Vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam - Pdf 41

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

TRỊNH QUANG BẮC

VI PHẠM PHÁP LUẬT
TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
CÓ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

7

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về vi phạm pháp luật trong đầu tư xây
dựng cơ bản có vốn ngân sách của nhà nước
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
1.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG ĐẦU

7

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM PHÁP LUẬT
TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY

4.1. Quan điểm phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có
vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
4.2. Các giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản
có vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

21
34
45
55
59

61
76

76
83
99
109

109
117
148
151

:

Giao thông vận tải

HĐND

:

Hội đồng nhân dân

KBNN

:

Kho bạc nhà nước

KTNN

:

Kiểm toán nhà nước

KTV

:

Kiểm toán viên

KTVNN


:

Ngân sách trung ương

TNHH

:

Trách nhiệm hữu hạn

TP

:

Thành phố

TSCĐ

:

Tài sản cố định

TW

:

Trung ương

UBND


luật trong lĩnh vực đầu tư công, tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt
động đầu tư xây dựng cơ bản, hướng đến để có các công trình xây dựng cơ bản
hữu ích, phục vụ cộng đồng và tiết kiệm nhất. Tuy nhiên, việc nghiên cứu ở các
nước trên thế giới và Việt Nam chưa thực sự tập trung vào một thực tiễn cần
nghiên cứu có tính cấp bách.
1.2. Cấp thiết về thực tiễn
Đó là ở Việt Namvi phạm pháp luật, tội phạm cũng ngày càng gia tăng, ở tất
cả các lĩnh vực, trong đó vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn
ngân sách nhà nước là hết sức nghiêm trọng. Thực tế cho thấy, tình trạng thất thoát
tài sản nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản đã diễn ra phổ biến, làm tiêu huỷ các
nguồn lực, phá vỡ quy hoạch, kế hoạch phát triển quốc gia, cả quy hoạch, kế hoạch
phát triển vùng, lãnh thổ, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành kinh tế kỹ thuật, tạo
ra áp lực tài chính lớn cho việc thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội
môi trường đầu tư, làm hư hỏng một bộ phận đội ngũ cán bộ công chức gây bất bình
trong dư luận xã hội.
Trong bối cảnh đó, nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư công trên thế
giới và đầu tư công ở Việt Nam được phân tích, bình luận và đăng tải trên các
phương tiện thông tin đại chúng tại các diễn đàn hội thảo, hội nghị và ở các cấp


2
độ nghiên cứu chuyên sâu, chuyên ngành, cấp nhà nước và cấp bộ, cấp cơ sở.
Nhiều đại biểu Quốc hội, trong nhiều kỳ họp đều có chung những trăn trở, suy
nghĩ, trao đổi, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nhiều giải pháp khắc phục. Nhiều
công trình nghiên cứu làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho Quốc hội ban hành nghị
quyết về chống thất thoát trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, ban hành và
sửa đổi nhiều đạo luật quan trọng như luât Luật ngân sách nhà nước; Luật thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật
Phòng chống tham nhũng... đều có mục tiêu là nhằm phòng ngừa, xử lý nghiêm
các vi phạm trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước. Cố gắng

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề án
- Thống kê, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học của nước ngoài và
trong nước về đầu tư xây dựng cơ bản, pháp luật đầu tư xây dựng cơ bản có vốn
ngân sách nhà nước và vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân
sách của Nhà nước. Trên cơ sở đó xác định rõ những vấn đề đã được nghiên cứu
cần kế thừa, phát triển; những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
- Phân tích, làm sáng tỏ những cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật trong đầu
tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước như khái niệm, đặc điểm đầu tư xây
dựng cơ bản có vốn nhà nước; khái niệm, đặc điểm vi phạm pháp luật và vi phạm
pháp luật đầu tư xây dựng cơ bản có vốn nhà nước; nội dung vi phạm pháp luật
trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước, các điều kiện bảo đảm
phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.
- Hệ thống hoá thực trạng vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có
vốn ngân sách nhà nước theo 3 giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng từ 2010-2014.
- Tìm nguyên nhân chủ quan, khách quan của vi phạm pháp luật trong đầu tư
xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước
- Phân tích, luận giải các quan điểm giải pháp bảo đảm phòng, chống vi
phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước ở Việt
Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứucủa luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước, các
quan điểm, giải pháp phòng chống loại vi phạm pháp luật này.


4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Chỉ nghiên cứu vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng sử
dụng ngân sách nhà nước

cơ sở lý luận đến thực trạng và quan điểm, giải pháp bảo đảm phòng, chống vi phạm
pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước.
- Phương pháp thống kê và xã hội học pháp luật được sử dụng trong chương 3
khi đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân
sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp so sánh được sử dụng trong chương 1 để làm rõ tình hình
nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Phương pháp này cũng được
sử dụng ở chương 3 để so sánh, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong đầu tư
xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về vi
phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên
cứu của luận án sẽ có những đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện các quan điểm, quan niệm về pháp
luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước, luận án đã xây dựng
khái niệm khoa học vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân
sách nhà nước, chỉ ra đặc điểm và hình thức vi phạm đồng thời, phân tích làm rõ các
điều kiện đảm bảo phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng có vốn
ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích, đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ
bản có vốn ngân sách nhà nước, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế đó. Từ đó, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm
phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung và làm giàu thêm những kiến
thức lý luận về vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản
có vốn ngân sách nhà nước; xây dựng cơ sở khoa học cho việc phân tích, đánh giá
thực trạng vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà
nước; xây dựng và hoàn thiện các yếu tố, điều kiện đảm bảo phòng, chống vi phạm
pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước.

tập trung viết về xu hướng

đầu tư và triển vọng đầu tư, trong đó có một chương khắc hoạ về các hiểm hoạ đầu
tư như tham nhũng, lãng phí, thất thoát và trên cơ sở đó, khẳng định các nước cần
phải có giải pháp khắc phục và hành vi vi phạm pháp luật.
Trong công trình do OECD

công bố “Danh mục các từ khoá và định

nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài” các định nghĩa đầu tư và đầu tư nước ngoài
được công bố một cách cụ thể, rõ ràng, làm cơ sở cho việc nghiên cứu về đầu tư nói
chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng.
Công trình “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và và phát triển các chính sách
thường niên cho các nước có nền kinh tế phát triển” của Giáo sư Theodore
H.Moan

đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về đầu tư, đầu tư trực

tiếp nước ngoài. Đồng thời có một mục phân tích về đầu tư trong xây dựng cơ bản.
Các nội dung đầu tư, xu hướng đầu tư và lĩnh vực đầu tư bằng các nguồn vốn nhà
nước, vốn ODA và các vốn của các nhà đầu tư trong khối tư nhân cũng được tác giả
phân tích thấu đáo, làm cơ sở cho các nghiên cứu, dự báo và quan điểm, giải pháp,
bình luận cho các nước có nền kinh tế phát triển.
Công trình “Các dự án Đầu tư: Sự thay đổi quan điểm chính trị đối với đầu
tư đô thị” của tác giả David E.Lubroff

đã đưa ra giả thiết thực tế từ những sự

thất bại của những năm 1970 ở Mỹ trong các dự án đầu tư công cộng trong những
thành phố ở Mỹ. Ở đó có một số lượng lớn các dự án trong khoảng thời gian từ năm


tập trung vào tầm

quan trọng của đầu tư công để tăng trưởng trong khi thực tế thì thâm hụt ngân sách
lớn và nợ công tăng. Cuốn sách tập trung vào một chủ đề rất kịp thời, đưa ra các
triển vọng tăng trưởng thấp và tài chính, chính sách phải đối mặt với các nước thành
viên Châu Âu hiện tại và tương lai, đó khủng hoảng tài chính nghiêm trọng và tỷ lệ
tăng trưởng sản lượng rất thấp. Do những hạn chế đặt trên chính sách tiền tệ của
đồng tiền chung và mất tự chủ chính sách tiền tệ, vai trò của chính sách tài khóa, và
đặc biệt, công đầu tư trong một khung cảnh khăn về ngân sách và tỷ lệ tăng trưởng
thấp trở nên quan trọng. Các tài liệu trong cuốn sách rất hữu ích cho các học giả,


9
các nhà nghiên cứu và các học viên khi nghiên cứu đầu tư công, nhất là đầu tư xây
dựng cơ bản.
Cuốn sách: “Sức Mạnh của quản lý đầu tư công - Tài sản cho sự tăng
trưởng” của tập thể tác giả biên tập: Anand Rajaram, Kai Kaiser, Tuấn Minh Lê,
Jay-Hyung Kim và Jonas Frank

đã tập trung phân tích nguồn lực đầu tư, nếu

đầu tư có hiệu quả cho xây dựng cơ bản như cơ sở hạ tầng công cộng và các dịch
vụ có thể làm mở ra một quá trình tăng trưởng và phát triển toàn diện. Nhưng
thông thường các dự án công cộng thường được lựa chọn nhà đầu tư theo kiểu bảo
trợ chính trị. Nhiều công trình đầu tư được thiết kế kém, thiếu thốn, trì hoãn, rất
tốn kém, hoặc bị thực hiện, với rất ít lợi ích công. Đồng thời nhiều dự án đầu tư
công mà người dân ít có khả năng dân biết. Đây là một thách thức quan trọng đối
với nhiều nước, cả người giàu và người nghèo. Cuốn sách này đưa ra 8 giải pháp
có tính hiệu quả quan trọng mà các nước cần phải áp dụng để đảm bảo rằng các

Kỳ đã chỉ ra các mối quan hệ giữa bạo lực và các chủ thể có liên quan đến vi phạm
pháp luật. Các hành vi vi phạm pháp luật đều xuất phát từ các chủ thể được nghiên cứu
dưới góc độ tâm lý, giới tính và qua đó, chỉ ra rằng đàn ông có nhiều khả năng vi phạm
pháp luật hơn nữ giới.
Công trình “Pháp luật và quả cầu pha lê- dự đoán về hành vi hợp pháp và vi
phạm pháp luật trước các phán quyết tư pháp” năm 1979 của Barbara D.
Underwood, Giáo sư Đại học Luật Yale. Giáo sư Barbara tập trung nghiên cứu về
hai đề tài đang có sự bàn cãi và không thống nhất về hành vi hợp pháp và không
hợp pháp. Thông qua các phân tích của mình, Giáo sư Barbara đã chỉ ra rằng sự vi
phạm pháp luật là hành vi có thể xảy ra thường xuyên hoặc không thường xuyên
phụ thuộc vào ý chí của chủ thể, môi trường xã hội và sự kiểm soát có lợi ích từ
phía nhà nước, nhà trường và xã hội.
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài về vi phạm pháp luật
trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước
Jill trong nghiên cứu mang tên “Tham nhũng và thông đồng trong xây dựng góc nhìn từ ngành công nghiệp” (Corruption and collusion in construction: a view
from the industry) đã chỉ ra rằng: “Đầu tư vào các dự án là điều cần thiết cho sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều hơn những bất cập
trong việc đầu tư vào xây dựng”

. Cụ thể tại các nước đang phát triển, đầu tư

xây dựng đang tồn tại nhiều nhược điểm như dự án không phù hợp, giá cao, chất
lượng kém, lãng phí quá nhiều thời gian và chi phí cho việc bảo trì và một bộ phận
thu nhập thấp không thể tiếp cận với các dự án. Những tiêu cực này đã tác động đến
vấn đề phát triển và xóa đói giảm nghèo và làm nảy sinh một thực trạng đó là nhà
đầu tư tìm kiếm phương pháp giúp nâng cao "giá trị cho đồng tiền" từ ngành công


11
nghiệp xây dựng. Theo thống kê, ngành xây dựng được nhắc đến như là một trong


(Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức ngày 25-4-2013 tại Hà Nội,
trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.01.09/11-15 “Khủng hoảng nợ
công ở một số nước Liên minh châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” do
PGS. TS. Đinh Công Tuấn làm Chủ nhiệm đề tài. Khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đã làm bùng nổ cuộc khủng hoảng nợ công ở các


12
nước thành viên EU, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
của các nước trong EU. Khởi phát từ Hy Lạp, kéo theo hàng loạt các nước thành
viên như Ailen, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia và hiện nay là Síp, các thành viên
khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đang lún sâu vào nợ công, thâm hụt
ngân sách nặng nề. Các nền kinh tế đầu tàu của châu Âu như Anh, Pháp, Đức cũng
bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nợ công cao xấp xỉ 100% GDP, thâm hụt ngân sách cao
gấp 3-4 lần mức trần cho phép. Đây là công trình nghiên cứu quan trọng, có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn sâu sắc. Nội dung sách gồm các bài viết của các chuyên gia,
nhà nghiên cứu hàng đầu nghiên cứu sâu về lĩnh vực tài chính - kinh tế. Cuốn sách
cung cấp cho bạn đọc cái nhìn mới, đầy đủ và rõ nét hơn về nợ công ở một số nước
thuộc Liên minh châu Âu và liên hệ với nền kinh tế Việt Nam.
Cuốn sách: Những vấn đề pháp lý về tài chính doanh nghiệp của TS. Nguyễn
Thị Lan Hương

tập trung phân tích sự điều chỉnh của pháp luật về vốn, tài sản;

huy động vốn và tài sản; quản lý và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp và hoạt
động giám sát tài chính doanh nghiệp... qua đó, giới thiệu những kiến thức cơ bản
và tương đối có hệ thống về hoạt động tài chính của doanh nghiệp và pháp luật về
tài chính doanh nghiệp, tập trung và chủ yếu trong hai loại hình công ty phổ biến
nhất ở nước ta hiện nay là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.

cứu của các ngành khoa học ấy như sau:
Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội,
Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Học viện chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh đã xây dựng khái niệm hành vi vi phạm pháp luật, chỉ rõ
những dấu hiệu và cấu thành chung của nó. Nội dung quan trọng của lý luận chung
về nhà nước và pháp luật về vi phạm pháp luật là đã nghiên cứu những nguyên nhân
dẫn đến vi phạm pháp luật, hậu quả to lớn của nó đối với xã hội, Nhà nước, với
quyền và tự do của công dân, cũng như những vẫn đề phòng ngừa xử lý vi phạm
pháp luật. Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật cũng được nghiên cứu và chỉ rõ
làm cơ sở xác định vi phạm pháp luật.
Các khoa học luật chuyên ngành, trong đó trước hết là khoa học luật hình
sự đã đi sâu nghiên cứu các vi phạm pháp luật theo đối tượng nghiên cứu, làm rõ
chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước không chỉ những vấn đề chung mà còn
mô tả cấu thành tội phạm nói chung và cấu thành tội phạm của từng hành vi tội
phạm cụ thể. Hành vi vi phạm pháp luật phổ biến trong xã hội trong quản lý nhà


14
nước là vi phạm hành chính. Đó cũng là đối tượng nghiên cứu của luật hành chính.
Khoa học này đã đưa ra khái niệm vi phạm hành chính, đặc điểm pháp lý chung
của nó đồng thời đưa ra những căn cứ có tính nguyên tắc để phân biệt giữa vi
phạm hành chính và tội phạm.
Các nghiên cứu, cụ thể về các loại vi phạm pháp luật hết sức đa dạng, được
thực hiện bởi nhiều cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học, dưới
các hình thức chương trình, đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước, cấp bộ, các
luận án tiến sĩ, thạc sĩ luật, các bài viết được công bố trên các tạp chí chuyên
ngành, các sách chuyên khảo. Liên quan đến đề tài luận án có thể kể đến một số
công trình sau:
- Đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước


15
áp dụng cho cả phương pháp cũng như đối tượng kiểm toán. BAI kỳ vọng rằng
với kiểm toán dựa vào hệ thống các kiểm toán viên của họ sẽ dễ dàng chẩn đoán
và đánh giá các dịch vụ nói chung và các chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ
bản nói riêng của Chính phủ Hàn Quốc nhằm ngăn ngừa việc các hiện tượng
tham nhũng, chống thất thoát ngân sách nhà nước, đồng thời đưa ra giải pháp
cho những vấn đề được phát hiện.
- Đề tài khoa học công nghệ cấp bộ
Nghiên cứu cơ sở khoa học thực tiễn xử lý khiếu nại hành chính, do Thanh
tra Bộ Nội vụ thực hiện (2003), Chủ nhiệm đề tài TS. Đỗ Xuân Đông

. Đề tài

thông qua việc xem xét, hệ thống các quy định pháp luật về khiếu nại hành chính,
đặc biệt là từ thực tiễn áp dụng các quy định này để đưa ra các giải pháp hoàn thiện
cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính. Đây cũng là các giải pháp mà luận án có thể
tham khảo trong phòng chống các vi phạm pháp luật trong xây dựng cơ bản có vốn
ngân sách nhà nước.
Đề tài khoa học công nghệ cấp bộ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện năm
2005

, trên cơ sở kết quả điều tra của các đoàn công tác của Chính phủ tại các

địa phương có các vi phạm các quy định về ưu đãi đầu tư, trong đó có đầu tư các
công trình xây dựng cơ bản. Những kiến nghị của đề tài về phương hướng, giải
pháp xử lý vi phạm cũng là nguồn tham khảo bổ ích cho luận án.
- Đề tài khoa học cấp cơ sở
Đề tài nghiên cứu khoa học: Vai trò quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư
xây dựng trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới, Viện KTXD, Bộ Xây dựng,

Trần Quốc Nam (chủ nhiệm đề tài) (2000), Cơ sở lý luận và thực tiễn kiểm
toán tuân thủ trong đầu tư xây dựng, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Kiểm toán nhà
nước khu vực phía Bắc, Hà Nội

. Đề tài đã nghiên cứu lý luận về đầu tư xây

dựng, đồng thời xác định vai trò của kiểm toán tuân thủ trong đầu tư xây dựng, đánh
giá thực trạng của hoạt động này, đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn hoạt
động kiểm toán ở giai đoạn năm 2000.
Phạm Khắc Xương (2002), Thực trạng về tham nhũng, lãng phí trong các
chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
và những giải pháp đặt ra với kiểm toán nhà nước, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
cơ sở

. Đề tài phân tích, đánh giá thực trạng tham nhũng, lãng phí trong các

chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước,
xác định các vai trò của kiểm toán nhà nước, đưa ra giải pháp phù hợp và có tính
khả thi nhằm khắc phục lãng phí, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản bằng
nguồn vốn ngân sách nhà nước.
- Sách chuyên khảo
Lê Thế Tiệm và đồng nghiệp (2006), Công tác đấu tranh phòng chống tham
nhũng trong xây dựng cơ bản, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

.

Cục Cảnh sát kinh tế (1999), Thực trạng tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

.

góc độ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật lại chưa được nghiên
cứu một cách toàn diện. Do đó, những đề tài nêu trên là những tri thức cơ bản, đóng vai
trò quan trọng để tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vi phạm
pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước.
Giả thuyết khoa học của luận án là:
Trong khoa học chưa giải quyết thấu đáo về đầu tư xây dựng cơ bản có vốn
ngân sách nhà nước, chưa có những nghiên cứu xác đáng về vi phạm pháp luật
trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn NSNN ở bình diện lý luận; chưa có những
nghiên cứu một cách hệ thống, tổng quát về những hành vi vi phạm pháp luật
trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn NSNN và chưa chỉ ra được những nguyên
nhân của những vi phạm; chưa có những giải pháp chung và giải pháp cụ thể để


18
đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn
ngân sách nhà nước.
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1. Về mặt lý luận
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là
đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước trên thế giới nhưng không phân tích dưới
góc độ từng yếu tố của vi phạm pháp luật trong các giai đoạn đầu tư xây dựng và
chưa rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam.
Đồng thời, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về vi phạm pháp
luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước đang tồn tại những
vấn đề sau:
Một là, những kết quả nghiên cứu chỉ có giá trị nhận thức là chủ yếu, chưa
tạo cơ sở cho việc áp dụng những giá trị ấy cho việc nghiên cứu các vi phạm pháp
luật cụ thể, trong đó có vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn
ngân sách nhà nước.

Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng việc chống tham nhũng, thất thoát,
lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam là cần thiết và cấp bách. Nhưng
cần phải luận giải để đưa ra một hệ thống các quan điểm khoa học và toàn diện, các
giải pháp cụ thể, khả thi, phù hợp với định hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đảm bảo một cơ chế kiểm soát được các
hành vi vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân sách nhà nước
hữu hiệu nhất.
Kết luận chương 1
Ở trong nước và ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan
đến đầu tư xây dựng cơ bản, vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật trong đầu tư
xây dựng cơ bản. Các vấn đề về đặc điểm tội phạm, đặc điểm vi phạm pháp luật nói
chung… đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ lâu. Ở một số nước
đã hình thành lý thuyết, luận điểm khoa học cho việc xây dựng và vận hành hoạt
động đầu tư xây dựng cơ bản hữu hiệu, công khai, minh bạch.
Ở Việt Nam, từ khi đường lối đổi mới được đề xướng, nhất là đổi mới về
kinh tế, cải cách kinh tế và chủ trương phòng chống tham nhũng có rất nhiều công
trình nghiên cứu về đầu tư xây dựng cơ bản, pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản…


20
trong đó có có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến yêu cầu, giải pháp phòng
chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản có nguồn vốn
nhà nước. Nhiều công trình trực tiếp nghiên cứu về vi phạm pháp luật dưới góc độ
hình sự, hành chính… Hầu hết các công trình đều cho rằng chống tham nhũng là hết
sức cần thiết nhưng chúng chưa cung cấp đầy đủ và thuyết phục cơ sở lý luận để
thực hiện những công việc đó.
Biểu hiện của vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có vốn ngân
sách nhà nước ở Việt Nam chưa được phân tích một cách cụ thể và toàn diện về
từng yếu tố của vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản cũng như các yếu
tố tác động như pháp luật, ý thức pháp luật, môi trường xã hội, môi trường đầu tư

. Trong đầu tư có hai hình thức, đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

Theo Điều 4, Luật Đầu tư công (2014) “Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà
nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và đầu tư
vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế-xã hội”.

Như vậy,

hiểu theo nghĩa rộng hay hẹp, theo cách tiếp cận nào thì đầu tư hay đầu tư công
cũng được hiểu một nghĩa chung là việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo
những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy
trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian
xác định.


22
Xây dựng là việc sử dụng vốn để tạo mới các công trình phục vụ cho các hoạt
động kinh tế - xã hội như: Cầu, đường, nhà máy, xí nghiệp, các công trình thủy lợi,
cơ quan, trường học, bệnh viện... Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ
xây lắp gắn liền với đất đai (bao gồm cả khoảng không, mặt nước, mặt biển, thềm
lục địa) được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động, đồng thời, đó
cũng là kết quả sử dụng vốn đầu tư cho công trình xây dựng.
Xây dựng cơ bản là xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thật, hạ tầng cơ sở
kinh tế - xã hội có tính chất xây dựng như xây dựng công trình giao thông, thủy
lợi thủy điện, cầu cảng, xây dựng nhà cửa, công sở, nhà máy phục vụ sản xuất
phát triển kinh tế; các công trình phúc lợi xã hội như nhà văn hóa công viên rạp
chiếu...phục vụ phát triển của xã hội. Như vậy XDCB có đặc thù riêng đó là lợi
ích của nó phục vụ cho mọi người, mọi ngành trong xã hội, nguồn vốn đấu tư lớn
cần có sự đầu tư của Nhà nước. Trong những năm qua Nhà nước đã giành hàng
chục ngàn tỷ đồng mỗi năm cho ĐTXDCB. ĐTXDCB của Nhà nước chiếm tỷ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status