trạng kê đơn thuốc kháng sinh trên thế giới
1.3.1.1. Thực trạng kê đơn kháng sinh trên thế giới
Cùng với sự gia tăng của dân số thế giới, sự xuất hiện của các bệnh dịch

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo về thực trạng kê đơn đáng lo
ngại trên toàn cầu: khoảng 30-60% bệnh nhân tại các cơ sở y tế đƣợc kê đơn kháng
sinh, tỷ lệ này cao gấp đôi so với nhu cầu lâm sàng, khoảng 20-90% số ca viêm
đƣờng hô hấp trên do virus đƣợc điều trị bằng kháng sinh và 60-90% bệnh nhân
đƣợc kê đơn kháng sinh không phù hợp[30]. Thực trạng sử dụng kháng sinh ngoại
trú chính là thách thức cho các bác sĩ trong điều trị các bệnh nội trú.Phân tích số
liệu về kê đơn và sử dụng thuốc theo đơn cho thấy thực trạng chung ở cả các nƣớc
phát triển và đang phát triển là bác sĩ, nhân viên y tế và ngƣời bệnh đều chƣa sử
dụng thuốc một cách hợp lý. Vấn đề chính bao gồm không tuân thủ chỉ định điều
trị; tự ý sử dụng những thuốc phải kê đơn, lạm dụng thuốc kháng sinh và thuốc
tiêm, lạm dụng dụng những thuốc tƣơng đối an toàn, sử dụng những thuốc đắt tiền
không cần thiết[25].
Khác với điều trị ngoại trú, những bệnh nhân nội trú đƣợc điều trị nhiều
ngày dƣới sự theo dõi của nhân viên y tế. Số lƣợng thuốc, số loại thuốc đƣợc kê
đơn nhiều hơn cũng là nguyên nhân dẫn đến sai sót lien quan đến thuốc tăng lên.
Chính vì vậy Rosa MB và cộng sự đã sử dụng đến 8 biến và nhóm biến số để
nghiên cứu về sai sót trong chỉ định thuốc nhƣ: Ghi tên bệnh nhân, ngày kê đơn…
đặc biệt đánh giá cả mức độ khó đọc của đơn, chữ viết tắt không rõ nghĩa. Đồng
thời, các tác giả cũng tiến hành phân tích hồi quy đơn biến để chỉ ra rằng loại đơn
14


thuốc (kê viết tay, kê điện tử hay kết hợp cả hai) có ảnh hƣởng đến sai sót trong
đơn thuốc. Trong đó, so với kê đơn điện tử, tần suất kê đơn viết tay có sai sót gấp 3
lần còn kê đơn kết hợp gặp sai sót gấp 2,5 lần . Một thiết kế nghiên cứu can thiệp
so sánh trƣớc-sau để đánh giá hiệu quả của áp dụng kê đơn điện tử tại bệnh viện
lớn ở Sydney, Australia. Trong thiết kế của mình, Westbrook JI và cộng sự không
chỉ so sánh kết quả trƣớc-sau can thiệp mà còn so sánh trên cả mẫu đối chiếu để
đƣa đến kết luận việc áp dụng kê đơn điện tử có tác dụng làm giảm sai sót trong kê
đơn .

tƣơng lai của loài ngƣời.Khoảng 15% ngƣời bệnh đƣợc điều trị đã phải dùng đến
các thuốc phác đồ bậc hai và bậc ba.Chi phí các thuốc này gấp 100 lần so với các
thuốc phác đồ bậc một. Sự kháng thuốc của HIV tăng lên đặt ra một thách thức cần
phải duy trì chƣơng trình tiếp cận toàn cầu ở các nƣớc có thu nhập thấp. Các nƣớc
này cần phải tăng cƣờng các dịch vụ y tế và cải tiến chất lƣợng chăm sóc ngƣời
nhiễm HIV để giảm thiểu việc lan truyền virus kháng thuốc[5].
1.3.2. Thực trạng kê đơn kháng sinh ở Việt Nam
Trong các năm gần đây, thị trƣờng thuốc tại Việt Nam ngày càng đa dạng,
mở rộng cả về chủng loại cũng nhƣ số lƣợng thuốc và hoạt chất.Cũng chính vì thế
mà công tác quản lý sử dụng thuốc sẽ ngày càng trở nên khó khăn và phức tạp.Đặc
biệt là vấn đề sử dụng kháng sinh hợp lý đang ngày càng trở nên cấp bách và cần
thiết hơn bao giờ hết.
1.3.2.1. Thực trạng kê đơn kháng sinh trong bệnh viện
Một nghiên cứu tại Việt Nam về thực hành kê đơn của các thầy thuốc phòng
khám bệnh viện huyện cho thấy, trung bình một đơn thuốc có 4,2 loại thuốc và
62% đơn thuốc có ít nhất một loại kháng sinh và chỉ có 38% số thuốc đƣợc kê có
trong danh mục thuốc thiết yếu[15].
Một nghiên cứu về bệnh viện trung ƣơng quân đội 108 năm 2010 cho thấy tỉ
lệ thuốc điều trị kí sinh trùng chống nhiễm khuẩn nhóm A đã sử dụng tại bệnh viện
gồm 30 kháng sinh trong đó ƣu tiên sử dụng nhóm kháng sinh β-lactam mà chủ yếu
là cephalosporin thế hệ 3. Nhóm thuốc này chiếm 19 thuốc với tỉ lệ 12,75% tổng số
thuốc nhóm A. Tuy nhiên trong năm 2010 ban lãnh đạo bệnh viện cũng nhƣ khoa
16


dƣợc đều thống nhất không sử dụng thuốc có nguồn gốc từ Ấn Độ do nhiều mối lo
ngại về chất lƣợng thuốc xuất xứ tại đây.Ƣu tiên dùng thuốc nhập khẩu vì một phần
các công ty dƣợc trong nƣớc chƣa đáp ứng đƣợc nguồn kháng sinh thế hệ cao có
chất lƣợng đảm bảo[15].Theo một nghiên cứu, tại bệnh viện E số đơn thuốc kê theo
tên generic là 30,86% còn tại bệnh viện Bạch Mai là 100%.Trong đó, số đơn có kê

thể mua kháng sinh từ các nhà thuốc và quầy thuốc mà không cần đơn của bác sĩ.
Theo kết quả khảo sát về việc kê đơn tại một số cơ sở bán lẻ thuốc chữa bệnh. Theo
kết quả khảo sát về việc bán thuốc kháng sinh ở các hiệu thuốc vùng nông thôn và
thành thị các tỉnh phía Bắc cho thấy nhận thức về kháng sinh và kháng kháng sinh
của ngƣời bán thuốc và ngƣời dân còn thấp, đặc biệt là ở vùng nông thôn. Trong
tổng số 2953 nhà thuốc đƣợc khảo sát: có 499/2083 hiệu thuốc ở thành thị (24%)
và 257/870 hiệu thuốc ở nông thôn (29%) có bán đơn thuốc kê kháng sinh. Kháng
sinh đóng gói 13,4% (thành thị) và 18,7% (nông thôn) trong tổng doanh thu của
hiệu thuốc. Phần lớn kháng sinh đƣợc bán mà không có đơn 88%( thành thị) và
91%( nông thôn). Mua kháng sinh để điều trị ho và sốt 31,6%( thành thị) và 21,7%(
nông thôn). Ba loại kháng sinh đƣợc bán nhiều nhất là Ampicillin/Amoxicillin
(29,1%), Cephalexin(12,2%) và Azithromycin(7,3%). Ngƣời dân thƣờng yêu cầu
đƣợc bán kháng sinh mà không có đơn 49,7%( thành thị) và 28,2%( nông thôn).
Kháng sinh thƣờng đƣợc chỉ định đề điều trị cảm lạnh và ho thông thƣờng. Ngoài
ra, liều dùng và quá trình điều trị cũng thƣờng không tuân thủ theo hƣớng dẫn cũng
là một thực trạng đáng lo ngại gây ra tình trạng kháng kháng sinh[21].
Nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc kháng sinh tại tuyến y tế cơ sở cho
thấy vai trò của quản lý trong công tác sử dụng thuốc trong cộng đồng nhằm nâng
cao hiểu biết của ngƣời dân nói chung cũng nhƣ sử dụng thuốc kháng sinh an toàn
hợp lý và hiệu quả nói riêng. Trƣớc tiên tuyến y tế cơ sở cần giữ lại điều trị nhƣng
bệnh nhân nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình, không nên giữ lại những bệnh nhân
nhiễm khuẩn cấp tính mà tối đa sau 5 ngày không có cải thiện gì đặc biệt là những
bệnh nhi nhiễm trùng huyết, nghi viêm màng não mủ, viêm màng hoại tử… ngƣời
bệnh có thai, trẻ còn bú dƣới ba tháng , ngƣời có bệnh gan, thận thiếu máu. Sớm
ban hành qui chế thanh tra trong đó có việc thanh tra chất lƣợng, rà soát các danh
mục thuốc kháng sinh dùng trong nƣớc đẻ khi làm kế hoạch nhập phải dành 1
18


khoản tiền, nhập đồng bộ chất chuẩn chất đối chiếu và một vài hóa chất dung môi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status