BỘ NỘI VỤ
______
BÁO CÁO
VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC VÀ ĐỘI NGU
VIÊN CHỨC TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
CÔNG LẬP TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY
Hà Nội, tháng 3 năm 2010
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
Từ thời kỳ đầu dựng nước, đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước cho đến
nay, dù trong điều kiện thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp hay trong quá
trình chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN hiện nay, thể chế quản lý đội ngu
cán bộ, công chức và viên chức đều được Nhà nước ban hành. Do đặc điểm và điều kiện
của nước ta, các quy định về quản lý công chức, viên chức đã được áp dụng chung trong
một thời gian dài, chưa tính đến tính chất, đặc điểm đặc thù lao động của cán bộ, của
công chức và của viên chức. Năm 1998, khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công
chức, những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và tổ chức
chính trị - xã hội cung là đối tượng điều chỉnh và thực hiện theo các quy định của Pháp
lệnh. Mọi nội dung cơ bản liên quan đến tiêu chuẩn chức danh, ngạch bậc, tuyển dụng,
điều động, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thăng tiến, chế độ tiền lương,
đãi ngộ, thôi việc, nghỉ hưu và cơ chế quản lý đối với đội ngu cán bộ, công chức làm việc
trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước đều được quy định và thực hiện giống như đối
với đội ngu cán bộ, công chức trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước và tổ chức
chính trị- xã hội. Năm 2003, Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung đã bước
đầu phân định cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ
chức chính trị - xã hội với cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp (sau đó
tại Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi chung những
đội ngu cán bộ, công chức nói chung. Các quy định về quyền và nghĩa vụ, phương thức
tuyển dụng, bố trí, bổ nhiệm, biệt phái, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, miễn
nhiệm, từ chức, chính sách tiền lương và quản lý đều được áp dụng chung cho cả cán bộ,
công chức trong khu vực hành chính cung như trong khu vực sự nghiệp.
Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thực
hiện việc quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp như chế độ: tuyển dụng,
sử dụng và quản lý; thực hiện chế độ thôi việc và bồi thường chi phí đào tạo; thực hiện
xử lý kỷ luật và bồi thường thiệt hại vật chất do cán bộ, công chức gây ra; quy định việc
kéo dài thời gian công tác của cán bộ, công chức đến độ tuổi nghỉ hưu; quy định quy chế
bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo;
thực hiện phân cấp quản lý và các chính sách về tiền lương, đãi ngộ đối với cán bộ, công
chức. Nhờ đó, đã từng bước thực hiện đổi mới cơ chế quản lý đội ngu cán bộ, công chức,
đưa công tác quản lý đội ngu cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp đi dần vào nề
nếp, đáp ứng yêu cầu cải cách khu vực dịch vụ công. Ví dụ như Nghị định số
95/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán
bộ, công chức; Nghị định số 96/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 của Chính phủ về chế độ
thôi việc đối với cán bộ, công chức; Nghị định số 97/1998/N Đ-CP ngày 7/11/1998 của
Chính phủ về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức (Hệ thống
văn bản QPPL thời kỳ này có phụ lục kèm theo báo cáo này).
Sau thời gian thực hiện từ năm 1998 đến 2003, thực hiện chủ trương của Đảng về
tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, đẩy mạnh phân cấp quản lý cán bộ, công
chức, tiếp tục thực hiện cải cách hành chính nhà nước, năm 2003 Nhà nước đã sửa đổi,
3
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Trong đó có một nội dung rất quan
ngu viên chức trong các đơn vị sự nghiệp đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu khách quan
của thực tiễn quản lý, phù hợp với quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Các quy định về đối tượng
và phạm vi điều chỉnh; nghĩa vụ và quyền lợi của viên chức so với trước đó đã được quy
định cụ thể, rõ ràng (mặc dù còn phải sửa đổi cho phù hợp). Nhờ đó đã tạo cơ sở và căn
cứ để quản lý, xây dựng và phát triển đội ngu viên chức. Với đặc điểm của thể chế chính
4
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
trị ở nước ta, trong lộ trình cải cách nền hành chính nhà nước, tương ứng với việc phân
định cán bộ, công chức khu vực hành chính, sự nghiệp với những người làm việc trong
khu vực sản xuất kinh doanh của Nhà nước, có thể thấy Pháp lệnh cán bộ, công chức (kể
cả qua các lần sửa đổi năm 2000 và 2003) đã đặt nền móng ban đầu cho việc từng bước
xây dựng cơ chế quản lý đội ngu viên chức trong các đơn vị sự nghiệp; phân biệt với cơ
chế quản lý đội ngu cán bộ, công chức.
Hai là, qua một số lần sửa đổi, Pháp lệnh cán bộ, công chức và các văn bản hướng
dẫn thực hiện đã từng bước có sự đổi mới cơ chế quản lý đội ngu viên chức. Thực hiện
nguyên tắc khách quan, công bằng, dân chủ, ưu tiên và bảo đảm chất lượng trong tuyển
dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Từng bước đổi mới cơ chế quản lý viên chức phù
hợp với xu hướng cải cách khu vực dịch vụ công. Cơ chế tuyển dụng viên chức đã
chuyển từ chế độ tuyển dụng suốt đời sang chế độ tuyển dụng theo hợp đồng làm việc;
việc quyết định lựa chọn hình thức tuyển dụng thông qua thi tuyển hay xét tuyển do
người đứng đầu đơn vị sự nghiệp quyết định; cơ cấu viên chức trong các đơn vị sự
nghiệp đã từng bước được cải thiện thông qua việc tổ chức các kỳ thi nâng ngạch viên
chức; việc bổ nhiệm viên chức quản lý, lãnh đạo đã thực hiện bổ nhiệm có thời hạn - khi
hết thời hạn thì xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại; công tác đánh giá viên
chức hàng năm được tiến hành theo quy trình, thủ tục và có tiêu chí cụ thể đã đi dần vào
nề nếp... đã tạo cơ sở cho việc quản lý và nâng cao chất lượng đội ngu viên chức. Với
quản lý viên chức cung còn tồn tại những hạn chê, cần được khắc phục. Đó là:
Một là, Pháp lệnh cán bộ, công chức và các văn bản QPPL hướng dẫn thực hiện
quản lý đội ngu viên chức có nhiều nội dung quy định chưa phù hợp với đặc điểm, tính chất
lao động của đội ngu viên chức. Nhiều quy định về quyền và nghĩa vụ chỉ phù hợp với đội
ngu cán bộ, công chức (làm việc nhân danh quyền lực chính trị, quyền lực công) nhưng lại
áp dụng đối với cả đội ngu viên chức (làm việc dựa trên nghiệp vụ, chuyên môn và ky
thuật). Các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngu cán bộ, công chức và viên
chức đều được áp dụng chung, chưa có sự phân biệt phù hợp với đặc điểm và tính chất
công tác của cán bộ, của công chức và của viên chức. Ví dụ như việc sử dụng ngạch và tổ
chức thi nâng ngạch đối với công chức thì là phù hợp nhưng đối với viên chức khi áp dụng
lại mang tính khiên cưỡng, không phù hợp với tính chất và đặc điểm hoạt động nghề
nghiệp của viên chức.
Hai là, phạm vi xác định của các quy phạm pháp luật về quản lý viên chức chưa
phù hợp với hoạt động lao động mang tính nghề nghiệp, còn mang nhiều dấu ấn của cơ
chế kế hoạch hóa tập trung trước đây. Cụm từ “cán bộ, công chức” được dùng để chỉ
chung những người được bầu cử, được tuyển dụng làm việc trong các cơ quan của Đảng,
của Nhà nước và tổ chức chính trị- xã hội và những người làm việc trong các đơn vị sự
nghiệp công lập. Khái niệm cán bộ, công chức và viên chức chưa được xác định rõ ràng,
cụ thể. Vị trí pháp lý của viên chức chưa được quy định phù hợp với hoạt động nghề
nghiệp trong khu vực sự nghiệp. Một số các chế định về viên chức và quản lý viên chức
chưa có căn cứ khoa học và gắn với thực tiễn như quy định những việc viên chức không
được làm; các hành vi đạo đức phải tuân thủ trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp
đều quy định chung như nhau cho các lĩnh vực sự nghiệp.
Ba là, các văn bản QPPL phục vụ cho quản lý viên chức chưa hoàn toàn thích ứng
với cơ chế thị trường và hệ thống pháp luật hiện hành. Minh chứng cho vấn đề này là sự
mâu thuẫn giữa các quy định về giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự
nghiệp với cơ chế về tiền lương, chính sách đãi ngộ viên chức; mâu thuẫn giữa chế độ
tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ viên chức với quá trình phát triển năng động của nền kinh
tế thị trường; mâu thuẫn giữa chế độ đánh giá viên chức với yêu cầu nâng cao chất lượng
đội ngu viên chức và cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công.
chức nghiệp, gắn với chỉ tiêu biên chế, tiêu chuẩn chức danh ngạch viên chức và thực
hiện chế độ tuyển dụng suốt đời. Sự thăng tiến của viên chức được thực hiện thông qua
bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý hoặc thông qua kỳ thi nâng ngạch. Viên chức
làm việc và thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của mình thông qua và gắn với từng
ngạch chức danh được giao đảm nhiệm.
Từ năm 2003 đến nay, theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ
sung) các đơn vị sự nghiệp công lập đã bắt đầu đổi mới việc quản lý viên chức thông qua
việc thực hiện hợp đồng làm việc trong tuyển dụng và quản lý viên chức, thay cho chế độ
làm việc suốt đời, tuy nhiên vẫn dựa trên chỉ tiêu biên chế và chức danh ngạch viên chức.
Với cơ chế quản lý viên chức như vậy, các nội dung quản lý viên chức đã được
quy định gồm: quản lý biên chế, phân cấp quản lý viên chức, hệ thống tiêu chuẩn chức
danh ngạch viên chức; tổ chức tuyển dụng và nâng ngạch viên chức; sử dụng, bố trí, điều
7
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, biệt phái viên chức; đánh giá, khen thưởng, thăng thưởng,
xử lý vi phạm; đào tạo, bồi dưỡng viên chức;…
Căn cứ vào cơ chế quản lý và các quy định liên quan đến nội dung quản lý viên
chức nêu trên, có thể thấy việc tổ chức các hoạt động lao động của viên chức có thể khái
quát như sau: Hoạt động lao động, làm việc của viên chức được tổ chức như đối với cán
bộ, công chức, mặc dù đây thuần túy là các hoạt động mang tính nghề nghiệp. Viên chức
trong quá trình thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của mình phải tuân thủ các quy định
của pháp luật, chấp hành các nghĩa vụ và được hưởng các quyền lợi do pháp luật quy
định. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và khối lượng công việc phục vụ nhân dân phải
thực hiện, các đơn vị sự nghiệp được phê duyệt một số lượng biên chế nhất định để tuyển
dụng viên chức. Trải qua các giai đoạn từ năm 1998 đến nay, việc quản lý biên chế viên
chức đã được phân cấp mạnh mẽ, gắn với mức độ tự chủ về tài chính của các đơn vị sự
nghiệp. Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện theo thi tuyển hoặc xét tuyển và lực
chức trong Pháp lệnh cán bộ, công chức, đội ngu viên chức trong các đơn vị sự nghiệp đã
có nhiều bước phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Việc tuyển dụng viên chức đã
được chuyển đổi từ phân phối theo kế hoạch sang thực hiện thông qua nhiều phương thức
như thi tuyển, xét tuyển, thuyên chuyển, tiếp nhận, điều động với nguyên tắc cạnh tranh,
khách quan, chất lượng và có chính sách ưu tiên đối với người dân tộc, người có công và
bước đầu đã chú ý đãi ngộ đối với người có tài năng. Chú trọng ưu tiên bổ sung nhân lực
cho các vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo. Các đơn vị sự nghiệp đã thực
hiện quyền tự chủ trong quản lý, việc tuyển dụng viên chức đã được phân cấp cho người
đứng đầu đơn vị sự nghiệp, xóa bỏ cách thức tuyển dụng suốt đời, thay vào đó là thực
hiện ký hợp đồng làm việc. Thực hiện thi nâng ngạch đối với viên chức đã góp phần cải
thiện cơ cấu viên chức trong các đơn vị sự nghiệp. Các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các
đơn vị sự nghiệp đã thực hiện chế độ bổ nhiệm có thời hạn thay thế cho chế độ bổ nhiệm
suốt đời. Việc quản lý viên chức (bao gồm cả đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, thanh tra,
kiểm tra...) và cơ chế trả lương, đãi ngộ đã được đưa vào nề nếp. Qua đó đã góp phần vào
việc xây dựng, quản lý và phát triển đội ngu viên chức trong các đơn vị sự nghiệp.
Hạn chế, tồn tại: Từ năm 1998 đến nay, mặc dù nhà nước đã quy định các nội
dung quản lý viên chức với các chế định cụ thể và qua thời gian thực hiện đã có hai lần
sửa đổi (2000 và 2003) nhằm phục vụ cho việc quản lý đội ngu viên chức đáp ứng yêu
cầu của thời kỳ mới - chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường
XHCN có sự quản lý của nhà nước nhưng phương thức và cơ chế quản lý viên chức vẫn
còn một số vấn đề hạn chế và tồn tại như khái niệm về viên chức, cơ sở và căn cứ để
quản lý đội ngu viên chức sử dụng như đối với công chức (ví dụ như các vấn đề về cơ
chế quản lý, ngạch, tiêu chuẩn chức danh, nội dung và cách thức đánh giá, thực hiện việc
thăng tiến nghề nghiệp, phân cấp quản lý, nguyên tắc hoạt động nghề nghiệp, nguyên tắc
quản lý viên chức...) chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm lao động của viên chức. Một
số nội dung quản lý viên chức trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm vẫn chỉ đơn
thuần là sự dịch chuyển từ cơ chế quản lý cu sang cơ chế quản lý mới, không phù hợp với
điều kiện hiện nay. Một số nội dung đã lỗi thời, trở thành vật cản, ảnh hưởng nhiều đến
sự phát triển nghề nghiệp và phát triển đội ngu viên chức. Các quy định về quản lý viên
chức còn cơ chế “xin - cho” và giữ nguyên dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa tập trung
không có nhu cầu về vị trí việc làm đó thì phải chấm dứt hợp đồng làm việc.
- Quy định về thăng tiến nghề nghiệp của viên chức qua các kỳ thi nâng ngạch
được áp dụng giống như đối với công chức đã cho thấy là không phù hợp với đặc điểm
và tính chất hoạt động nghề nghiệp của viên chức, nhiều khi mang tính hình thức và
không đánh giá được hết thực chất năng lực của viên chức. Các điều kiện về thâm niên
giữ ngạch, hệ số lương hưởng... đang là những rào cản, hạn chế nguồn tuyển chọn viên
chức có năng lực để giao giữ các chức trách, nhiệm vụ cao hơn trong các lĩnh vực sự
nghiệp công tác.
3. Tổ chức bộ máy quản lý viên chức và hoạt động nghề nghiệp của viên chức
Trong thời gian qua, do điều kiện cán bộ, công chức và viên chức chưa được phân
định rõ ràng, nên tổ chức bộ máy quản lý viên chức và hoạt động nghề nghiệp của viên
chức về cơ bản đều giống như đối với cán bộ, công chức. Từ năm 2003 đến nay, với việc
sửa đổi Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, thực hiện đẩy mạnh phân cấp quản lý
viên chức, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp thì bộ máy
quản lý viên chức đã được cải thiện nhiều.
Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý viên chức và hoạt động
nghề nghiệp của viên chức gồm có các cơ quan, đơn vị sau:
- Quản lý Nhà nước về viên chức: Bộ Nội vụ.
10
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
- Quản lý cơ chế và chế độ tài chính cho hoạt động sự nghiệp: Bộ Tài chính.
- Quản lý chế độ tiền lương của viên chức: Bộ Nội vụ
- Quản lý chế độ sau hoạt động nghề nghiệp của viên chức: Bảo hiểm xã hội Việt
Nam.
- Các cơ quan quản lý ngành dọc về tổ chức, viên chức gồm: Sở Nội vụ các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, đơn vị chuyên ngành Nội vụ ở cấp huyện; Vụ Tổ chức
cán bộ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; bộ phận tổ chức cán bộ
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
Nhìn chung, bộ máy quản lý đội ngu viên chức của nước ta từ sau khi Pháp lệnh
cán bộ, công chức được ban hành (1998) đã có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền
công vụ và đội ngu cán bộ, công chức, viên chức. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
thể chế quản lý đội ngu viên chức, sự củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý viên chức đã
góp phần vào việc xây dựng đội ngu viên chức và hệ thống các đơn vị sự nghiệp hoàn
thành tốt mục tiêu cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân trong thời gian
vừa qua ở một mức độ nhất định, góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự ổn định và
bảo đảm công bằng, bình đẳng trong quá trình đất nước tập trung phát triển kinh tế - văn
hóa - xã hội. Tổ chức và hoạt động của đội ngu viên chức cung như hệ thống các đơn vị
sự nghiệp đã trở thành một hệ thống nền nếp, ổn định. Hệ thống dịch vụ sự nghiệp công
này từ Trung ương đến địa phương đã tạo nên được đội ngu viên chức đông đảo, từng
bước đáp ứng được yêu cầu của từng thời kỳ của đất nước, bảo đảm thực hiện được đúng
các quy định về quyền và nghĩa vụ của viên chức; tổ chức tốt các kỳ thi tuyển dụng, xét
tuyển dụng, kỳ thi nâng ngạch viên chức để bổ sung nhân lực, ổn định và cải thiện cơ cấu
ngạch viên chức trong đội ngu viên chức; thực hiện tốt cơ chế bổ nhiệm có thời hạn,
miễn nhiệm, từ chức trong đội ngu viên chức lãnh đạo, quản lý. Kịp thời thực hiện việc
khen thưởng và xử lý các vi phạm trong hoạt động nghề nghiệp; thực hiện chính sách tiền
lương và các chế độ đãi ngộ đối với viên chức... Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đã
đạt được, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý viên chức vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, ảnh
hưởng đến việc nâng cao hiệu quả của hoạt động nghề nghiệp viên chức như: việc tổ
chức thi tuyển viên chức còn chưa được phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp một cách triệt
để, vai trò hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý
nhà nước chưa được đề cao và chú trọng đúng mức; công tác nâng ngạch viên chức và
đào tạo, bồi dưỡng viên chức còn bị phân tán, nhiều đầu mối, chưa tập trung thống nhất
quản lý nên chất lượng tuyển dụng, nâng ngạch, đào tạo, chưa đạt được sự đồng đều giữa
các ngành, các bộ, các địa phương; giữa các đơn vị sự nghiệp của nhà nước với các đơn
quản lý, trong đó các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ là 1.286 đơn vị; các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND và các cơ
quan chuyên môn của UBND các địa phương là 50.955 đơn vị.
Nếu chia theo lĩnh vực hoạt động thì số lượng đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo
dục đào tạo chiếm đa số với 36.637 đơn vị, tiếp theo là các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh
vực y tế với số lượng 7.151 đơn vị. Đứng thứ ba là ngành văn hóa nghệ thuật, thể dục thể
thao với 1.885 đơn vị sự nghiệp trực thuộc...
Tại các đơn vị sự nghiệp thuộc cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, số đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo chiếm tỷ lệ đa số với 211/709
đơn vị, tiếp theo là các đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ, với 146/709 đơn vị (Xem
chi tiết tại bảng 1).
13
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
Bảng 1:
TỔNG HỢP BÁO CÁO SỐ LƯỢNG CÁC
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CẢ NƯỚC
Số lượng các đơn vị theo lĩnh vực hoạt động
STT
Khu vực
Tổng
số
đơn vị
quan ngang
Bộ, cơ quan
thuộc Chính
phủ)
1.286
3
Khối địa
phương
(UBND và các
cơ quan
50.955 36.390 7.077
chuyên môn
thuộc UBND
cấp tỉnh, cấp
huyện.
247
74
Văn Nghiên Nông Lao Lĩnh
hoá
cứu
nghiệp động vực*
nghệ
và
xã
379
54
409
1.828
238
1.236
530
3.650
Tại các địa phương, các đơn vị sự nghiệp công chiếm tỷ lệ cao nhất là các đơn vị
sự nghiệp thuộc UBND cấp huyện gồm 25.437 đơn vị trên tổng số 50.955 đơn vị sự
nghiệp thuộc UBND các cấp, tiếp theo là các đơn vị sự nghiệp thuộc các cơ quan chuyên
môn của UBND cấp huyện gồm 13.214 đơn vị. Đứng thứ ba là các đơn vị sự nghiệp
thuộc các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, TP thuộc TW. Tại địa phương, các đơn
vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục – đào tạo và y tế cung chiếm đa số (Xem chi tiết tại
bảng 2).
14
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
Bảng 2:
(10)
1
UBND tỉnh,
thành phố
thuộc TW
1.481
495
252
163
22
67
65
412
2
Các cơ quan
chuyên môn
thuộc UBND
tỉnh, TP thuộc
116
1.384
4
Các cơ quan
chuyên môn
thuộc UBND
cấp huyện
13.214 10.764 1.796
183
2
52
20
397
5
Chi cục
0
tế
30
Văn Nghiên Nông Lao
hoá
cứu
nghiệp động
nghệ
và
xã
KH
thuật,
PTNT hội
-CN
TDTT
50.955 36.390 7.077 1.828
Lĩnh
vực
khác
2. Về số lượng, cơ cấu đội ngũ viên chức
Theo báo cáo tổng kết của các Bộ ngành, địa phương, trong thời gian qua biên chế
viên chức liên tục tăng đáp ứng yêu cầu về nhân lực cho việc cung cấp hàng hóa dịch vụ
cơ bản cho nhân dân và cộng đồng. Đến năm 2009, đội ngu viên chức sự nghiệp công cả
15
Bảng 3. THỐNG KÊ VIÊN CHỨC THEO CƠ CẤU
Độ tuổi
Tổng số
I. Khối TW
Nữ giới
Dân tộc
ít người
Đảng viên
Dưới
30 tuổi
Từ 30
đến
50 tuổi
Trên
50 tuổi
111.994
55.716
1.700
31.362
21.441
38.627
14.958
Khoa học công nghệ
10.158
4.391
197
2.403
1.842
5.931
2.400
6.183
2.951
368
470.828
948.858
145.515
241.386
150.851
18.914
68.651
64.527
149.009
26.727
1.202.337
821.948
109.316
364.779
379.316
21.737
5.118
Khác
64.080
21.800
4.677
23.612
18.231
38.969
7.659
1.657.468
1.064.921
138.054
513.026
499.862
Dưới
30 tuổi
Từ 30
đến
50 tuổi
Trên
50 tuổi
245.028
153.128
18.999
69.902
65.172
151.415
27.329
1.277.436
862.413
110.147
3.648
13.958
9.707
25.301
5.972
Khác
80.992
27.432
4.896
30.018
21.569
49.560
10.749
Giáo dục, đào tạo
Về dân tộc: Số viên chức là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ thấp, chỉ có 8,3% với tổng số 138.054 viên chức. Số viên chức
ở ngạch chính
Viên chức
ở ngạch
cao cấp
11.421
11.357
72.711
15.698
644
974
1.476
984
209
0
Giáo dục, đào tạo
4.730
3.713
2.858
8.708
1.557
27
135.396
627.479
786.936
14.622
167
Y tế
39.237
137.600
54.282
4.940
1.104
12
12.761
23.285
30.932
1.676
32
Y tế
Văn hóa thông tin TDTT
Khác
II. Khối địa phương
Khoa học công nghệ
Văn hóa thông tin TDTT
Khác
19
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
Y tế
40.211
139.076
55.266
5.148
35
Giáo dục, đào tạo
82.230
456.407
739.694
18.578
414
Khoa học công nghệ
1.439
2.354
Kết quả điều tra cho thấy trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngu viên chức còn thấp (xem biểu 1), trong đó viên chức có
trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng chiếm tỷ lệ 60,8%; trình độ đại học chiếm 35,4%; trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ 3,25% (trong
đó thạc sy chiếm tỷ lệ 2,673%, còn lại là trình độ tiến sy và tiến sy khoa học).
Viên chức có trình độ đại học chủ yếu tập trung ở ngành giáo dục với 471.386 người. Trong ngành y tế, số viên chức có trình độ
đại học và sau đại học còn thấp với tổng số 59.482 người.
20
Biểu 1: Trình độ đào tạo của đội ngũ viên chức
Theo kết
quả
điều tra,
số
viên
chức
dưới
trình
độ
học
việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập qua đó góp phần nâng cao chất lượng các dịch vụ
cung cấp cho người dân.
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
Bảng 5.
THỐNG KÊ VIÊN CHỨC THEO TRÌNH ĐỘ
ĐÀO TẠO GẮN VỚI CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ
Chuyên môn
Còn lại
I. Khối TW
Đại học
Thạc sy
Tiến sy
KH
Tiến sy
21.587
56.253
25.293
2.433
4.781
1.632
1.394
29
Văn hóa thông tin
TDTT
2.171
3.459
477
62
45
Khác
5.643
9.387
1.164
433.640
11.376
285
9
1.076
1.749
110
14
0
Văn hóa thông tin
TDTT
17.901
14.018
258
33
6.798
237
23
Giáo dục, đào tạo
771.980
471.386
33.146
7.424
128
3.509
6.530
1.742
1.407
29
Văn hóa thông tin
TDTT
22
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
5. Về trình độ lý luận chính trị
Về bồi dưỡng chính trị, tỷ lệ viên chức được bồi dưỡng chính trị còn thấp, tỷ lệ
viên chức được bồi dưỡng chính trị sơ cấp là 15,77%, tỷ lệ viên chức đạt trình độ lý luận
chính trị trung cấp chiếm 6,49%, đặc biệt tỷ lệ viên chức cao cấp chính trị chỉ đạt 1,13%.
Theo thống kê (bảng 6), viên chức đạt trình độ lý luận chính trị sơ cấp là 261.465
người; số viên chức có trình độ lý luận cao cấp còn thấp hơn, chỉ có 18.702 người trên
tổng số 1.657.468 viên chức.
Bảng 6. THỐNG KÊ TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
CỦA ĐỘI NGU VIÊN CHỨC
Lý luận
Sơ cấp
I. Khối TW
Trung cấp
Cao cấp
32.436
32.724
5.837
2.658
785
229.029
74.928
12.866
17.487
11.595
2.589
198.552
50.945
6.215
668
279
117
Văn hóa thông tin TDTT
II. Khối địa phương
Y tế
Giáo dục, đào tạo
Khoa học công nghệ
III. Tổng hợp
Y tế
23
Ban soạn thảo dự án Luật Viên chức Bộ Nội vụ
Lý luận
Sơ cấp
Giáo dục, đào tạo
Trung cấp
Cao cấp
225.723
78.378
10.412
Khoa học công nghệ
Bảng 7: THỐNG KÊ TRÌNH ĐỘ NGOẠI NGỮ, TIN HỌC
CỦA ĐỘI NGU VIÊN CHỨC
Trình độ ngoại ngữ
Tỷ lệ
Trình độ A
8%
Trình độ B
6,2%
Trình độ C
3,1%
Cao đẳng, đại học
3,21%
Trình độ tin học
Tỷ lệ
Trình độ A
14,7%
sĩ ưu tú…).
Bảng 8. THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG VIÊN CHỨC ĐƯỢC NHÀ NƯỚC
CÔNG NHẬN CHỨC DANH GIÁO SƯ, PHÓ GIÁO SƯ,
ĐƯỢC TRAO TẶNG DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC
Danh hiệu Nhà nước
Giáo sư
I. Khối TW
Nhà giáo ND, Viên chức ưu
thầy thuốc ND
tú,
Phó giáo sư
497
2.370
101
1.497
0
0
0
59
Khác
9
0
2
24
27
15
159
2.544
Y tế
2
6
116
1.175