KHẢO sát văn bản và tìm HIỂU GIÁ TRỊ tồn AM THI tập của bùi HUY BÍCH - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM ĐÌNH NGỌC

KHẢO SÁT VĂN BẢN VÀ TÌM HIỂU GIÁ TRỊ
TỒN AM THI TẬP CỦA BÙI HUY BÍCH
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số: 60 22 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Chung


HÀ NỘI – 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn
Thị Thanh Chung - người thầy đã quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn tôi về học
thuật, tạo điều kiện tốt nhất về mọi mặt giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Bộ môn Hán Nôm
trường Đại học Sư phạm Hà Nội - những người đã tận tâm dạy bảo chúng tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng sau đại học, khoa Ngữ
Văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn
thành khóa học.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người hỗ trợ luôn động viên
tinh thần, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015

Là một học viên cao học chuyên ngành Hán Nôm, tôi nhận thấy tìm
hiểu thêm được một tác phẩm văn thơ cổ là việc làm ý nghĩa, giúp cho bản
thân nâng cao kiến thức, có thêm tư liệu cho việc nghiên cứu sau này. Hơn
nữa tác giả Tồn Am thi tập- Bùi Huy Bích, một tác giả có hệ thống nhiều tác
phẩm, đa dạng về thể loại, và có ảnh hưởng nhất định đến phong trào văn học

1


giai đoạn thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, cho nên tìm hiểu thêm được tác phẩm của
ông là góp phần hiểu thêm về con người và tài năng trong nghệ thuật thơ ca
của ông cũng như hiểu sâu hơn về thời đại lúc bây giờ.
Vì vậy mong muốn của người nghiên cứu là tìm hiểu về tác phẩm
một cách cơ bản, để có cái nhìn khái quát về tác phẩm, từ đó nắm bắt được
tư tưởng nội dung cũng như nghệ thuật của nó. Chính vì thế chúng tôi tiến
hành đề tài “Khảo sát văn bản và tìm hiểu giá trị Tồn Am thi tập của
Bùi Huy Bích”.
2. Lịch sử nghiên cứ vấn đề
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu về các vấn đề như sau:
2.1. Lịch sử nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Huy Bích
Dưới đây là những công trình, bài viết tham luận về cuộc đời và sự
nghiệp của Bùi Huy Bích mà chúng tôi tìm hiểu được:
- Từ điển văn học, Bộ mới ( Nxb Thế giới, 2004) giới thiệu về Bùi Huy Bích.
- Lược truyện các tác gia Việt Nam, Trần Văn Giáp chủ biên (Nxb
KHXH, Hà Nội 1971) giới thiệu sơ lược về tác giả và những tác phẩm của
Bùi Huy Bích ( tr 339- 340).
- Bộ Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (nguồn tư liệu văn học,lịch sử Việt
Nam) của Trần Văn Giáp (NXB Văn hóa Hà Nội, 1984) với mục đích thống
kê, khái quát về hiện trạng các văn bản Hán Nôm đã làm một việc rất giá trị
cho công việc khảo cứu đó là: Giới thiệu về tác giả Bùi Huy Bích ở phần tiểu

cứu về tác giả Bùi Huy Bích và đi sâu nghiên cứu về thể loại thơ Ngũ ngôn
trong Hoàng Việt thi tuyển.
Như vậy, các bài viết tham luận, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu
mới chỉ đề cập đến vấn đề về tiểu sử, sự nghiệp chung của Tồn Am Bùi Huy
Bích mà chưa đi vào nghiên cứu sự nghiệp thơ ca và tác phẩm Tồn Am thi tập.

3


2.2. Lịch sử nghiên cứu về tác phẩm Tồn Am thi tập
- Theo khảo sát của chúng tôi, cho đến nay vấn đề tìm hiểu về tác phẩm
Tồn Am thi tập mới chỉ có những bài viết, hoặc các công trình nhắc đến tên
tác phẩm này trong khi giới thiệu các tác phẩm của ông trong đề tài của mình.
Đó là bài viết của tác giả Bùi Hạnh Thẩn trong các sách Danh nhân văn hóa
Bùi Huy Bích (trang 135); sách Bùi Huy Bích, Danh nhân truyện ký - Trúc
Khê, Nxb Hà Nội 1998.
- Về mặt văn bản học và hệ thống nội dung cũng như nghệ thuật của
tập thơ, theo tìm hiểu của chúng tôi hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên
cứu nào tìm hiểu một cách cụ thể.
- Trong quá trình tìm hiểu về thơ Bùi Huy Bích trong các sách như
Tổng tập Văn học Việt Nam, Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam, Danh
nhân Hà Nội, Các tác gia Hán Nôm Thăng Long- Hà Nội, Danh nhân văn
hoá Bùi Huy Bích, chúng tôi đã tìm ra được 14 bài dịch trong hệ thống các bài
thơ trong Tồn Am thi tập. Đó là các bài: Vãn độ Bình Lãng khê ( Phạm Tú
Châu dịch), Đề Cổ Mễ sơn tự lâu chung, Thu hiểu đăng Phổ Linh tự chung
lâu ( Bùi Quảng Tuân dịch), Thu dạ, Khê kiều tế nguyệt, Qua Quang Liệt
thôn quan thủy ngưu ma cam giá tương, Thôn trang hàn dạ nhiên sơn mộc dĩ
tự ôn nhân tác và Túc Thạch Xá (Trúc Khê dịch), Sài Sơn tự ( Bùi Hạnh Cẩn
dịch), Vãn hành quách ngoại ký kiến (Nguyễn Vinh Phúc dịch), Quang Liệt
xã giang thượng ngâm ( Phạm Đình Nhân dịch), Quá Liên Sơn tự ( Bùi Văn

- Về nghiên cứu văn bản Văn bản Tồn Am thi tập: Xác lập được một
văn bản tốt nhất về tập thơ, làm tiền đề nghiên cứu sâu hơn tác phẩm này
cùng những sáng tác khác của tác giả Bùi Huy Bích.
- Về nghiên cứu giá trị nội dung Văn bản Tồn Am thi tập: Bước
đầu khái quát nội dung, từ đó đánh giá tư tưởng và tình cảm của tác giả
qua tập thơ.
- Về giá trị nghệ thuật Văn bản Tồn Am thi tập: làm nổi bật sự đa
dạng về thể thơ, sự linh hoạt trong trong sử dụng ngôn ngữ của tác giả.

5


5. Về dịch chú Văn bản Tồn Am thi tập
Đưa ra được bản dịch tương đối rõ ràng, sát với nội dung, làm cơ sở
nghiên cứu sâu hơn về tác phẩm.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp văn bản học: Phương pháp văn bản học, với các thao tác
cụ thể như thống kê, phân loại, so sánh, lý giải các dị văn, dị tự… được tiến
hành trong quá trình khảo sát văn bản nhằm xác định thiện bản.
Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Phương pháp nghiên cứu văn học
sử, với thao tác chủ yếu là so sánh, đối chiếu, được sử dụng để khẳng định giá
trị của thi tập.
Phương pháp dịch chú tác phẩm Hán Nôm: phương pháp này được sử
dụng trong quá trình phiên âm, dịch nghĩa, chú giải các tác phẩm.
Các phương pháp liên ngành: được sử dụng trong quá trình nghiên cứu
các vấn đề tổng hợp của luận văn.
7. Cấu trúc luận văn
Phần chính văn của luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết
luận. Trong đó, phần Nội dung được chia làm 3 chương, dự kiến các chương
như sau:

đến thế kỉ thứ XV mới có tên là Thịnh Liệt, tên Nôm là làng Sét. Gia tộc họ
Bùi làng Thịnh Liệt này bắt đầu từ thôn Giáp Nhị. Vào đầu thế kỉ XIX, làng
Thịnh Liệt, thuộc tổng Hoàng Mai, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn

7


Sơn Nam Thượng. Ngày nay, Thịnh Liệt , thuộc quận Hoàng Mai của thành
phố Hà Nội.
Làng Thanh Liệt quê hương cụ Bùi Huy Bích có truyền thống kính thọ,
không chỉ có văn chỉ mà còn có cả thọ chỉ, rất hiếm thấy ở các làng quê văn
hiến khác. Thọ chỉ, giống như văn chỉ, là một đền trong làng, nhưng không
dùng đẻ tôn vinh các danh nhân văn hóa mà để tôn vinh người lớn tuổi (từ 70
tuổi trở lên, đặc biệt là các cụ trên 100 tuổi), đề cao các đức của các vị cố lão
để con cháu noi theo. Danh sĩ Bùi Huy Bích chính là người viết văn bia cho
đền Ông Thọ của làng. Qua văn bia, biết mỹ tục của làng, những cụ 100 tuổi
trở lên là Quốc lão, được thờ tại đền Thọ Chỉ; các cụ trên 90 tuổi là bậc
Hương lão, cũng được phối thờ theo; các cụ trên thì được đặt bài vị thờ ở hai
bên Tả, Hữu. Hàng năm lấy ngày 10 tháng 2 và 10 tháng 8 làm lễ, có văn tế
và nghi lễ trịnh trọng. Việc thờ, tôn vinh các bậc tiền lão vẫn được duy trì
theo nghi thức cổ truyền. Các cụ thọ 70 tuổi (nam và nữ) vẫn được khắc tên
đặt hai bên bệ thờ trong đền ông thọ ngày xưa. Ngày tế lễ hàng năm (nay do
các cụ cao tuổi trong làng phụ trách) vẫn được các cụ trong làng, trong
phường, kể cả các cụ đang làm ăn, sinh sống ở khắp mọi nơi về tham dự; làm
cho ngày nay thực sự là ngày trọng thọ của dân làng. Những tục lệ tốt đẹp về
trọng thọ, tôn kính các vị tiền lão đã được dân làng nơi đây gìn giữ hàng trăm
năm, nay ngày càng trân trọng.
Dòng họ:
Dòng họ Bùi [裴] làng Thịnh Liệt là một dòng họ nổi tiếng đã đóng góp
nhiều nhân vật quan trọng cho các thời đại trong thời gian đầu thế kỉ XV đến

Tự[裴昌嗣], Bùi Dụng Tân[裴用賓], Bùi Bỉnh Trục[裴秉軸], Quốc Tử Giám
bạ [國子監簿],...

9


Các văn bia Tiến sĩ tại Văn miếu Hà Nội còn ghi tên của bốn vị Tiến sĩ
của dòng họ này:
- Bùi Xương Trạch: đệ tam giáp tiến sĩ năm 1478
- Bùi Vịnh: bảng nhãn năm 1532
- Bùi Bỉnh Quân: tiến sĩ năm 1619
- Bùi Huy Bích: hoàng giáp năm 1769
Số người thi đỗ cử nhân trong các kỳ thi Hương cũng khoảng 20
người, như Bùi Phổ, Bùi Bỉnh Khiêm, Bùi Xương Nghị, Bùi Xương Tự,
Bùi Nhữ Tích,…
Ngoài ra dòng họ Bùi còn đóng góp rất nhiều vào văn hóa và văn học
Việt Nam với nhiều tác phẩm của nhiều tác gia. Nổi tiếng nhất là Bùi Huy
Bích ( Tồn Am thi tập, Bích Câu thi tập, Nghệ An thi tập, Hoàng Việt thi
tuyển, Hoàng Việt văn tuyển…), Bùi Bỉnh Trục ( Đản trai trích đối, Đản
trai công thi…), Bùi Phổ ( Mão Hiên văn tập, Bùi thị gia phả..),…và nhiều
văn hào khác.
1.1.2. Cuộc đời
*Tuổi thơ:
Bùi Huy Bích là con trai thứ hai trong gia đình có ba người con. Trên
ông có chị gái và dưới ông có em trai. Mẹ ông mất khi ông còn nhỏ, gia đình
rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Cha ông đi dạy học ở Hải Dương, mang theo ba
con đến làng An Lâu, huyện Thanh Miện. “Thủa nhỏ, Bùi Huy Bích thể chất
bạc nhược, thường hay ốm yếu luôn. Miệng ngọng, tiếng rè. Hai cái răng cửa
khểnh lên mà một cái lộ ra hẳn ngoài. Ông bà Trúc Viên đã từng khó khăn về
những lần sinh đầu, nay thấy con yếu ớt kheo khư, lấy làm lo ngại. Một lần

1
2

Bùi Huy Bích, Tạp chí Tân Dân, 1944 – VV-D1/249 ĐHPHN
Tiến sĩ khoa Giáp(1754) niên hiệu Cảnh Hưng.

Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴惇, 1726 - 1784), tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu (允厚),
hiệu Quế Đường; là quan thời Lê trung hưng, là nhà thơ, và là "bác học lớn của Việt Nam trong thời phong
kiến"(Theo GS. Văn Tân, "Con người và sự nghiệp Lê Quý Đôn", tr. 306.).
3

11


trúng cách ấy thì Bùi Huy Bích là một. Tiếp sau ông đỗ thi Đình, đỗ Hoàng
Giáp- hạng Tiến sĩ thứ tư sau Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Năm đó,
ông mới 25 tuổi. Sau khi vinh quy bái tổ, ông được bổ nhiệm làm Hiệu lý [ 校
理] ở Hàn lâm viện [翰林院], làm thị giảng. Từ đó, ông bước chân vào chốn
quan trường.

H1.1.
Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 30
(1769)
*Thời kỳ làm quan:
Sau khi thi cử đỗ đạt, Bùi Huy Bích được cử giữ chức Hiệu Lý, thuộc
Hàn lâm viện. Đây là một chức quan nhàn rảnh, Tồn Am thường ở nhà đọc
sách, hoặc về làng thăm cha hầu hạ thuốc thang.

12



13


nắn lại được. Nhưng khi mang khải thư vào, Tĩnh Vương nhất định không
chuẩn hứa, Tồn Am không được lui về như ý muốn của mình. Khi chúa Trịnh
Sâm bỏ con trưởng Trịnh Tông [鄭棕] để lập con thứ Trịnh Cán [鄭叟] của
Tuyên phi Đặng Thị Huệ [ 鄧 氏 蕙 ], ông đã ra sức can ngăn, nhưng không
thành. Chính vì Trịnh Sâm phế con trưởng, lập con thứ nên đã xảy ra loạn
trong triều khi chúa qua đời. Trịnh Tông lật đổ Trịnh Cán để lên ngôi, cách
chức Tham tụng của Phan Lê Phiên 1, và mời Bùi Huy Bích ra làm Hành tham
tụng [行參從], tước Kế liệt hầu, hy vọng ông có thể cứu vãn được tình thế do
loạn kiêu binh gây ra. Sau đó, do xảy ra nhiều chuyện ngờ vực, ông từ quan
về dưỡng bệnh tại phường Bích Câu [碧溝], Hà Nội [河叟], gần hồ Tú Uyên
[ 秀 淵 ], năm ấy mới ngoài 40 tuổi2. Đến năm Bính Ngọ, quân Tây Sơn lấy
danh nghĩa “ phù Lê diệt Trịnh” kéo ra Bắc, Trịnh Tông điều ông ra mặt trận
làm đốc chiến. Tây Sơn diệt Trịnh không lâu thì Lê Hiển Tông [黎顯宗] mất,
cháu là Chiêu Thống [ 昭 統 ] lên thay. Chiêu Thống mời ông ra làm Bình
chương sự [ 平章事] kiêm Tham tụng, nhưng ông từ chối. Khi Nguyễn Huệ
[阮惠] lên ngôi vua và đánh tan quân Thanh (1789) có mời các danh thần đời
Hậu Lê [後黎] ra giúp nước nhưng ông không hợp tác. Đến triều Nguyễn [阮
朝 ], ông được trọng đãi nhưng vẫn xin sống thanh nhàn ở quê cho đến khi
mất( 1818).
*Từ khi trí sĩ:
1
2

Cùng phe với mẹ con Trịnh Cán.
Năm Quý Mão, 1789.


Ngày sóc là ngày mồng một, đầu tháng âm lịch (sóc là mở đầu); ngày vọng là ngày rằm âm lịch (vọng là
trông), ngày ấy mọi người thường ra sân ngắm trăng; Sáng mùng Một Tết, còn gọi là ngày Chính đán, người
Việt thường tổ chức tụ họp đông đủ con cháu để cúng tổ tiên và chúc Tết ông bà.
2

15


Tồn Am, vậy lấy ngay đó làm tên thụy. Khi táng trước hết phải làm lễ cáo
ở từ đường. Tang ma cốt cho đủ lễ mà thôi, còn những lối th ế tục vẫn dung,
rất chớ nên bắt chước.
Ngày 25 tháng 05, ông tạ thế, thọ 75 tuổi.
Ông mất đi, sĩ phu xa gần nghe tin, hết thảy đều thương tiếc. Người ta
thương tiếc, không phải vì ông là người đã từng lập nên những sự nghiệp gì to
lớn trong lịch sử, mà bởi ông là một nhà văn học đạo đức, sinh gặp thời suy
kém, lễ giáo tiêu mòn, kỷ cương đổ nát, học đỗ đến Hoàng giáp, làm quan đến
chức tể tướng, mà đến khi về già sống đạm bạc, trước sau vẫn giữ mình một
cách cao sạch, không chịu đắm sa vào những vẩn đục của dòng đời.
1.2. Sự nghiệp thơ ca
Xuất phát từ vốn thông minh tài phú từ nhỏ, Bùi Huy Bích sinh thời vào
buổi chính trị rối ren, nên sự nghiệp quan trường không được mãn ý. Bởi thế
Bùi Huy Bích đã tập trung vào việc sưu tầm và nghiên cứu thơ văn, sáng tác
văn học, mở lớp dạy học trò. Ông đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm
đồ sộ, có giá trị về nhiều mặt: lịch sử, văn học, triết học, giáo dục. Trước tác
của ông gồm cả hai mảng văn và thơ, hầu hết viết bằng chữ Hán. Về văn, sáng
tác có Lữ trung tạp thuyết [呂忠雜說], Tồn Am văn cảo [存庵文稿], biên soạn
có các tác phẩm Hoàng Việt văn tuyển [皇越文選], Ngũ kinh tiết yếu[五經節
要], Tính lý tiết yếu[性理節要], Chu lễ tiết yếu[周禮節要], Thư kinh tiết yếu
[書經節要], Tứ thu tiết yếu [四書節要], Luận ngữ tiết yếu [論語節要], Ngũ
kinh tiết yếu diễn nghĩa [五經節要演義]....Tuy nhiên do mục đích của luận

07

Nghệ An thi tập (quyển hạ)

Kí hiệu
các biệt tập hoặc vựng tập1
VHv.86/1
VHv.86/2
VHv.86/2
VHv.86/2
VHv.86/2
VHv.86/1, A.602
A.2831
VHv.86/1, A.602
A.2831

08
Hoàng Việt thi tuyển
A.608
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là Tồn Am thi tập, theo khảo
sát của chúng tôi, thực chất đây là tập thơ được tuyển chọn từ các tập thơ
khác của Bùi Huy Bích, đó là Bích Câu thi tập , Nghệ An thi tập và
Thoái Hiên thi tập.
Trong các tập thơ được thống kê trong bảng B1, chỉ có Hoàng Việt thi
tuyển là tác phẩm biên soạn, không có các bài thơ được tuyển chọn trong Tồn
Am thi tập cho nên chúng tôi trình bày khái quát. 7 tập còn lại được gộp lại
thành ba tập là Bích Câu thi tập , Nghệ An thi tập và Thoái Hiên thi tập, và ba
tập này sau lại được gộp lại trong một vựng tập có tên gọi là Tồn Am thi cảo.
Vì thế để nhất quán trong nghiên cứu đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
các tập thơ trên trong văn bản của Tồn Am thi cảo để đối chiếu, so sánh với

được chép tương đối sạch sẽ, ít dập xóa. Các bài thơ được trình bày theo lối
viết cổ, viết từ trên xuống, từ phải qua trái. Toàn tập có 27 tờ ( 53 trang), mỗi
trang 16 dòng, chia hai mặt mỗi mặt 08 dòng. Nhan đề được chép riêng một
18


dòng và chép thụt so với dòng chính một chữ. Tập thơ được chép trong tác
phẩm Tồn Am thi cảo, quyển 1, ký hiệu VHv.86/1.(Xem 1.2a ).
+ Bích Câu hậu tập là một tập thơ bao gồm 57 bài thơ chủ yếu thuộc
thể loại thất ngôn bài luật, được trình bày dưới dạng viết tay,khổ giấy
29.5cm x 17.5cm. Tập thơ các bài do một người chép, thể chữ chân, rõ ràng
dễ đọc, không bị dập xóa. Cũng như tập Bích Câu tiền tập các bài thơ được
trình bày trình theo lối viết cổ, viết từ trên xuống, từ phải qua trái. Toàn tập có
20 tờ (39 trang), mỗi tờ gồm 16 dòng, chia hai mặt mỗi mặt 08 dòng( những
mặt có chú dẫn dài thường thêm hai dòng nhỏ), mỗi dòng có là mỗi dòng số
chữ không đều nhau( khoảng 20 chữ). Nhan đề bài thơ viết thụt xuống so với
dòng chính 3 chữ. Tập thơ được chép trong tác phẩm Tồn Am thi cảo, quyển
2, có kí hiệu VHv.86/2.( Xem 1.2b ).

H1.2a (Trang 3a)

H1.2b (Trang 1a)
19


- Nghệ An thi tập [乂安詩集] gồm thượng tập và hạ tập, là tập thơ
ông biên soạn và sáng tác khi làm quan (chức Đốc đồng) ở Nghệ An. Sách
có 3 bài tựa, Thạch Động Dưỡng Hiên Nguyễn Du Thanh Thị [石 叟 養 軒
阮 攸 叟 氏] viết tựa năm Nhâm Dần (1782), Vãn tiến, Hoan Châu Tử Cư
Sĩ Nguyễn Đường [叟州子居士阮堂] viết tựa năm Nhâm Dần (1782), Diên

đọc. Văn bản được trình bày theo lối viết cổ: viết từ trên xuống dưới và từ
trái qua phải. Mỗi tờ có 20 dòng, chia hai mặt, mỗi mặt có 10 dòng. Nhan

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status