ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ VĂN VÂN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC
CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ VĂN VÂN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC
CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN LỊCH SỬ
Mã số: 60 14 01 11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ BÍCH
Dạy học lịch sử
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
PPDH
Phương pháp dạy học
SGK
Sách giáo khoa
THPT
Trung học phổ thông
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................ ii
DANH MỤC BẢNG ....................................................................................... vi
QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC CHỦ ĐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11 Ở TRƢỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG ...................................................................................... 35
2.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 ở
trƣờng THPT ................................................................................................. 35
2.1.1. Vị trí, mục tiêu phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 ở trường THPT........ 35
2.1.2. Nội dung kiến thức phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 THPT –
Chương trình chuẩn ...................................................................................... 36
2.2. Xây dựng các chủ đề trong phần Lịch sử Việt Nam lớp 11 ở
trƣờng THPT ................................................................................................. 38
2.2.1. Cơ sở xây dựng các chủ đề trong phần Lịch sử Việt Nam lớp 11
ở trường THPT ............................................................................................... 38
2.2.2. Xây dựng các chủ đề phần lịch sử Việt Nam lớp 11 THPT ............... 39
2.3. Các biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
cho HS trong dạy học các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 ở trƣờng
THPT .............................................................................................................. 50
2.3.1. Một số yêu cầu khi lựa chọn các biện pháp phát triển năng lực
giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trong dạy học các chủ đề Lịch sử
Việt Nam lớp 11 ở trường THPT ................................................................... 50
iv
2.3.2. Một số biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo của HS trong dạy học các chủ đề lịch sử Việt Nam lớp 11 .................... 51
2.4. Thực nghiệm sƣ phạm ........................................................................... 69
2.4.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm .......................................................... 69
2.4.2. Đối tượng và thời gian thực nghiệm ................................................... 70
2.4.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm ............................................. 70
2.4.4. Kết quả thực nghiệm ............................................................................ 72
1. Để giải bài toán về chất lượng giáo dục và đào tạo của nước nhà đáp
ứng nhu cầu của xã hội, cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo
dục. Kế thừa Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, trong
văn kiện đại hội XII, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; xác định đây là quốc sách hàng
đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát
triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI; khẳng định triết lý nhân
sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”. Một
trong những yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay
là phải chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Vì vậy, việc xác định
những phẩm chất và năng lực cần hình thành cho học sinh là rất quan trọng.
Để thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông sau năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã ban hành Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (trong
chương trình giáo dục phổ thông mới) rất khoa học, toàn diện, cụ thể và chi
tiết. Trong đó, có đề cập đến 8 năng lực cần hình thành cho HS, bao gồm:
năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mĩ,
năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tính toán,
năng lực công nghệ thông tin và truyền thông.
2. Thời đại mới đòi hỏi người học phải hết sức năng động, sáng tạo, với
những kiến thức đa dạng, những kĩ năng, phẩm chất và năng lực cần thiết để
sống, tồn tại, thích ứng và phát triển. Một trong những năng lực không thể
thiếu được là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Bởi lẽ, cuộc sống luôn
đặt ra muôn vàn vấn đề đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Nếu vấn đề được giải
quyết tốt, đầy sáng tạo thì sự thành công sẽ nối tiếp thành công. Ngược lại,
chúng ta sẽ phải loay hoay trong vòng xoáy “thử và sửa sai”, dần dần mất tự
tin, tốn thời gian và sẽ dẫn đến thất bại. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng
1
ông quan niệm “dạy học nêu vấn đề là tập hợp những hoạt động như tổ chức
các tình huống có vấn đề, phát biểu vấn đề, giúp đỡ cần thiết cho HS trong
việc giải quyết vấn đề, kiểm tra phép giải đó và cuối cùng điều khiển quá
trình hệ thống hóa, củng cố kiến thức thu được” (tr.68). Tác giả phân định
vấn đề được nảy sinh ra từ tình huống có vấn đề. Theo đó vấn đề luôn gắn với
hai yếu tố cái đã biết và cái chưa biết trong đó cái đã biết là điều kiện để đi
đến cái cần biết.
Cuốn “Dạy học nêu vấn đề” của I.Ia.Lecne (Nxb Giáo dục-1977) nói
về nguồn gốc của dạy học nêu vấn đề, các chức năng và tiêu chuẩn đánh giá
trong dạy học nêu vấn đề, các dạng dạy học nêu vấn đề. Trên cơ sở phân biệt
các kiểu dạy học xuất hiện từ lâu nay, Lecne chú ý tới vấn đề phát triển tư duy
sáng tạo cho HS, xem đó là yêu cầu quan trọng của nhà trường trong giai
đoạn mới. Vì thế, ông đi sâu nghiên cứu cơ sở lí luận, ông cho rằng “Dạy học
nêu vấn đề có nội dung là: trong quá trình HS giải quyết một cách sáng tạo
các vấn đề và bài toán có vấn đề trong một hệ thống nhất định thì diễn ra sự
lĩnh hội sáng tạo các tri thức và kĩ năng, sự nắm kinh nghiệm hoạt động sáng
tạo mà xã hội tích lũy được, sự hình thành nhân cách có tính tích cực công
dân, có trình độ phát triển cao và có ý thức tự giác của xã hội XHCN” [16,
tr.81].
Từ năm 1973, nhà sư phạm N.G.Đai-ri đã tiến hành phân tích và chỉ rõ
những yêu cầu quan trọng nhất của giờ học và việc chuẩn bị giờ học lịch sử
trong chuyên khảo “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?”. Tác giả nhấn
mạnh đến việc thiết lập hệ thống kiến thức trong các bài học vì “Nội dung của
hầu như giờ học nào cũng đều gắn bó chặt chẽ với những giờ học trước và
giờ học sau” [11, tr. 98]. Việc xây dựng thành các chủ đề trong môn Lịch sử
sẽ giúp HS thấy rõ hệ thống kiến thức vì các sự kiện có mối quan hệ gắn bó
với nhau. Đồng thời, ông đã trình bày các nguyên tắc cơ bản của giờ học lịch
sử ở trường phổ thông. Với ông trong giờ học cần chú ý đến nêu vấn đề,
(sửa đổi, bố sung năm 2009), khẳng định mục tiêu của giáo dục THPT là:
Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có
4
những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát
huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển. Như vậy việc phát huy
được năng lực cá nhân ở mỗi người học là vô cùng quan trọng đối với giáo
dục phổ thông hiện nay.
Giáo trình “Phương pháp dạy học Lịch sử”, tập I,II do Phan Ngọc Liên
chủ biên, nhà xuất bản Đại học sư phạm (tái bản năm 2010) có đề cập đến dạy
học tích hợp. Việc dạy học tích hợp liên môn đòi hỏi GV lịch sử không chỉ có
kiến thức vững chắc về bộ môn mà phải nắm vững nội dung, chương trình các
môn học được giảng dạy ở trường phổ thông, trước hết là Văn học, Địa lí,
Giáo dục công dân. Tuy không đề cập nhiều theo hướng tích hợp chủ đề
nhưng tài liệu đã tập trung phân tích rõ ý nghĩa của dạy học tích hợp trong xu
thế phát triển chung của giáo dục hiện nay đặc biệt là nhấn mạnh sự tích hợp
liên môn giữa các môn học. Đồng thời, cuốn sách cũng đã đề cập đến phát
triển năng lực nhận thức và thực thành cho HS trong học tập lịch sử,trong đó
cuốn sách đề cập đến năng lực tư duy, năng lực thực hành trong học tập lịch
sử.
Trong giáo trình “Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường THPT”
(2014), tác giả Vũ Quang Hiển và Hoàng Thanh Tú đã trình bày khái niệm
chung về dạy học tích hợp và nhấn mạnh vận dụng tích hợp trong môn Lịch
sử, nhiệm vụ của GV và HS cũng như những ưu điểm của dạy học tích hợp.
Theo đó, môn Lịch sử có thể được tích hợp lại thành các chủ đề, chuyên đề vì
giữa các chương, các bài, các phần có mối quan hệ chặt chẽ giúp cho HS hình
thành kiến thức một cách có hệ thống. Có thể tích hợp liên môn giữa môn học
Lịch sử với các môn học khác làm cho kiến thức các môn học bổ sung cho
Năm 2003, trong cuốn: “Hướng dẫn học và ôn tập lịch sử Trung học
phổ thông” tập 1, tập 2 (2003) tác giả Phan Ngọc Liên chủ biên, chỉ ra việc
ôn tập tổng kết trong môn Lịch sử ở trường phổ thông phải chú ý đến mối
quan hệ giữa lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới. Do đó, chúng ta có thể vận
dụng dạy học theo chủ đề trong các bài ôn tập để củng cố kiến thức cho HS
đồng thời chú ý đến việc xây dựng các chủ đề tích hợp kiến thức lịch sử thế
giới và lịch sử Việt Nam.
6
Trong cuốn “Phương pháp ôn tập Lịch sử ở trường phổ thông – Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn” (2012), tác giả Hoàng Thanh Tú đã chỉ ra việc
căn cứ vào trình độ HS, loại bài ôn tập trong chương trình, mục tiêu cần đạt
để lựa chọn, cấu trúc nội dung ôn tập phù hợp với hình thức tổ chức và
phương pháp tiến hành. “Các nội dung ôn tập có thể cấu trúc theo hai kiểu
điển hình là cấu trúc theo chủ đề khái quát và so sánh các sự kiện trong mối
quan hệ đồng đại/lịch đại và cấu trúc theo chủ đề tương ứng với các nội dung
về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, khởi nghĩa, kháng chiến, chiến
tranh”[27, tr. 215-216]. Dạy và học Lịch sử theo các chủ đề, chuyên đề không
chỉ tạo tư duy logic cho HS, tăng khả năng hiểu bài…mà còn giúp quá trình
ôn tập hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó, HS được ôn tập, củng cố, tổng hợp các
kiến thức ở mức độ cao và biết vận dụng sáng tạo trong học tập.
Tháng 10 năm 2013, hội thảo quốc tế “Đổi mới và hiện đại hóa chương
trình và sách giáo khoa theo định hướng phát triển bền vững” được tổ chức
tại Hà Nội nhằm tăng cường hợp tác, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm phục
vụ cho chương trình đổi mới sau năm 2015, nhà nghiên cứu Nghiêm Đình Vỳ
đã đề xuất “Đổi mới việc biên soạn SGK Lịch sử ở trường phổ thông trong
quá trình hội nhập quốc tế”. Trong đó trình bày dự kiến SGK ở trường THPT
nên viết dưới dạng chủ đề. Chủ đề cũng chính là sự tích hợp kiến thức môn
học gồm những nội dung có tính tổng quát, có thể riêng biệt cũng có thể liên
Trong cuốn “Kỷ yếu hội thảo dạy học tích hợp và dạy học phân hóa ở
trường trung học đáp ứng nhu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa
sau năm 2015” cũng có rất nhiều bài viết đề cập đến các mô hình dạy học
tích hợp và việc áp dụng tích hợp vào mô hình giáo dục của Việt Nam. Một
số bài viết “Tích hợp dạy học bộ môn ở trường trung học phổ thông” của tác
giả Võ Văn Duyên Em, “Dạy học tích hợp trong chương trình THPT” của tác
giả Nguyễn Thị Kim Dung,.. đã đề cập đến các hình thức dạy học tích hợp.
Bên cạnh đó, nhóm tác giả Ngô Minh Oanh, Trương Công Thanh cũng đã có
bài viết về “Thực trạng dạy học tích hợp, phân hóa hiện nay và đề xuất phát
triển chương trình, sách giáo khoa cho giáo dục phổ thông Việt Nam năm
2015”.
8
Gần đây, trong xu thế đổi mới DHLS, một số đề tài khóa luận, luận văn
cũng viết về dạy học theo chủ đề trong dạy học môn lịch sử ở nhà trường phổ
thông. Chẳng hạn như: luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thùy Chi (2010):
“Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay” đề cập đến việc vận dụng dạy học
tích hợp các chuyên ngành Lịch sử theo một chủ đề; luận văn tốt nghiệp
“Phương pháp dạy học theo chủ đề trong chương trình Lịch sử lớp 11” (Vận
dụng ở trường THPT Lương Tài, Bắc Ninh) (2013) của tác giả Trương Thị
Hòa, và luận văn của tác giả Nguyễn Thị Hằng “Xây dựng bài dạy theo chủ
đề trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 với sự hỗ trợ của Prezi” cũng đã đề
cập đến một số cách thức để xây dựng các chủ đề trong DHLS ở trường
THPT. Hay như khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Nhung: “Xây
dựng và tổ chức dạy học theo chủ đề trong chương trình Lịch sử Việt Nam lớp
10 ở trường THPT”, tác giả cũng đề ra các biện pháp xây dựng và tổ chức
dạy học theo chủ đề trong chương trình lớp 10 ở trường THPT. Và gần đây là
khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Lệ: “Thiết kế và dạy học chủ đề tích
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực giải
quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trong dạy học chủ đề, đề tài đề xuất các biện
pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trong dạy học
các chủ đề lịch sử Việt Nam lớp 11 ở trường THPT nhằm góp phần nâng cao
chất lượng dạy học bộ môn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lí luận về việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo cho HS trong dạy học chủ đề lịch sử Việt Nam ở trường THPT.
- Đánh giá thực trạng việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo cho HS trong dạy học chủ đề lịch sử Việt Nam ở trường THPT.
- Tìm hiểu chương trình, SGK lịch sử lớp 11 trường THPT để xây dựng
các chủ đề nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS.
10
- Đề xuất các biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo cho HS trong dạy học chủ lịch sử Việt Nam lớp 11 ở trường THPT.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm khối 11 trường THPT Mỹ Đức C,
huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo dục.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu tâm lí, giáo
dục học, giáo dục lịch sử, sách báo, tạp chí, internet… về vấn đề nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực tiễn: quan sát, dự giờ, trao đổi với GV, HS, điều tra
sáng tạo cho HS trong dạy học chủ lịch sử Việt Nam lớp 11 ở trường THPT.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
gồm 2 chương:
Chương 1. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học
sinh trong dạy học các chủ đề lịch sử Việt Nam ở trường THPT - Lí luận và
thực tiễn
Chương 2. Các biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo cho học sinh trong dạy học chủ đề lịch sử Việt Nam lớp 11 ở trường THPT
12
Chƣơng 1. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ
LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
– LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở xuất phát của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo cho HS trong dạy học chủ đề lịch sử ở trường THPT
* Mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo
Chúng tôi căn cứ vào các văn bản sau để nghiên cứu vấn đề phát triển
năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trong dạy học các chủ đề lịch
sử ở trường THPT:
Điều 27, Luật Giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 (có hiệu lực từ ngày
01 tháng 01 năm 2006 – sửa đổi và bổ sung năm 2009) quy định rõ: “Mục
tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
nghề nghiệp cho mỗi học sinh; tăng cường năng lực ngoại ngữ, tin học và các
kĩ năng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng,
phát huy thành quả khoa học công nghệ thế giới, nhất là công nghệ giáo dục
và công nghệ thông tin.”
Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (trong chương trình
giáo dục phổ thông mới) đã xác định rõ 8 năng lực cần hình thành cho HS:
(1) Năng lực tự học với các năng lực cụ thể như: Xác định mục tiêu học
tập, lập kế hoạch và thực hiện cách học, đánh giá và điều chỉnh việc học.
(2) Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo với các nội dung: Phát hiện
làm rõ vấn đề, đề xuất lựa chọn giải pháp, thực hiện và đánh giá giải quyết
vấn đề, nhận ra ý tưởng mới, hình thành và triển khai ý tưởng mới.
(3) Năng lực thẩm mĩ với các nội dung: Nhận ra cái đẹp, diễn tả cái
đẹp, tạo ra cái đẹp.
14
(4) Năng lực thể chất với các nội dung: Sống thích ứng và hài hòa với
môi trường, rèn luyện sức khỏe thể lực, nâng cao sức khỏe tinh thần.
(5) Năng lực giao tiếp với các nội dung: Sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt,
sử dụng ngoại ngữ, xác định mục đích giao tiếp, thể hiện thái độ giao tiếp, lựa
chọn nội dung và phương thức giao tiếp.
(6) Năng lực hợp tác với các nội dung: Xác định mục đích và phương
thức hợp tác, Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân, xác định nhu
cầu và khả năng của người hợp tác, tổ chức và thuyết phục người khác, đánh
giá hoạt động hợp tác.
(7) Năng lực tính toán với các nội dung: Sử dụng các phép tính và đo
lường cơ bản, sử dụng ngôn ngữ toán, sử dụng công cụ tính toán.
(8) Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) với các nội
dung: Năng lực sử dụng và quản lí các phương tiện, công cụ của công nghệ kĩ
được sự trùng lặp nội dung kiến thức làm cho HS nhàm chán.
Dạy học theo chủ đề giúp tối đa hóa sự tham gia của người học, hạn
chế đến mức tối thiểu quyết định và can thiệp, áp đặt của người dạy trong quá
trình học tập. Dạy học theo chủ đề là cách dạy học hiệu quả trong việc hướng
dẫn HS huy động những kiến thức đã học, rèn luyện các kỹ năng học tập. Vì
vậy, phát huy tính tích cực, chủ động và gây hứng thú học tập cho HS.
* Xu hướng đổi mới dạy học của thế giới
Ở Việt Nam, dạy học theo chủ đề mới chỉ được đề cập trong mấy năm
gần đây. Tuy nhiên, đối với thế giới, dạy học theo chủ đề đã được nhiều nước
trên thế giới áp dụng. Trong nội dung cải cách giáo dục ở nhiều nước trên thế
giới, SGK đã được biên soạn lại dưới dạng các chủ đề. Lấy ví dụ gần đây nhất
đó là Phần Lan. Nhiều năm qua, Phần Lan có một nền giáo dục rất hiệu quả,
luôn nằm trong nhóm dẫn đầu trên các bảng xếp hạng khả năng đọc hiểu và
tính toán của thế giới.
Chỉ có một số quốc gia châu Á như Singapore và Trung Quốc có thứ
hạng cao hơn Phần Lan trong bảng xếp hạng của Chương trình đánh giá học
sinh quốc tế (PISA). Chính trị gia và chuyên gia giáo dục từ khắp nơi trên thế
giới - bao gồm cả Anh - đã đến Helsinki với hy vọng có thể tìm hiểu và nhân
16