TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG TRIẾT HỌC hồ CHÍ MINH về CHIẾN TRANH NHÂN dân VÀ ý NGHĨA TRONG sự NGHIỆP BẢO vệ tổ QUỐC VIỆT NAM XÃ hội CHỦ NGHĨA HIỆN NAY - Pdf 41

1

TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VỀ CHIẾN TRANH
NHÂN DÂN VÀ Ý NGHĨA TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TÔ
QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và
sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả
của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều
kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí
tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
con người. Mặc dù, trong toàn bộ “hệ thống quan điểm toàn diện và sâu
sắc” đó không bàn một cách cụ thể về các khái niệm, phạm trù, hay
những quy luật như các tư tưởng triết học trong lịch sử nhân loại cũng
như triết học Mác-Lênin; nhưng ẩn chứa trong ấy là những nội dung thể
hiện trình độ, phương pháp tư duy triết học rất sâu sắc, thể hiện sự nhất
quán một thế giới quan, một nhân sinh quan rất triết học của Hồ Chí
Minh.
Kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng triết học trong
lịch sử, nhất là triết học Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã có những đóng góp to lớn và xuất sắc cho kho tàng triết
học nhân loại nói chung, làm phong phú thêm triết học Mác-Lênin nói
riêng về rất nhiều vấn đề, trong đó có tư tưởng triết học của Người về
chiến tranh nhân dân. Có thể nói, đây là một trong những di sản quý báu
của Người để lại cho dân tộc ta cũng như toàn thể các dân tộc thuộc địa,


2

bị áp bức, bóc lột đứng lên giành và giữ chính quyền cách mạng, xây


giới, chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ vai trò to lớn của quần chúng nhân
dân. Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, là
chủ thể của lịch sử. Mọi hoạt động của quần chúng nhân dân là điều kiện
cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Họ là lực lượng
cơ bản của mọi cuộc cách mạng, cách mạng thực sự là ngày hội, là sự
nghiệp của họ. Trong các lĩnh vực khác như: Văn hoá, nghệ thuật,
khoa học .v.v, quần chúng nhân dân cũng vừa là người sáng tạo, vừa
là người thưởng thức, phê phán, kiểm nghiệm, gìn giữ, bảo vệ và phát
triển những giá trị đó. Ngoài ra, họ còn là nơi khơi dậy nguồn cảm
hứng dạt dào, rung động cho các sáng tác của các văn, nghệ sĩ. Nói
tóm lại, trong lĩnh vực quân sự, chính trị cũng như các lĩnh vực khác
của đời sống xã hội, quần chúng nhân dân luôn có vai trò vô cùng to
lớn, họ thực sự là động lực của mọi cuộc cách mạng xã hội, là chủ thể
sáng tạo của mọi hoạt động sống. Do đó, trong các hoạt động xã hội,
nhất là làm cách mạng, “ai” tập hợp, phát huy được sức mạnh của
quần chúng nhân dân, “người” đó sẽ có điều kiện thuận lợi làm nên
chiến thắng và ngược lại.
Thấm nhuần quan điểm trên của chủ nghĩa Mác-Lênin về vị trí,
vai trò của quần chúng nhân dân, nên ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh đã
nhận thấy, muốn làm cách mạng Việt Nam thành công phải dựa vào
sức mạnh của toàn thể quốc dân đồng bào, phải tiến hành khởi nghĩa
vũ trang giành chính quyền về tay nhân dân. Bởi theo Người:
“Dễ mười lần không dân cũng chịu
Khó trăm lần dân liệu cũng xong” 2.
Trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ năm 1924, Hồ
2

. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 112.


3
4


5

cày cuốc ngoài đồng ruộng, anh thợ cặm cụi trong nhà máy, chị bán
hàng buôn bán ngược xuôi, ông già xách giỏ đi câu cũng là kháng chiến.
Các công chức, các nhà văn, nhà báo mải miết trước bàn giấy, cạnh tủ
sách cũng là kháng chiến. Các y sinh, khán hộ lăn lộn bên giường bệnh
cũng là kháng chiến. Các nhà giàu có đem hết tài lực mở mang xưởng
thợ, khai thác ruộng đất cũng là kháng chiến. Đó là toàn dân kháng
chiến”5.
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm
1946, Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn
giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh
thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng
gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra
sức chống thực dân Pháp cứu nước”6.
Sức mạnh của chiến tranh nhân dân phải là sức mạnh tổng hợp của
của tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, là sức mạnh có tổ
chức của đông đảo quần chúng nhân dân, cùng với việc sử dụng và phát
huy hết tính năng, tác dụng của mọi thứ vũ khí, phương tiện trong tay.
Bởi theo người, “muốn thực hiện toàn dân kháng chiến, ngoài việc động
viên quân sự, chính trị, ngoại giao, còn phải động viên cả tinh thần lẫn
kinh tế”7. Nên bất kỳ ở đâu, lúc nào Hồ Chí Minh cũng thường xuyên
coi trọng động viên tinh thần tự lực tự cường, lòng yêu nước và chí căm
thù giặc của dân tộc, coi trọng tình đoàn kết, gắn bó giữa con người với

viết: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đoàn kết
là một lực lượng tất thắng”11.

. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 19.
. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 298.
10 . Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 298.
11 . Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 198.
8
9


7

Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa, vận dụng sáng tạo quan
điểm triết học Mác-Lênin về mối liên hệ phổ biến, vai trò của quần
chúng nhân dân vào xây dựng chiến lược chiến tranh nhân dân, mà
Người còn thổi vào truyền thống đoàn kết của dân tộc một luồng sinh
khí mới, làm tăng thêm vai trò và sức mạnh to lớn của nhân dân trong
đấu tranh cách mạng, để từ đó khẳng định lực lượng trong chiến tranh
nhân dân là toàn dân và là sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì
vậy, trong Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá II Trường
Đại học nhân dân Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân
dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân
dân”12.
Chiến tranh nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là hình thức
chiến tranh mang tính cách mạng, chính nghĩa, do giai cấp công nhân –
giai cấp tiến bộ lãnh đạo, mà trực tiếp là Đảng cộng sản Việt Nam; mục
tiêu là vì độc lập tự do của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, vì
sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của giai cấp Phong kiến,
địa chủ thối nát và thực dân, đế quốc; hình thức chiến tranh này đối lập

chế tạo, sáng tạo và sử dụng có hiệu quả các loại vũ khí, trang bị,
phương tiện để chiến tranh nhân dân giành thắng lợi cao nhất. Chính từ
quan điểm này, nên ngay từ khi kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước
đứng lên đánh đuổi Thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Ai có súng
dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc,
thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước” 14.
Thực tiễn lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của
dân tộc ta đã minh chứng cho những luận điểm trên của Hồ Chí Minh.
Ngay sau khi giành chính quyền vào mùa thu năm 1945, thực dân pháp
đã có sự chuẩn bị mọi mặt cho việc quay trở lại cướp nước ta một lần
13
14

. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 338.
. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 480.


9

nữa, với vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại hơn, uy lực mạnh hơn;
trong khi đó, quân và dân ta mới chỉ mạnh về tinh thần, ý chí; còn vũ
khí, trang bị, phương tiện đang rất thô sơ và vô cùng thiếu thốn. Do đó,
theo lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt, quân và dân ta
vừa ra sức chống giặc, vừa tích cực chế tạo nhiều loại vũ khí, trang bị,
phương tiện phục vụ cho chiến tranh, mặt khác vừa đánh giặc vừa xây
dựng lực lượng, thế trận và vừa sáng tạo ra những cách đánh linh hoạt,
phù hợp với khả năng sinh lực, binh lực hiện có và hình thức chiến tranh
nhân dân ở nước ta. Đánh địch trong thế trận của chiến tranh nhân dân,
trong điều kiện chúng đang mạnh hơn ta gấp nhiều lần, chúng ta không
thể dùng cách “đương đầu” trực tiếp, mà phải dùng cách đánh truyền

bộ phận địch thì bị du kích tỉa dần tỉa mòn. Bộ phận địch còn sống sót,
thì ẩn không yên, ở không yên, nghe gió thổi chim kêu cũng hoảng sợ,
rồi cũng bị du kích tiêu diệt nốt”17.
Lực lượng tham gia trong chiến tranh nhân dân, theo Hồ Chí Minh
là toàn thể quốc dân đồng bào, nhưng không phải đơn thuần là việc tập
hợp vào để “biểu dương” lực lượng, để “ghi tên” mình vào trong danh
sách tham gia kháng chiến, mà phải là mỗi người một việc, người thì
trực tiếp cầm vũ khí đánh giặc, người thì lo công tác bảo đảm mọi mặt
(hậu cần, chính trị, quân sự, thông tin .v.v) theo yêu cầu của cuộc kháng
chiến. Muốn làm được điều này, đòi hỏi những người tổ chức phải biết
cách tổ chức, có kế hoạch, bố trí, sắp xếp đúng người đúng việc, ai có
thế mạnh ở mặt nào thì phải đưa họ vào đúng mặt hoạt động ấy để họ
. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 338.
. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 507.
17. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 338.
15
16


11

phát huy sở trường, sở đoản; cần nhìn người và xem việc mà phân công
cho hợp lý, phải “dùng người như dùng gỗ” thì hiệu quả công việc mới
cao. Người nói: “Du kích tổ chức khéo, thì toàn dân gái trai già trẻ, sĩ
công nông thương, ai cũng có thể tham gia. Người thì lo đánh giặc,
người thì lo tiếp tế, tình báo, liên lạc, tuyên truyền. Mọi người đều có
dịp phụng sự Tổ quốc”18.
Theo Hồ Chí Minh, chiến tranh nhân dân không chỉ là cuộc chiến
tranh toàn dân, mà còn phải là cuộc chiến tranh toàn diện. Đánh địch là
phải đánh trên tất cả các mặt, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, ngoại

nói: “Chiến tranh vè mặt văn hoá hay tư tưởng so với những mặt khác
cũng không kém quan trọng”19.
Chiến tranh nhân dân là cuộc chiến tranh chủ yếu “lấy sức ta mà tự
giải phóng cho ta”, bởi theo Hồ Chí Minh, “Một dân tộc không tự lực
cánh sinh mà cứ chờ dân tộc khác giúp đỡ thì dân tộc đó không xứng
được độc lập”20. Song, bên cạnh đó Người cũng không tuyệt đối hoá yếu
tố nội lực, mà người còn tích cực đẩy mạnh hoạt động ngoại giao, tranh
thủ sự ủng hộ của các dân tộc, bè bạn và nhân loại tiến bộ trên toàn thế
giới. Vì vậy, trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, chúng
ta luôn nhận được sự ủng hộ đó ở mọi mặt trận, tạo điều kiện thuận lọi
cho ta đánh thắng “hai đế quốc to”. Chiến tranh nhân dân là cuộc chiến
tranh không cân sức giữa một bên có binh lực và sinh lực mạnh, thậm
chí là những đội quân tinh nhuệ cùng các loại vũ khí, trang bị, phương
tiện hiện đại, với một bên chủ yếu là “người nông dân mặc áo lính” cùng
những thứ vũ khí, trang bị, phương tiện hết sức thô sơ như “cuốc,
thuổng, gậy gộc”, vì vậy, không thể ngay ngày một, ngày hai mà kết
thúc chiến tranh được. Hơn nữa, nước ta vốn là một nước thuộc địa nửa
phong kiến, nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, đã từng phải
. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 319.
. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H. 2000, tr. 522.

19

20


13

trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc; đã có những thời kỳ người dân Việt
Nam phải chịu “một cổ hai chòng”, chịu hai tàng áp bức bóc lột NhậtPháp; chính quyền mới giành được còn quá non trẻ .v.v. Cho nên, tiến


tính chất, đặc điểm của cuộc chiến tranh giành và giữ vững độc lập của
dân tộc ta. đồng thời, cũng từ sự kế thừa tư tưởng quân sự của các bậc
tiền bối trong lịch sử dựng nước và giữ nước, từ sự vận dụng và phát
triển sáng tạo những tư tưởng, lý luận triết học nói chung, lý luận về
chiến tranh và quân đội của chủ nghĩa Mác-Lênin nói riêng vào điều
kiện cụ thể ở Việt Nam, Người đã tiếp tục phát triển và làm nổi bật lên
nghệ thuật quân sự Việt Nam. Đó là nghệ thuật “cả nước chung sức, toàn
dân đánh giặc”; nghệ thuật kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức
mình là chính; nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều.
Ngày nay, trước những thay đổi to lớn của thời đại; trước những
âm mưu, thủ đoạn mới của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch;
đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng
của Người nói chung, tư tưởng triết học nói riêng, đặc biệt là tư tưởng
triết học về chiến tranh nhân dân để xây dựng bảo vệ thành công Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Ý nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa hiện nay.
Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X khẳng định,
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay là “bảo vệ vững
chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ
Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh
chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá và an ninh xã hội;
duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của
đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động
chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”24.
. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr. 108 – 109.

24


25


16

cơ sở chính trị, các địa bàn vững mạnh, đặc biệt là những địa bàn chiến
lược trọng yếu, những khu vực nhạy cảm trên tuyến biên giới đất liền và
biển đảo. Tăng cường hơn nữa các hoạt động tuyên truyền, thực hiện tốt
“3 cùng với nhân dân” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm); thường xuyên nắm
chắc tình hình địa bàn và có các phương án ứng phó kịp thời, không để
cho kẻ thù lợi dụng can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Đẩy mạnh xây
dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, kết hợp phát triển kinh tế đi
đôi với nâng cao sức mạnh quốc phòng. Xây dựng đồng thời ba thứ
quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, làm nòng
cốt cho toàn dân đánh giặc. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, vũ khí,
trang bị, phương tiện cho lực lượng vũ trang nhân dân đáp ứng yêu cầu
khách quan của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất là Quân đội
nhân dân Việt Nam. Đẩy mạnh quá trình xây dựng quân đội ta theo
hướng “cách mạng, chính quy và từng bước hiện đại”.
Trong tình hình hiện nay, do vấn đề toàn cầu hoá trên nhiều lĩnh
vực chi phối mạnh mẽ tới quá trình tồn tại và phát triển của tất cả các
quốc gia, dân tộc trên thế giới; cùng với các thành tựu mới của khoa học
kỹ thuật và công nghệ. Nên “hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu
thế lớn”27, chiến tranh xâm lược theo phương thức như trước đây ít có
khả năng xảy ra. Nhưng chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ
và các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi thủ đoạn, bằng nhiều chiến
lược tấn công ta từ nhiều phía. Chúng tiếp tục đẩy mạnh chiến lược
“Diễn biến hoà bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ; các chiêu bài như
“dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo” vẫn được chúng lợi dụng triệt để,
nhằm đánh vào lòng tin, tín ngưỡng của nhân dân, gây rối và tạo mâu

tưởng triết học phương Đông của Người vào thực tiễn cách mạng Việt
Nam, làm bùng lên “ngọn lửa” truyền thống yêu nước của dân tộc
“thiêu cháy” mọi kẻ thù.


18

Những đóng góp to lớn đó của Người không chỉ có giá trị đối
với cách mạng Việt Nam, mà còn làm cho kho tàng triết học nhân
loại phong phú thêm; làm cho triết học Mác-Lênin nói riêng, chủ
nghĩa Mác-Lênin nói chung có thêm sức sống mới, thực sự là một
học thuyết mở mang tính cách mạng và khoa học rất cao. Những di
sản của Người để lại không chỉ có ý nghĩa hiện nay, mà còn giữ
nguyên giá trị trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa sau này./.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status