phòng giáo dục - Đào tạo lạng giang
------*@*------
Đề tàI:
sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa
nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong
dạy học lịch sử thế giới lớp 7 - trung học cơ sở.
Ngời thực hiện : nguyễn văn hào
Đơn vị: Trờng thcs đại lâm
Bắc Giang, tháng 5 năm 2008
1
Mục lục trang
Phần A Những vấn đề chung 4
I . Lí do chọn đề tài. 4
II .Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
III.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
1.Mục đích nghiên cứu. 6
2.Nhiệm vụ nghiên cứu 6
IV.Đối tợng, phạm vi nghiên cứu 6
1.Đối tợng nghiên cứu 6
2.Phạm vi nghiên cứu 6
V.Phơng pháp nghiên cứu 7
Phần b: Nội dung 8
Chơng I: Một số vấn đề lí luận dạy học, dạy học phát huy tính tích
cực học tập của học sinh và thực trạng quá trình dạy học lịch sử
ở trờng phổ thông hiện nay.
I.Một số vấn đề lí luận dạy học 8
1.Khái niệm về quá trình dạy học 8
2.Bản chất của quá trình dạy học 8
II. Thực trạng quá trình dạy học lịch sử ở trờng phổ thông hiện nay. 11
III. Tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập 14
và đã thu hút đợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, quản lí giáo dục cũng nh
các giáo viên trực tiếp đứng lớp . Tất cả đều khẳng định phải đổi mới phơng pháp dạy
học theo hớng phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh.
Nghị quyết TW VIII đã khẳng định: phải đổi mới phơng pháp dạy học, khắc
phục lối dạy một chiều từng bớc áp dụng các phơng pháp tiên tiến, phơng tiện hiện
đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học
sinh, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thờng xuyên, suốt đời của học
sinh.
Trong luật giáo dục của nớc CHXHCN Việt Nam cũng đã qui định: Phơng pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động của học sinh, phù
hợp với đặc điểm của từng lớp , từng môn học, bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn
luyện, vận dung kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm đem lại niềm vui,
hứng thú trong học tập cho học sinh.
Thực tiễn quan điểm đổi mới giáo dục nói trên, trong các nhà trờng phổ thông
đã giấy lên một phong trào thi đua đổi mới phơng pháp dạy học đã diễn ra , kết quả
đã có nhiều giờ dạy tốt, tiết học tốt đã góp phần nâng cao hiệu quả bài học.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để phát huy nâng cao hiệu quả
bài học lịch sử, phát huy tính tích cực học tập của học sinh, đó là một trong những
vấn đề đòi hỏi các nhà giáo dục hiện nay cần thực hiện để đạt hiệu quả cao. Vấn đề
đặt ra là sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh trong dạy học lịch sử góp phần nâng cao hiệu quả bài học lịch sử.
Tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc thực hiện
vấn đề này. Có ngời còn ngại sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa vì nó mất thời
gian, có ngời coi kênh hình trong sách giáo khoa là chỉ để minh hoạ, có ngời lại quá
coi trọng kênh hình trong sách giáo khoa xem nhẹ nội dung kiến thức....
4
Chính vì vậy mà để phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến
thức lịch sử của học sinh, phát huy tính tích cực học tập của học sinh thì kênh hình
trong sách giáo khoa có một ý nghĩa rất quan trọng trong giảng dạy lịch sử. Kênh
hình sẽ giúp cho học sinh c ó đợc những biểu tợng lịch sử, qua đó hình thành các
Đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích xây dựng các biện pháp sử dụng kênh
hình trong SGK theo hớng phát huy tính tích cực của học sinh.
2.Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận về quá trình dạy học, bản chất của quá trình dạy học, kênh
hình trong SGK.
- Nghiên cứu lý luận về phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong dạy
học lịch sử, bản chất của quá trình dạy học sử dụng kênh hình trong SGK.
- Tìm hiểu thực tiễn việc sử dụng kênh hình trong SGK trong dạy học lịch sử
hiện nay.
- Xác định các biện pháp s phạm, sử dụng kênh hình trong SGK theo hớng phát
huy tính tích cực chủ động của học sinh trong sách giáo khoa lịch sử thế giới lớp 7-
THCS.
- Tiến hành thực nghiệm s phạm và rút ra kết luận .
IV. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
1.Đối tợng nghiên cứu.
- Quá trình dạy học lịch sử ở THCS
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Kênh hình trong SGK lịch sử thế giới lớp 7 THCS.
- Xác định các phơng pháp dạy học kết hợp việc sử dụng kênh hình trong SGK
lịch sử hế giới lớp 7 THCS.
V. Phơng pháp nghiên cứu.
- Đọc tài liệu.
6
- Nghiên cứu lý luận
- Điều tra thực tiễn tình hình dạy học lịch sử hiện nay ở THCS.
- Thực nghiệm s phạm và rút ra kết luận.
Phần B. Nội dung
7
Ch ơng I :
Một số vấn đề lí luận dạy học, dạy học phát huy tính
ngừng tích luỹ, hệ thống hoá, khái quát hoá kinh nghiệm, những tri thức...và truyền
đạt lại cho các thế hệ kế tiếp.
Trong xã hội diễn ra hoạt động nhận thức của loài ngời và hoạt động dạy học
cho thế hệ trẻ trong đó hoạt động nhận thức của loài ngời đi trớc theo con đờng vòng
nhằm tìm tòi phát hiện những cái mới khách quan, còn hoạt động học của học sinh
cũng là quá trình nhận thức nhằm lĩnh hội những cái mới chủ quan đợc diễn ra trong
môi trờng s phạm, có sự hớng dẫn, có vai trò chủ đạo của giáo viên.
- Khi xác định bản chất của quá trình dạy học cần xem xét mối quan hệ giữa
hoạt động dạy và hoạt động học. Dạy và học phản ánh tính hai mặt của quá trình dạy
học, chúng thống nhất biện chứng với nhau. Thầy đóng vai trò chủ đạo, trò tích cực,
tự giác, chủ động lĩnh hội tri thức kỹ năng và tự làm phong phú vốn hiểu biết của
mình.
b. Những đặc điểm cơ bản của quá trình dạy học hiện nay.
- Hoạt động học tập của học sinh đợc tích cực hoá trên cơ sở nội dung dạy học
ngày càng hiện đại hoá.
- Thực tiễn quá trình dạy học đang tồn tại một mẫu khá phổ biến, một bên là
nội dung dạy học không ngừng đổi mới theo hớng hiện đại hoá, nội dung thì quá tải-
mà thời gian học tập thì quá hạn, phơng pháp, phơng tiện dạy học lại lạc hậu, lỗi
thời...
- Trong quá trình dạy học hiện nay, học sinh có vốn sống và năng lực nhận thức
phát triển cao hơn so với trẻ cùng độ tuổi.
Do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay , đợc sống trong môi trờng tri
thức ngày càng phong phú học sinh thờng xuyên đợc tiếp xúc với nhiều nguồn thông
tin rất đa dạng.
9
So với trẻ cùng độ tuổi ở các thế hệ trớc, học sinh ngày nay có năng lực nhận
thức và vốn sống phát triển hơn, thông minh hơn, năng động hơn......
Vì vậy hoạt động dạy học phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển năng lực và
phẩm chất trí tuệ, tạo nên sự biến đổi về chất trong hoạt động nhận thức.
- Trong quá trình học tập , học sinh có xu hớng vợt ra khỏi nội dung tri thức , kỹ
Thực tế kết quả việc dạy và học môn lịch sử đã thể hiện rõ việc hoàn thành
nhiệm vụ của môn ở những điểm cơ bản sau.
Đã góp phần xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện đức dục
, trí dục, thể dục và mĩ dục. Đặc biệt với lợi thế bộ môn đã góp phần quan trọng
trong việc giáo dục t tởng, chính trị và hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Bộ môn lịch
sử đã góp phần xứng đáng trong việc xây dựng những con ngời và thế hệ tha thiết
gắn bó với lý tởng cao quý của Đảng. Đó là lớp ngời có đạo đức trong sáng, có ý trí
kiên cờng xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đó là lớp ngời hiểu rõ cội nguồn dân tộc, hiểu
rõ công lao của tổ tiên , của các vị anh hùng , liệt sĩ đã dũng cảm , thông minh sáng
tạo xây dựng và bảo vệ tổ quốc qua các thời đại lịch sử nên họ có đủ cơ sở để hiểu
tại sao phải biết giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc. Đó là lớp ngời có
năng lực làm chủ tri thức khoa học, xứng đáng là ngời kế thừa sự nghiệp cách mạng
vinh quang của Đảng, của dân tộc.
Chất lợng dạy và học bộ môn lịch sử không ngừng đợc nâng cao . Qua các hội
thi số giáo viên dạy giỏi các cấp ngày càng nhiều và chất lợng ngày càng nâng cao .
Chất lợng bài làm của học sinh qua các kỳ thi tốt nghiệp THCS, THPT và các kỳ thi
học sinh giỏi quốc gia ngày càng xuất hiện nhiều học sinh đạt điểm khá, giỏi.
Do kết quả giáo dục về nhiều mặt của bộ môn, đã không ngừng củng cố và
nâng cao địa vị bộ môn . Môn lịch sử ngày càng chứng tỏ rằng nó không thể thiếu đ-
ợc trong việc giáo dục t tởng, chính trị , đạo đức, tác phong... trong việc hình thành
nhân cách cho thế hệ trẻ. Yêu thích bộ môn lịch sử là xu hớng lành mạnh đang thu
hút ngày càng nhiều học sinh ở các trờng phổ thông hiện nay.
Có đợc các thành tích trên là do các nguyên nhân cơ bản sau:
11
+ Đợc Đảng, nhà nớc, các cấp quả lí giáo dục và nhân dân quan tâm , đánh giá
cao vai trò tác dụng của bộ môn lịch sử , trong việc giáo dục toàn diện thế hệ trẻ.
Nghị quyết TW II của BCHTW khoá VIII đã chỉ rõ: ".... Coi trọng hơn nữa các môn
khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng việt , lịch sử dân tộc, địa lí và văn hoá
Việt Nam.
+ Nhận thức đợc vai trò, vị trí của bộ môn Lịch sử trong sự nghiệp giáo dục ,
kiến thức trong khi đó số tiết lại cắt giảm , nhất là chơng trình lịch sử lớp 9 , một số
bài còn quá dài ví dụ nh các bài: 11; 27; 28; 29... do vậy trong quá trình soạn giảng
và học tập buộc giáo viên bù đầu vào nói sao cho đủ những kiến thức trong SGK ,
chứ không có thời gian để phân tích, để hớng dẫn học sinh cách nhận thức , còn học
sinh chỉ lo học thuộc lòng số lợng kiến thức của một tiết học nên cũng không còn
thời gian để suy ngẫm để đa ra câu hỏi tại sao? thế nào? để cảm nhận lịch sử đợc
nữa.
- Việc sử dụng kênh hình đôi khi còn cha phù hợp . Có giáo viên còn ngại sử
dụng kênh hình trong sách giáo khoa vì phần cha hiểu rõ bản chất, nội dung của
kênh hình, phần còn sợ mất thời gian , một phần nghĩ không cần thiết mà chỉ để
minh hoạ , nên nó góp phần làm giảm chất lợng giảng dạy.
* Bên cạnh đó hệ thống kênh hình hiện nay không có màu vì vậy sẽ rất khó
khăn cho việc mô tả, kiểm tra nhận thức của học sinh.
- Cơ sở vật chất và thiết bị cho việc dạy học bộ môn còn thiếu rất nhiều , các tài
liệu tham khảo, tranh ảnh, tạp chí ở th viện nhà trờng về lịch sử hầu nh rất ít
- Cha tận dụng đợc các hình thức dạy học khác nh tổ chức thăm quan di tích
lịch sử , di tích cách mạng , các hình thức ngoại khoá , hội thảo... Do đó quá trình
dạy học trở nên đơn điệu không phát huy đợc hết vai trò và tác dụng của bộ môn .
- Một số địa phơng còn thiếu giáo viên bộ môn chính ban , một số trờng còn bố
trí giáo viên bộ môn văn, địa... sang dạy lịch sử. Hậu quả là việc dạy bộ môn lịch sử
bị xem thờng , kết quả học tập còn bị hạn chế.
* Nguyên nhân chủ quan
13
- Khả năng chuyên môn nghiệp vụ của một số giáo viên bị sói mòn, một số cha
có ý thức rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ .
- Kết quả học tập của học sinh bị hạn chế nhiều mặt:
Kỹ năng học tập bộ môn không đợc rèn luyện việc việc ghi nhớ đơn thuần về
các sự kiện , hiện tợng lịch sử của học sinh tỏ ra không ổn, hiện tợng ghi nhớ không
chính xác, nhầm lẫn sự kiện này với sự kiện kia và nhớ không nhiều...
- Một số giáo viên còn dạy chay, nên nó làm tăng thêm sự hạn chế trong việc
nhận thức các vấn đề mới.
- Học sinh mong muốn đợc đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy
từ những nguồn khác nhau, có khi vợt ra ngoài phạm vi bài học, môn học.
Ngoài những biểu hiện nói trên mà giáo viên dễ nhận thấy còn có những biểu
hiện về mặt xúc cảm, khó nhận thấy hơn, nh thờ ơ hay hào hứng , phớt lờ hay ngạc
nhiên , hoan hỉ hay buồn chán trớc một nội dung nào đó của bài học hoặc khi tìm ra
lời giải thích hay cho một bài tập khó .
3. ý nghĩa của vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Bớc vào thời kỳ đổi mới đất nớc ta chuyển từ chế độ tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trờng nhiều thành phần dới sự quản lí của nhà nớc.
Học sinh và cha mẹ học sinh đã dần thích ứng với quan niệm học để có công
ăn việc làm , chấp nhận làm việc trong cả khu vực kinh tế tập thể và t nhân chứ
không chỉ tập chung vào khu vực nhà nớc nh trớc kia.
Trên con đờng thích ứng với cơ chế thị trờng chắc chắn trong thanh niên sẽ có
những chuyển biến mạnh mẽ. Nếu nh trớc đây còn có t tởng ỉ lại , không cần học
giỏi , học tốt miễn là có công ăn việc làm thu nhập cao là đợc, thì hiện nay học sinh,
thanh niên sẽ phải chuyển biến mạnh mẽ về động cơ, mục đích học tập, thái độ học
tập của mình. Thay cho mục đích trớc kia là học để trở thành cán bộ nhà nớc , có
việc làm ổn định suốt đời sẽ là học để chuẩn bị cho cuộc sống có việc làm ngày càng
tốt hơn . Thay cho tâm lí ỉ lại sẽ là sự tháo vát tự xoay sở , sự năng động tự tạo việc
làm. Cùng với những điều chỉnh trong xã hội về sử dụng lao động , tiền lơng , đãi
15
ngộ, khắc phục tiêu cực ô dù, móc ngoặc ... thanh niên sẽ có ý thức đợc rằng học giỏi
trong nhà trờng hứa hẹn thành đạt trong cuộc đời, phấn đấu trong học tập để có trình
độ thực lực là con đờng tốt nhất để mỗi thanh niên đạt tới vị trí kinh tế xã hội phù
hợp với năng lực của mình. Với một tâm lí nh vậy họ sẽ chủ động lao vào học tập
không biết mệt mỏi. Một đối tợng nh vậy sẽ đòi hỏi nhà trờng phải thay đổi nhiều về
nội dung phơng pháp giáo dục để có những sản phẩm đào tạo với chất lợng ngày
càng cao hơn, cung cấp cho thị trờng lao động.
ảnh lịch sử lại có hai dạng: dùng để minh hoạ cho kênh chữ hoặc với t cách là nguồn
cung cấp thông tin, kiến thức cho ngời học.
Do đặc điểm của học tập lịch sử là không trực tiếp quan sát các sự kiện nên vì
vậy đồ dùng trực quan nói chung và kênh hình trong sách giáo khoa nói riêng có vai
trò ý nghĩa rất quan trọng.
17
Trong dạy học lịch sử, phơng pháp sử dụng kênh hình góp phần quan trọng tạo
biểu tợng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục đợc tình trạng hiện đại
hoá lịch sử của học sinh .
Kênh hình là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, hình thành
khái niệm lịch sử, nắm vững của sự phát triển của xã hội .
Kênh hình trong sách giáo khoa còn có vai tro to lớn trong việc giúp học sinh
nhớ kỹ , hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh đợc giữ lại đặc
biệt vững trắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng ta thu nhận đợc bằng trực
quan.
Cùng với góp phần tạo biểu tợng và hình thành khái niệm, kênh hình còn góp
phần vào việc phát triển khả năng quan sát, trí tởng tợng, t duy ngôn ngữ của học
sinh.
Nhìn vào kênh hình học sinh sẽ hình dung ra đợc quá khứ lịch sử đợc phản ánh,
minh hoạ nh thế nào . Học sinh suy nghĩ và tìm cách diễn đạt bằng lời nói chính xác
có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức tranh xã hội đã qua.
Kênh hình còn góp phần to lớn trong việc giáo dục t tởng, tình cảm, cảm xúc
thẩm mĩ trong học sinh.
Với tất cả ý nghĩa giáo dỡng, giáo dục và phát triển nêu trên, kênh hình góp
phần to lớn nâng cao chất lợng dạy học lịch sử gây hứng thú học tập cho học sinh, nó
là chiếc cầu nối giã quá khứ và hiện tại.
Do vậy khi sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử đòi hỏi giáo viên khi
sử dụng phải linh hoạt, sáng tạo . Vì vậy giáo viên phải chuẩn bị chu đáo và nhất là
phải có phơng pháp phù hợp với từng loại kênh hình sao cho phù hợp với từng kiểu
bài khi lên lớp .
bày tất cả nội dung trong sách giáo khoa mà lên hớng dẫn học sinh nhận biết các sự
kiện qua việc quan sát bản đồ. Giáo viên có thể đặt ra câu hỏi cho học sinh, những
câu hỏi mà chỉ có thể đọc đợc bản đồ mới trả lời đợc.
Nh vậy bản đồ, sơ đồ giúp học sinh có lựa chọn đúng đắn về không gian, hoàn
cảnh địa lí xẩy ra sự kiện, ghi nhớ địa danh gắn liền với những đặc điểm điều kiện tự
19
nhiên, cụ thể hoá sự kiện lịch sử. Bản đồ còn góp phần phát triển óc quan sát, trí tởng
tợng, t duy và ngôn ngữ cũng nh tính tích cực hoạt động của học sinh. Nhìn vào bất
cứ bản đồ lịch sử nào học sinh cũng thích nhận xét, phán đoán, hình dung những
hiện tợng lịch sử đợc phản ánh , suy nghĩ và diễn đạt bằng lời nói chính xác, rõ ràng,
cụ thể những hiện tợng lịch sử đã qua.
*Phơng pháp sử dụng tranh ảnh, hình vẽ lịch sử.
Tranh ảnh, hình vẽ lịch sử có ý nghĩa to lớn là nguồn kiến thức lịch sử, có tính
giáo dục tính cách, phát triển t duy học sinh. Sử dụng tốt loại kênh hình này sẽ phát
huy đợc tính tích cực học tập của học sinh tạo ra sự hứng thú trong quá trình nhận
thức. Vì vậy khi sử dụng kênh hình tranh ảnh, hình vẽ giáo viên cho học sinh quan
sát tranh ảnh, hình vẽ tơng ứng với nội dung kiến thức có liên quan và đồng thời nên
sử dụng câu hỏi miêu tả hoặc tờng thuật kiến thức lịch sử biểu hiện trong đó. Tuy
nhiên cũng cần dành thời gian để học sinh quan sát tranh ảnh, hình vẽ và động viên
các em nói lên những suy nghĩ, nhận thức của mình , qua quan sát tranh ảnh qua đó
giáo viên uốn nắn, hớng dẫn học sinh nhận thức. Trong những điều kiện có thể gợi ý,
tạo ra các cuộc thảo luận, tranh luận của các em khi quan sát một bức tranh hay hình
vẽ nào đó.
Đối với các tranh ảnh về nhân vật lịch sử chúng ta cần hớng cho học sinh khi
quan sát và tạo nên các biểu tợng về nhân vật. Giúp các em không chỉ ở việc miêu tả
bề ngoài ( áo quần, hình dáng ) mà cần chú ý phân tích nội dung, tính cách, hành
vi, vai trò của nhân vật đó. Sử dụng chân dung phải nhằm mục đích giáo dỡng, giáo
dục. Đối với các nhân vật chính diện cần khơi dậy ở các em lòng kính trọng, cảm
phục, biết ơn với những cống hiến cũng nh tài trí của họ.
Đối với nhân vật phản diện hớng cho học sinh nhận xét những biểu hiện của
trong đó có 1 tiết làm bài tập.
Nội dung cơ bản của phần lịch sử thế giới lớp 7 là giúp các em nắm đợc những
nét rất khái quát về lịch sử thế giới trung đại
+ ở bài 1 : học sinh nắm đợc sự tan dã của xã hội chiếm hữu nô lệ và sự hình
thành xã hội phong kiến ở châu âu . Là quy luật tất yếu của xã hội và bên cạnh đó
21
là những nét về sự phát triển của xã hội phong kiến với đặc điểm nổi bật về xã hội
phong kiến ở châu âu.
+ ở bài 2: Học sinh nắm đợc cùng với sự phát triển của nền kinh tế châu âu
thời phong kiến nó đã xuất hiện mầm mống của nền kinh tế t bản và nhu cầu về thị
trờng, nguyên liệu cho nền sản xuất của châu âu.
+ ở bài 3: các em nắm đợc với sự ra đời của phơng thức TBCN nó đã dẫn tới
cuộc đấu tranh của giai cấp t sản chống lại chế độ phong kiến đã kìm hãm sự phát
triển của họ.
+ ở bài 4: Học sinh nắm đợc những nét rất khái quát về sự ra đời , phát triển
của xã hội phong kiến ở Trung quốc và những thành tựu văn hoá, khoa học kỹ thuật
của ngời Trung quốc thời trung đại và ảnh hởng của văn hoá Trung quốc đối với thế
giới và khu vực.
+ Bài 5: Học sinh nắm đợc những nét khái quát về lịch sử phong kiến ấn độ và
nền văn hoá của nhân dân ấn độ cũng nh ảnh hởng của văn há ấn độ đối với thế giới
và khu vực.
+ Bài 6: Học sinh nắm đợc những nét khái quát về sự ra đời, phát triển của các
quốc gia phong kiến, ở khu vực đông nam á, đặc biệt là hai quốc gia Lào và Campu
chia gần biên giới nớc ta.
+ Bài 7 : Qua nội dung bài 7 , học sinh nhận thấy đợc những nét rất khái quát về
xã hội phong kiến, về sự hình thành, phát triển, cơ sở kinh tế, xã hội , nhà nớc để
thấy đợc những nét đặc trng của hai nền văn hoá Đông- Tây có những gì khác và
giống trong thời kỳ trung đại.
III. Hệ thống kênh hình sách giáo khoa lịch sử thế giới 7 và phơng
pháp sử dụng nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy
không biết chữ.
-Sau khi miêu tả xong GV đặt câu hỏi: em có nhận xét gì về đời sống của lãnh
chúa và nông nô trong lãnh địa? Từ đó học sinh có đựoc biểu tợng cụ thể sinh động
về hai bức tranh sinh động đối lập của hai giai cấp trong xã hội phong kiến châu
23
âu . Từ đó hình thành hai khái niệm lãnh chúa phong kiến và lãnh địa phong
kiến
+ Hình 2: Hội chợ ở Đức
1. Mục đích sử dụng:
Đây là bức tranh vẽ, bức tranh này dùng để dạy ở mục 3- sự xuất hiện các
thành thị trung đại ở bài 1.
2. Phơng pháp sử dụng:
GV yêu cầu học sinh quan sát bức tranh và đặt các câu hỏi sau:
+ Nhìn vào bức tranh, em thấy quang cảnh họp chợ nh thế nào?
+ Số lợng ngời tham gia hội chợ ?
+ Các mặt hàng trao đổi gồm những gì?
Sau đó giáo viên miêu tả khái quát có phân tích theo nội dung sau:
Vào cuối thế kỷ XI trong lòng xã hội phong kiến châu âu, thành thị đã bắt đầu
xuất hiện. Thành thị xuất hiện là dấu hiệu của văn minh, là sự đối lập với sự phát
triển của xã hội châu âu và góp phần phá vỡ nền kinh tế đóng kín.
Khác với các thành phố phơng tây ngày nay, các thành thị châu âu thời trung
đại đều đợc xây thành bao quanh, trên có lỗ châu mai, chòi canh và ô cửa nhỏ, phía
ngoài tờng có hào sâu, phải qua cầu treo mới vào đợc thành. Cổng thành có vệ binh
canh giữ xuốt ngày đêm để tránh sự cớp phá của các lãnh chúa phong kiến.
Một bãi đất trống nằm ở trung tâm thành phố đợc chọn làm nơi họp chợ . Xung
quanh nhà là toà nhà trụ sở hội đồng thành phố, các của hiệu, quầy hàng. Chợ trở
thành nơi náo nhiệt nhất thành phố, mỗi tuần họp từ 1 đến 2 lần kéo dài suốt ngày.
Ngời đến chợ chủ yếu là lái buôn, thợ, thơng nhân. Họ mang theo tiền, hàng ra
chợ để mua bán, hàng từ khắp nơi mang đến, trong nớc, ngoài nớc cũng có.Sự náo
nhiệt của các buổi họp chợ làm cho hoạt động sinh hoạt văn hoá ở thành thị sôi nổi
25