i
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nội dung
BTC
Bộ Tài chính
CP
Chính phủ
CQHC
Cơ quan hành chính
ĐVSN
Đơn vị sự nghiệp
iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Phân loại tài sản công theo công dụng của tài sản. Error: Reference
source not found
Sơ đồ 1.2: Phân loại tài sản theo cấp quản lý....Error: Reference source not
found
Sơ đồ 1.3: Phân loại tài sản công theo đối tượng sử dụng tài sản......Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh. Error: Reference source not
found
Biểu đồ 3.2: Tình hình thanh lý phương tiện đi lại giai đoạn 2008-2011 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế và tồn tại của cơ chế
quản lý TSC................................................. Error: Reference source not found
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài sản công bao gồm tài sản hiện vật, quyền sử dụng đất, vốn ngân
sách nhà nước cấp mua sắm tài sản để phục vụ quá trình hoạt động của cơ
quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước hoạt động. Tài sản
công là nguồn lực đặc biệt quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt động của
các đơn vị này. Thực tế thời gian qua, quản lý tài sản công luôn là vấn đề thời
sự được Chính phủ và nhân dân đặc biệt quan tâm. Song công tác quản lý tài
sản công hiện nay còn nhiều bất cập, hạn chế, không thực sự hiệu quả, thiếu
một cơ sở khoa học cả về lý thuyết và thực tế trong quản lý, sử dụng lượng tài
sản lớn, đặc biệt quan trọng này. Đó là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến
tình trạng sử dụng tài sản công không đúng mục đích, gây lãng phí, thất thoát
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc sử dụng, quản lý tài sản
công tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công
lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp (gọi chung là cơ quan, tổ
chức, đơn vị) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý
trụ sở làm việc và phương tiện đi lại tại của một số cơ quan nhà nước, đơn vị
sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính
trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp (gọi
chung là cơ quan, tổ chức, đơn vị) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
3
- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu một số cơ quan
hành chính và đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi về mặt thời gian: đề tài nghiên cứu số liệu trong giai đoạn
2008-2011.
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Đề tài đã hệ thống hóa được các cơ sở lý luận liên quan đến công tác
quản lý tài sản công, kinh nghiệm quản lý tài sản công tại các nước. Tác giả
đã phân tích thực trạng sử dụng, quản lý tài sản công mà trọng tâm là tài sản
công là trụ sở làm việc và phương tiện đi lại ở các cơ quan hành chính và đơn
vị sự nghiệp. Từ đó, tác giả phân tích những thành tựu đã đạt được, đồng thời
chỉ ra các nguyên nhân, tồn tại cần giải quyết trong thời gian tới.
Đây là đề tài có nội dung tương đối mới về công tác quản lý tài sản
công. Do vậy đề tài luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho các nhà quản lý, nhà
khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực quản lý tài sản công trong các cơ quan
dụng được cũng phải đầu tư chi phí bằng tiền của ngân sách nhà nước cho
các công việc khảo sát, thăm dò, đo đạc, san lấp mặt bằng, tiền trưng mua
đất (tiền bồi thường đất)...
Bên cạnh đó là những tài sản được hình thành từ nguồn viện trợ
không hoàn lại, tài sản do dân đóng góp xây dựng và tài sản được xác lập
quyền sở hữu Nhà nước. Đối với tài sản này, ngân sách nhà nước không
trực tiếp đầu tư xây dựng và mua sắm mà chỉ giao tài sản cho các cơ quan
sử dụng. Nhưng các tài sản này trước khi giao cho các cơ quan hành chính
sử dụng, đều phải xác lập quyền sở hữu Nhà nước. Khi các tài sản này được
xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì giá trị của các tài sản đều được ghi thu
cho ngân sách nhà nước. Như vậy, suy cho cùng các tài sản được xác lập
quyền sở hữu Nhà nước, tài sản viện trợ không hoàn lại, tài sản do dân đóng
góp giao cho các cơ quan hành chính sử dụng vẫn có nguồn gốc hình thành
7
từ ngân sách nhà nước.
Từ sự phân tích trên cho thấy dù là tài sản nhân tạo hay tài sản
thiên tạo và được hình thành từ kết quả đầu tư trực tiếp, xây dựng mua
sắm tài sản hay các nguồn tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì
tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nước đều được đầu tư, mua sắm
bằng tiền của ngân sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước.
Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng tài sản công phải phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tài sản công là cơ
sở vật chất để phục vụ hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức. Do vậy,
sự hình thành và sử dụng tài sản công tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ
của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị hành chính tài sản công là
điều kiện vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính
thực hiện chức năng, nhiệm vụ đã được giao của mình. Tài sản công của
Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản công có sự tách rời, nghĩa là
quyền sở hữu tài sản thuộc về Nhà nước, còn quyền sử dụng được thực
hiện bởi từng cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức.
Về chế độ quản lý: Nhà nước là chủ thể quản lý tài sản công, ở tầm vĩ
mô tài sản công được quản lý thống nhất theo pháp luật của nhà nước, ở
tầm vi mô tài sản công được Nhà nước giao cho các cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp và các tổ chức quản lý, sử dụng theo quy định, chế độ của
Nhà nước.
Tài sản công rất đa dạng và phong phú, được phân bố rộng trên phạm
vi cả nước; mỗi loại tài sản có tính năng, công dụng khác nhau và được
sử dụng vào các mục đích khác nhau, được đánh giá hiệu quả theo những
tiêu thức khác nhau; tài sản công nhiều về số lượng, lớn về giá trị và mỗi
loại tài sản lại có giá trị sử dụng khác nhau, thời hạn sử dụng khác
nhau… Tài sản công có loại không có khả năng tái tạo được phải bảo tồn để
phát triển; do đó việc quản lý đối với mỗi loại tài sản cũng có những
đặc điểm khác nhau.
9
1.1.3. Phân loại tài sản công
Để nhận biết và có các biện pháp quản lý có hiệu quả, tài sản công
được phân loại theo các tiêu thức như sau:
1.1.3.1. Phân loại theo công dụng của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công được chia thành 03 nhóm chính:
trụ sở làm việc, phương tiện đi lại và máy móc, thiết bị và các tài sản khác (sơ
đồ 1.1).
Tài sản công
Trụ sở làm việc
- Máy móc, thiết bị là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị trang bị cho
cán bộ, công chức để làm việc và phục vụ hoạt động của cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp như: máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, thiết bị truyền
dẫn, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ...
- Thiết bị, dụng cụ quản lý là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công
tác quản lý hoạt động của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp như: máy
vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy
hút bụi...
- Các loại tài sản khác như: tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật, vườn cây
lâu năm, súc vật nuôi để thí nghiệm hoặc nhân giống (vườn cà phê, vườn
chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả và đàn gia súc các loại)...
1.1.3.2. Phân loại theo cấp quản lý
Căn cứ vào cấp quản lý, tài sản công được chia thành 04 nhóm: Tài sản
công do Chính phủ quản lý, Tài sản công do UBND cấp tỉnh quản lý, Tài sản
công do UBND cấp huyện quản lý và tài sản công do UNBD cấp xã quản lý
(sơ đồ 1.2).
11
Tài sản công
TSC do CP
quản lý
TSC do
UBND cấp
tỉnh quản lý
TSC do UBND
TSC dùng cho
hoạt động của
các CQHC
TSC dùng cho
hoạt động của
các ĐVSN
TSC dùng cho
hoạt động của
các tổ chức
TSC chưa
được giao sử
dụng
Sơ đồ 1.3: Phân loại tài sản công theo đối tượng sử dụng tài sản
Một là, tài sản công dùng cho hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước gồm: tài sản làm việc, nhà công vụ; phương tiện đi lại; máy
móc, thiết bị và các tài sản khác trực tiếp phục vụ hoạt động của cơ quan
hành chính nhà nước. Là cơ quan công quyền nên các cơ quan hành chính
nhà nước được NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động (gồm cả kinh
phí mua sắm, sửa chữa tài sản). Về nguyên tắc, các cơ quan cơ quan hành
chính được bình đẳng sử dụng tài sản phù hợp với chức năng nhiệm vụ
được giao. Việc quản lý tài sản phải tuân thủ theo chế độ, chính sách quản
lý chung của Nhà nước như: tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản, chế độ
báo cáo, mua sắm, bán thanh lý tài sản... đồng thời phải chịu sự kiểm tra,
giám sát của Nhà nước trong suốt quá trình sử dụng. Nhà nước quản lý toàn
diện đối với tài sản do cơ quan hành chính nhà nước sử dụng, ở tất cả các
thành nên giá thành sản phẩm dịch vụ đó.
14
Ba là, TSC dùng cho hoạt động của tổ chức chính trị, các tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phục vụ cho hoạt
động của tổ chức, bao gồm: tài sản làm việc, phương tiện đi lại, máy móc,
thiết bị và những tài sản khác. Những tài sản này có thể là toàn bộ hoặc chỉ là
một phần trong tổng số tài sản mà tổ chức đang quản lý, sử dụng.
Bốn là, TSC mà Nhà nước chưa giao cho cơ quan, đơn vị, tổ chức
nào sử dụng, gồm: tài sản dự trữ nhà nước, tài sản mà nhà nước thu hồi từ
các cơ quan, đơn vị do vi phạm chế độ quản lý do nhà nước quy định. Pháp
luật hiện hành giao cho cơ quan tài chính nhà nước các cấp tạm thời quản lý.
1.1.3.4. Phân loại theo đặc điểm, tính chất, hoạt động của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công bao gồm có tài sản hữu hình và
tài sản vô hình:
- Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biết được
hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được.
- Tài sản vô hình là những tài sản thể hiện ra bằng những lợi ích kinh
tế. Chúng không có cấu tạo vật chất mà tạo ra những quyền và những ưu
thế đối với người sở hữu và thường sinh ra thu nhập cho người sở hữu chúng.
Tài sản vô hình bao gồm: giá trị quyền sử dụng đất, bằng phát minh sáng
chế, bản quyền tác giả, kiểu dáng công nghiệp, phần mềm máy tính…
1.1.3.5. Phân loại theo đặc điểm hao mòn của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công bao gồm:
- Tài sản hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng bị hao mòn qua thời gian
như: máy móc thiết bị, phương tiện đi lại…
- Tài sản không bị hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng mà cơ bản vẫn
giữ được hình dạng ban đầu như: đất đai, cây lâu năm...
1.1.4. Vai trò của tài sản công
sản liên tục phát huy tác dụng góp phần làm nên thành quả hoạt động của nhà
nước. TSLV chính là nơi hiện diện của chính quyền nhà nước, nơi làm việc
hàng ngày của các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước - nơi diễn ra các giao dịch
của nhà nước với dân chúng, nơi quyền lực của nhà nước được thực thi... Nếu
không có TSLV thì nhà nước không thể triển khai thực hiện được các hoạt
16
động của mình, theo đó quyền lực nhà nước cũng không thể thực hiện được.
Mặt khác, TSC là nhân tố quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện các
hoạt động sự nghiệp nhằm giúp các đơn vị sự nghiệp cung cấp các sản phẩm
dịch vụ công với chất lượng cao cho con người. Nó là điều kiện vật chất để
đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học; để thực hiện nghiên cứu
khoa học và áp dụng các thành tựu khoa học vào sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội. Nước ta là nước nông nghiệp tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước với yêu cầu phải rút ngắn thời gian, phải có bước nhảy vọt về công
nghệ. Từ đó, tại Hội nghị Trung ương 2 Khoá VIII Đảng ta đã khẳng định,
chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là khâu đột phá
để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để phát triển các hoạt
động này có nhiều yếu tố, trong đó TSC là điều kiện vật chất quan trọng để
đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học, công nghệ và các sản
phẩm khoa học công nghệ phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong quá trình hoạt động, nhiệm vụ không ngừng củng cố, xây
dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật được xem là nhiệm vụ sống còn,
có tính quy luật đối với mọi nhà nước. Tiêu chí về mức độ hiện đại, tiện ích,
quy mô về TSC được coi là nhân tố đánh giá như sức mạnh, hiệu quả hoạt
động của một nhà nước. Có thể nói rằng, Nhà nước khó có thể hoàn thành
nhiệm vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh ... của đất
nước khi chỉ có trong tay một nguồn lực công là cơ sở vật chất nghèo nàn,
lạc hậu. Với ý nghĩa đó, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước thì
chỉ có thể diễn ra được bình thường khi có sự quản lý thường xuyên, liên tục
của nhà nước.
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay thì tác động của hoạt động
quản lý nhà nước đối với quá trình sản xuất xã hội của một quốc gia càng lớn
18
hơn bao giờ hết. Thực tiễn cho thấy, khi hoạt động quản lý nhà nước kém
hiệu quả, đặc biệt ở những nước xảy ra mất ổn định về chính trị thì ngay lập
tức nền kinh tế rơi vào suy thoái, thậm chí khủng hoảng. Với ý nghĩa đó, có
thể khẳng định: tài sản công là yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất xã
hội.
1.2. Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp
1.2.1. Phân biệt cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp
Đơn vị sự nghiệp công là một phần của khu vực công, là cơ quan được
Nhà nước thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp như giáo dục, y tế,
văn hoá thể thao, truyền hình, nghiên cứu...có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân vì các đơn vị này cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực chất lượng
cao, các công trình nghiên cứu khoa học cơ bản phục vụ kinh tế xã hội phát
triển, đồng thời các đơn vị này còn cung cấp cho xã hội các dịch vụ công
trong lĩnh vực y tế, văn hoá, thể thao, truyền hình...
Sự khác nhau cơ bản giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp nhà
nước được thể hiện cụ thể như sau:
- Về chức năng nhiệm vụ: Cơ quan hành chính thực hiện chức năng
quản lý nhà nước, còn đơn vị sự nghiệp công thực hiện chức năng cung cấp các
dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, văn hoá, thể thao, phát thanh truyền hình...
Trong khi các cơ quan hành chính được phân cấp, phân quyền phân định rõ lĩnh
vực quản lý riêng không trùng lặp, chồng chéo, thì nhiều đơn vị sự nghiệp công có
thể cùng thực hiện một nhiệm vụ tại một địa phương, một cấp.
Phạm vi quản lý của cơ quan hành chính căn cứ vào phân cấp phân
hao. Đối với TSNN của đơn vị sự nghiệp công trong quá trình sử dụng một
phần giá trị của tài sản là yếu tố chi phí tiêu dùng công nếu là đơn vị sự nghiệp
không có thu. Ngược lại nếu là đơn vị sự nghiệp có thu thì giá trị tài sản công
là những yếu tố đầu vào của sản xuất để tạo ra các sản phẩm dịch vụ công và
phần giá trị hao mòn của tà sản cố định trong quá trình sử dụng là yếu tố cấu
thành lên giá sản phẩm dịch vụ công của các đơn vị này.
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp
20
Tiêu chí
Cơ quan hành chính
Cơ quan hành chính có chức năng
Về chức chính là quản lý nhà nước:
năng
+ Quốc hội: Hoạt động quản lý nhà
nước nhằm hoàn thành chức năng lập
pháp.
+ Toà án: Hoạt động quản lý nhằm
hoàn thành chức năng xét xử.
+ Viện kiểm sát: Hoạt động quản lý
nhằm hoàn thành chức năng kiểm
sát.
+ Chính phủ: là trung tâm thực hiện
chức năng quản lý hành chính nhà
nước đối với các hoạt động trừ các
hoạt động của cơ quan nêu trên.
+ Do pháp luật quy định
+ Có thể chồng chéo, trùng lặp
trong hoạt động và phạm vi địa
lý
+ Cơ quan cấp trung ương: Thẩm
+ Không nhất thiết phải phân
quyền quản lý nhà nước trên cả nước. cấp và phân định hoạt động.
+ Cơ quan hành chính địa phương:
+ Phạm vi hoạt động không bị
Chịu sự kiểm soát của TW, phạm vi
giới hạn.
địa phương.
+ Hoạt động trong giới hạn cho
+ Chấp hành và phục tùng theo Luật phép của pháp luật về ngành
tổ chức chính phủ và Hiến pháp
nghề, lĩnh vực và quy định của
+ Kinh phí hoạt động 100% từ
cấp trên quản lý.
NSNN
+ Kinh phí hoạt động tuỳ thuộc
loại hình: Đơn vị có thu, không
có thu.
+ là tài sản trong tiêu dùng của cải + Một phần tài sản là yếu chi phí
vật chất
tiêu dùng công đối với đơn vị sự
+ Không tham gia trực tiếp vào sản
nghiệp không có thu.
xuất, không chuyển giao giá trị hao
+ Là yếu tố đầu vào của sản xuất
mòn mặc dù có theo dõi khấu hao.
tạo ra sản phẩm, dịch vụ công,
quy định của pháp luật; tiếp nhận tài sản từ cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân
khác hoặc thu hồi từ các dự án đã kết thúc.
b) Quản lý quá trình khai thác, sử dụng TSC
Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy hết vai trò của
TSC. Quản lý khâu này là thực hiện quản lý TSC theo mục đích, chế độ, tiêu
chuẩn, định mức; quản lý quá trình thu hồi, điều chuyển, bán tài sản từ đơn vị