TRUYỆN kể dân GIAN về các LOẠI BÁNH gạo của NGƯỜI VIỆT ở MIỀN bắc VIỆT NAM - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐẶNG THỊ THƯƠNG

TRUYỆN KỂ DÂN GIAN VỀ CÁC LOẠI BÁNH GẠO
CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60.22.01.25

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Giảng viên hướng dẫn: PGS. TS Nguyễn Thị Bích Hà


HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất tới PGS.
TS Nguyễn Thị Bích Hà – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em
trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Em cũng trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà
Nội, ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo bộ môn đã tham gia
giảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý kiến quý
báu và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tại trường cũng như quá trình thực
hiện luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động
viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành tốt chương
trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học này.
Hà Nội, tháng 09 năm 2015
Tác giả


thế giới nghệ thuật độc đáo, một bầu không khí văn hóa bao bọc xung quanh
các loại bánh gạo. Bởi vậy cho nên nhà văn Vũ Bằng trong Thương nhớ mười
hai, đã có những cảm xúc yêu thương sâu sắc, lắng đọng với những thức quà
dân tộc này.

1


Ngoài ra, khác với các nước có truyền thống ăn lúa mì, đời sống cư dân
Việt gắn với cây lúa và biểu hiện rõ sắc thái dân tộc qua cây lúa. Từ khi tìm ra
được giống lúa, biết biến lúa thành cơm rồi sau đó sáng tạo ra các loại bánh từ
gạo, bột gạo, người Việt đã từng bước nâng cao giá trị của cây lúa, khẳng
định vai trò cây lúa trong đời sống xã hội. Khắp từ Bắc chí Nam đâu đâu cũng
có những loại bánh gạo đặc trưng cho từng địa phương. Số lượng các loại
bánh trên cả nước rất phong phú đa dạng, nên người viết chỉ khảo sát những
loại bánh của người Việt ở miền Bắc.
Có thể nói, đề tài Truyện kể dân gian về các loại bánh gạo của người
Việt ở miền Bắc Việt Nam là một đề tài đặc sắc thú vị nhưng lâu nay còn bỏ
ngỏ. Đề tài mà từ trước đến nay mới được các nhà nghiên cứu nêu lên một
cách sơ sài trong một số bài viết ở các kỷ yếu hội thảo, sách, báo, tạp chí,
chưa có ai nghiên cứu một cách đầy đủ hệ thống. Vấn đề này chúng tôi sẽ
trình bày cụ thể trong phần lịch sử vấn đề.
Với những lý do trên, việc khám phá các truyện kể dân gian về bánh
gạo của người Việt là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đối với người
làm công tác giảng dạy văn học dân gian, nghiên cứu văn hóa dân gian. Đây
chính là lý do thôi thúc chúng tôi đến với đề tài này.
2. Lịch sử vấn đề
Vấn đề nghiên cứu truyện kể dân gian về bánh gạo hiện nay đang là
một vấn đề bỏ ngỏ. Nói chính xác hơn chúng tôi chưa được tiếp xúc với công
trình khoa học nào hay một bài viết cụ thể nào đề cập, nghiên cứu một cách

tác giả đưa ra hai dạng thức của việc chế biến lúa. Dạng thứ nhất, chế biến lúa
thành các loại cơm, xôi. Dạng thứ hai, chế biến lúa thành các loại bánh, rượu. Và
tác giả cũng đưa ra một số nhận định sơ lược đánh giá các truyện kể dân gian về
bánh gạo: “So với dạng 1, chúng tôi thấy ý nghĩa nghệ thuật và thẩm mỹ của
dạng 2 cao hơn. Nó không đơn giản là những tiết chế biến lúa thành các món ẩm
thực. Trong một số truyện, chi tiết này trở thành một môtip nghệ thuật – chế biến

3


lúa thành bánh. Môtip này không còn phản ánh và lưu giữ quá trình chế tạo lúa
thành các loại bánh, rượu nữa mà ẩn chứa trong đó là bao điều thú vị. Đó là
những quan niệm về thế giới và con người của người xưa. Thứ nhất xét ở góc độ
“văn học nghệ thuật là bức tranh phản ánh đời sống” thì ta thấy môtip này cũng
có chức năng như dạng 1. Nó phản ánh sự phát triển vượt bậc trong đời sống ẩm
thực của người Việt Nam thời xưa. Lần đầu là biết cách chế biến lúa thành cơm,
xôi thay cho việc “ăn sống nuốt tươi” của thời nguyên thủy. Còn lần này là chế
tạo ra bánh và rượu.” [2;34]
Năm 2007, luận văn thạc sĩ văn học dân gian, Văn hóa ẩm thực trong
tục ngữ, ca dao người Việt và trong sáng tác Nôm của một số nhà thơ trung
đại (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến), Trần Hồng Hoa
cũng đã đề cập đến vấn đề liên đới mà chúng tôi đang nghiên cứu: “Theo các
tác giả Lĩnh Nam chích quái thì các vật trên trời đất và mọi của quý của con
người không gì quý hơn gạo nếp. Gạo nếp có thể nuôi người khỏe mạnh và ăn
không bao giờ chán. Nếp có hương thơm, hiếm hơn gạo tẻ nên được chọn làm
lễ vật dâng cúng thần linh và tiên tổ. Từ gạo nếp, người dân nấu thành xôi,
oản, cốm…hoặc làm ra các thứ bánh dùng làm quà hoặc cho những ngày đặc
biệt lễ, tết”. [ 23;19 ]
Năm 2009, PGS.Ts Trịnh Sinh trong bài viết Thời Hùng Vương từ tâm
thức đến lịch sử in trên báo điện tử Lao động cũng đã đề cập đến kinh nghiệm

Như phần lịch sử vấn đề đã trình bày ở trên, đề tài Truyện kể dân gian
về các loại bánh gạo của người Việt ở miền Bắc Việt Nam là đề tài mới chỉ
được các nhà nghiên cứu nêu ra hoặc giới thiệu, miêu tả; chưa có một tác giả
hay một công trình nào đi sâu vào tìm hiểu một cách kỹ lưỡng và có hệ thống.
Đó cũng là lý do để chúng tôi chọn lựa đề tài này. Đối tượng nghiên cứu của
chúng tôi gồm những vấn đề sau: Tất cả các truyện kể dân gian về bánh gạo
trong kho tàng văn học người Việt đều trở thành đối tượng khảo sát của chúng
tôi. Trong những truyện này, có một số truyện đã được ghi chép và công bố
5


trong các giáo trình, tuyển tập văn học; bên cạnh đó, cũng còn một số truyện
đang lưu truyền trong dân gian chưa được sưu tầm hoặc đã sưu tầm mà chưa
có điều kiện để công bố. Vì vậy chúng tôi khảo sát những tư liệu đã xuất bản
và cả những tư liệu chúng tôi có thể sưu tầm được.
Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là tất cả các truyện kể dân gian về bánh
gạo, nhưng chỉ của bộ phận cư dân người Việt ở miền Bắc. Phạm vi đó bao gồm
những tác phẩm đã được công bố, xuất bản và các tư liệu điền dã. Chúng tôi đã
tiến hành điền dã tại các làng nghề truyền thống làm bánh, tìm hiểu về những
kinh nghiệm làm bánh dân gian, về tổ nghề và các truyện kể xung quanh các
nhân vật lịch sử mà chưa được công bố bằng văn bản chính thức.
4. Mục đích nghiên cứu
- Luận văn nhằm hệ thống hóa các truyện kể dân gian về bánh gạo,
đồng thời khảo sát diện mạo của chúng không chỉ thống kê mà còn đi vào
phương diện nội dung, nghệ thuật.
- Nghiên cứu giá trị của các truyện kể dân gian, rút ra được những giá trị
tinh thần truyền thống nhằm góp phần xây dựng bản sắc văn hóa của con người.
Trên cơ sở này, chúng tôi đưa ra những đánh giá khoa học, khách quan
để góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình hệ thống hóa một mảng truyện kể
dân gian về bánh gạo lưu truyền trong nhân dân mà chưa được văn bản hóa.

của các truyện kể dân gian về bánh gạo.

7


Chương 1
CÂY LÚA NƯỚC VÀ KINH NGHIỆM CHẾ BIẾN
MÓN ĂN TỪ GẠO CỦA NGƯỜI VIỆT
1.1. Nguồn gốc và đặc điểm của cây lúa
1.1.1. Nguồn gốc cây lúa
Về nguồn gốc cây lúa, đã có nhiều tác giả đề cập tới nhưng cho tới nay
vẫn chưa có những dữ liệu chắc chắn và thống nhất. Có một điều là lịch sử
cây lúa đã có từ lâu và gắn liền với sự phát triển của nhân dân các nước châu
Á. Vavilov (1926), trong nghiên cứu nổi tiếng của ông về sự phân bố đa dạng
di truyền của cây trồng, cho rằng lúa trồng được xem như phát triển từ Ấn Độ.
Chowdhury và Ghosh thì cho rằng những hạt thóc hóa thạch cổ nhất của thế
giới đã được tìm thấy ở Hasthinapur (Bang Uttar Pradesh - Ấn Độ) vào
khoảng năm 1000 – 750 trước Công Nguyên, tức cách nay hơn 2500 năm.
Theo Grist D.H cây lúa xuất phát từ Đông Nam Á, từ đó lan dần lên phía Bắc.
Gutchtchin, Ghose, Erughin và nhiều tác giả khác thì cho rằng Đông Dương
là cái nôi của lúa trồng. De Candolle, Rojevich lại quan niệm rằng Ấn Độ mới
là nơi xuất phát chính của lúa trồng. Đinh Dĩnh (Trung Quốc) dựa vào lịch sử
phát triển lúa hoang ở trong nước cho rằng lúa trồng có xuất xứ ở Trung
Quốc. Một số nhà nghiên cứu Việt Nam lại cho rằng nguồn gốc cây lúa là ở
Miền Nam nước ta và Campuchia. Sampath và Rao (1951) cho rằng sự hiện
diện của nhiều loại lúa hoang ở Ấn Độ và Đông Nam Á chứng tỏ rằng Ấn Độ,
Miến Điện hay Đông Dương là nơi xuất xứ của lúa trồng. S. Sato (Nhật Bản)
cũng cho rằng lúa có nguồn gốc ở Ấn Độ, Việt Nam và Miến Điện. Tuy có
nhiều ý kiến nhưng chưa thống nhất, nhưng căn cứ vào các tài liệu lịch sử, di
tích khảo cổ, đặc điểm sinh thái học của cây lúa trồng và sự hiện diện rộng rãi

hình người giã gạo, cùng với các vỏ trấu cháy thành than,…vv đã chứng tỏ
ngành trồng lúa đã ra đời từ rất lâu. Đinh Văn Lữ (1978) cũng đã cho rằng

9


khoảng 4000 – 3000 trước công nguyên, người ta đã tìm thấy những di tích
như bàn nghiền hạt lúa, cối và chày đá giã gạo. Ngoài ra, các cuộc khảo cổ
gần đây còn chứng minh sự tồn tại của con người trên lãnh thổ Việt Nam từ
thời Đồ đá cũ. Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn
(gần 10.000 năm trước CN) đã chứng tỏ sự xuất hiện của nông nghiệp và chăn
nuôi, có thể là cả nghệ thuật trồng lúa nước. Các nhà khảo cổ tìm thấy trong
lớp đất bên dưới khu khảo cổ thuộc Văn hóa Hòa Bình những hạt thóc hóa
thạch khoảng 9260-7620 năm trước, và người Việt trong cộng đồng chủng
Nam Mongoloid được chứng minh là tổ tiên của văn minh lúa nước.
Có thể nói, từ thời kỳ Đồ Đá Cũ đến thời kỳ Đồ Đá Mới và Kim Khí,
cư dân đất Việt đã tích tụ hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người ngày
càng nhiều hơn, qua các nền văn hóa khảo cổ học như văn hóa Sơn Vi trong
hậu kỳ Đá Cũ đến nền văn hóa Hòa Bình-Bắc Sơn-Đa Bút của thời đại Đá
Mới; văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun của thời đại Đồng Thau.
Nền kinh tế nông nghiệp ra đời đã giúp cho đời sống con người chuyển đổi từ
du mục đến định cư và sau đó phát triển nhanh hơn mọi mặt để tiến đến nền
văn minh hiện đại hôm nay. Họ đã thuần dưỡng những cây lúa dại đa niên trở
thành hàng niên và cây lúa trồng, có khả năng sản xuất đáp ứng nhu cầu
lương thực dân tộc ngày càng nhiều. Nghề nông nghiệp lúa tiến bộ được biểu
hiện qua kỹ thuật canh tác và các công cụ sản xuất hữu hiệu hơn như rìu,
cuốc, cày, mai... bằng đá, đồng, sắt. Ngành trồng lúa rẫy đạt đến mức cực
thịnh và nông nghiệp lúa nước bắt đầu xuất hiện sau khi mực nước biển thoái
dần. Kinh nghiệm tích lũy của cư dân qua các nền văn hóa nêu trên là tiền đề
quan trọng cho sự lớn mạnh cộng đồng Việt Cổ và hình thành đất nước Văn

cần thiết để duy trì mực nước từ 100 mm đến 150 mm để giúp cho cây lúa
tăng trưởng và kết hạt tốt. Yếu tố nước trong việc trồng lúa nước là điều kiện
bắt buộc để hình thành văn minh lúa nước. Có lẽ người nguyên thủy lúc đầu
phát hiện ra sự khác nhau về năng suất của lúa nương, một loại lúa mọc trên

11


các triền đất khô ẩm và lúa nước mọc ở khu vực ngập nước của lưu vực các
con sông lớn là hoàn toàn khác nhau. Cây lúa nước chỉ có thể phát triển tốt
khi sống ở những khu vực khí hậu phù hợp như các vùng nhiệt đới, và đặc
biệt tốt, năng suất cao khi hàng năm các con sông lớn như sông Hồng, sông
Mã... mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp hàng năm vào các mùa nước
lũ. Chính vì vậy, những khu vực đồng bằng và các lưu vực các con sông chảy
qua các miền nhiệt đới nhiều mưa sẽ là môi trường thuận lợi cho cây lúa nước
phát triển. Ví dụ như đồng bằng sông Hồng, lưu vực sông Dương Tử... thích
hợp cho cây lúa nước. Có thể nói, điều kiện đồng bằng sông Hồng là nơi rất
thích hợp cho lúa hoang và sau này là lúa trồng. Điều đó đã góp phần lý giải
tại sao các sản phẩm đa dạng phong phú từ lúa gạo lại tập trung chủ yếu ở
những vùng đồng bằng ven sông Hồng.
Như vậy, nằm trọn trong vành đai nhiệt đới gió mùa với khí hậu nóng
ẩm, lượng mưa hàng năm rất cao nên Việt Nam có đủ điều kiện thuận lợi để
phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, vững vàng nếu như con người nơi
đây có khả năng tận dụng nó một cách triệt để.
1.2. Vai trò của cây lúa trong đời sống cư dân nông nghiệp
1.2.1. Vai trò cây lúa trong đời sống vật chất
Qua hàng nghìn năm lịch sử, lúa đã là cây lương thực chủ yếu nuôi
sống các thế hệ người Việt cho đến nay. Đối với người Việt chúng ta, hay
phần lớn dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt
gạo là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai trò cực kỳ quan

xôi, nấu cho nhiều nước thành cháo, chế biến thành món quà là bỏng.
Rõ ràng là cây lúa đã đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cư dân
nông nghiệp. Nó đem lại cho con người sự sống, là nguồn lương thực quan
trọng giúp cho người Việt bao đời tồn tại, vượt qua những nạn đói khủng
khiếp. Thực tế cuộc sống đã chứng minh được điều đó. Từ xa xưa (sau khi kết
thúc thời kỳ hái lượm tự nhiên), nông nghiệp đã trở thành nguồn sống chính

13


của cả dân tộc. Hầu hết cư dân khắp mọi miền đều tham gia trồng trọt sản
xuất lương thực làm thức ăn chủ yếu cho mình để duy trì cuộc sống. Rồi trong
trường kỳ lịch sử dựng nước, cây lúa và con người càng chung thủy với nhau,
gắn bó bên nhau như hình với bóng. Không chỉ xưa kia các bậc tiền nhân luôn
luôn dạy dỗ con cháu thấm nhuần tư tưởng “nông vi bản” mà những năm gần
đây Đảng và Nhà nước ta cũng hết sức coi trọng vai trò của nông nghiệp.Từ
một nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng
hiện nay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng
lớn lương thực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị
trường lớn trên thế giới. Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong
những ngành ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được
những thành tựu đáng kể, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn
trên thế giới. Trước đây cây lúa hạt gạo chỉ đem lại no đủ cho con người, thì
ngày nay nó còn có thể làm giàu cho người nông dân và cho cả đất nước nếu
chúng ta biết biến nó thành thứ hàng hóa có giá trị.
Ngoài ra, nói đến các sản phẩm từ gạo thì có thể nói bánh gạo là thứ
thực phẩm quan trọng trong đời sống người dân. Ở hầu hết các tỉnh miền Bắc,
đâu đâu cũng sản sinh ra những loại bánh riêng, đặc sắc của địa phương.
Nhân dân ta có rất nhiều thứ bánh chế biến từ hạt gạo, tạm kể như bánh
chưng, bánh dày, bánh nếp, bánh tẻ, bánh mật, bánh gai, bánh rợm, bánh giò,

cửa miệng của những người hai sương một nắng.
Như vậy cây lúa không chỉ mang lại sự no đủ mà còn trở thành một nét
đẹp trong đời sống văn hóa và tinh thần. Cái đặc biệt của người Việt so với
các dân tộc khác ở chỗ, họ không chỉ xem cây lúa, xem đồng ruộng là đối
tượng làm ăn mà còn coi là người bạn đồng hành trong cuộc sống của mình.
Hạnh phúc đối với họ không phải là một cái gì trừu tượng, cao xa mà là cây
lúa, là đồng ruộng, là sự yên ổn làm ăn và làm ăn có kết quả. Đó là cảnh:
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”

16


Như ca dao cổ đã nói.
Dân tộc Kinh từ xa xưa đã quần tụ ở vùng đất cổ thuộc đồng bằng sông
Hồng và gắn bó với nghề trồng lúa nước. Trải qua nhiều thời kỳ phát triển,
nghề trồng lúa nước không chỉ làm ra nguồn lương thực nuôi sống con người,
mà còn tạo ra không gian văn hóa, bề dày lịch sử mang bản sắc riêng của
người Kinh. Gắn bó với với nghề trồng lúa nước, cuộc sống của người dân
sống dựa vào thiên nhiên, nên dần hình thành nhiều phong tục, tập quán, tín
ngưỡng tâm linh đặc trưng như: tục thờ cúng tổ tiên, tục thờ Tứ Pháp (thờ
thần mưa, gió, sấm, chớp). Tất cả đã tạo thành nét văn hoá độc đáo của dân
tộc Kinh. Bên cạnh đó, rất nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật như: hát chèo,
nghệ thuật múa rối nước…đã khẳng định tính sáng tạo của cư dân nền văn
minh vùng châu thổ Sông Hồng.
Có thể nói, vai trò của cây lúa trong đời sống tinh thần được phản ánh
rõ nhất trong các hoạt động văn hóa dân gian của dân tộc. Đáng chú ý là
những tín ngưỡng liên quan đến cây lúa. Người ta thờ thần lúa, gọi vía lúa,
rước mạ, rước lúa. Lúa gạo là kết quả cuối cùng của một quá trình lao động
nông nghiệp vất vả, là sản phẩm chính yếu, trực tiếp nuôi sống con người từ

bốn Mẹ lúa cấy xong bốn bó mạ. Khi ấy ông chủ lễ mang một cây nêu có treo
những chiếc vòng bằng tre lồng vào nhau lên trồng trên thuở ruộng. Một hồi
chiêng trống thu quân kết thúc buổi lễ.
Ở xã Tất Thắng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xưa, thì “bố mo” khấn
gọi “vía lúa” như sau:
Lúa ở Mường trời,
Nghe lời Mường con kêu gọi…
Lúa về mường này làm giàu làm có,
Bao nhiêu khốn khó bay về mường xa.
Hỡi lúa nếp, lúa tẻ,
Nghe lời mường ta kêu gọi.

18


Bông con vừa bằng vòi hái,
Bông cái vừa bằng đuôi trâu
Lúa về đây làm giàu cho dân cho bản
Lúa về đây làm cho dân bản no lòng
Lúa ơi, lúa á. à. à…”
Và đến ngày cấy người ta còn có lễ cúng hồn lúa. Cỗ cúng gồm có cơm
nếp đồ. Hai phần ba gạo nếp nhuộm màu đen một phần màu trắng, cả ba phần
gạo nếp ấy trộn vào nhau rồi mới đem đồ. Khi đồ chín rồi thì gói thành từng
gói trong lá chuối. Cúng ngày hôm trước thì tờ mờ sang hôm sau bà chủ nhà
ra ruộng cấy bốn khóm mạ. Sau đó người nhà cùng nhau cấy nốt.
Các lễ thức dân gian như vậy đã được nhà nước Đại Việt nâng lên thành
quốc lễ. Theo sử cũ thì hàng năm vào ngày mùng 4 tháng giêng âm lịch, sau
khi tế thần Tiên nông, nhà vua đích thân cày một luống trên ruộng tịch điền
(ruộng công nhà nước). Theo Việt sử lược thì năm 1048, vua Lý Thái Tông
xuống chiếu định ra lễ “đả xuân ngưu”. Sách An Nam chí lược chép như sau: “

Nam Á rất lớn. Nếu quan sát kỹ chúng ta có thể thấy rằng những thói quen
những phong tục của người Đông Nam Á ảnh hưởng rất nhiều bởi tính chất
thực vật. Như chúng ta đã biết, lúa gạo là sản phẩm chính của nền nông
nghiệp Đông Nam Á, từ lúa gạo người Đông Nam Á đã sáng tạo ra những
món ăn đại diện cho quốc hồn, quốc túy của dân tộc mình. Người Đông Nam
Á có đặc trưng là ăn cơm gạo và các sản phẩm làm từ lúa gạo, các loại bánh
bằng gạo nếp, gạo tẻ, bột nếp, bột tẻ, bún, phở, rượu gạo… Ở Thái Lan, món
xôi Xoài Khao Neiw Ma Muang được xem là món ăn tráng miệng truyền
thống với nguyên liệu hoàn toàn từ thực vật. Hay ở Indonesia có cơm rang
Nasi Goreng, món cơm gà Hải Nam của người Singapore. Việt Nam chúng ta
có món bánh chưng, bánh dày đã đi cùng chúng ta suốt chiều dài lịch sử. Nó
khác xa với đặc trưng ẩm thực của các khu vực trồng lúa khô (lúa mì, lúa
mạch), họ ăn cháo bột và các loại bánh từ bột mì, bột mạch…Ví dụ như, ở

20


nước Nga cây trồng chủ yếu là lúa mì, lúa mạch đen, lúa mạch và kê cung cấp
các thành phần cho nhiều loại bánh mì, bánh, ngũ cốc, bia và rượu vodka.
Cho đến nay, những món ăn truyền thống và các đặc sản của Nga như bánh
mỳ “karavai” và rượu vodka vẫn giữ nguyên tầm quan trọng trong các bữa ăn
hàng ngày cũng như trong các bữa tiệc hay lễ lớn.
Xét về Việt Nam, một quốc gia châu Á, ẩm thực nước ta cũng mang
những đặc trưng chung của các nước trồng lúa nước và ăn cơm gạo như việc
sử dụng những món ăn có tính chuẩn mực nghệ thuật truyền thống cao, dùng
gạo là nguyên liệu trung tâm trong mọi sự kết hợp món ăn. Bên cạnh đó, mỗi
quốc gia có điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái khác nhau. Chúng tác
động mạnh mẽ đến phương thức sinh hoạt sản xuất và tính cách con người
quốc gia đó. Cách sinh hoạt khác nhau dẫn đến nền văn hóa cũng khác nhau,
nên văn hóa ẩm thực Việt Nam cũng mang nhiều nét riêng độc đáo.

bánh đòi hỏi sự khéo léo là cả một tiến trình phát triển lâu dài của lịch sử. Nó in
dấu nét văn hóa đặc thù của từng địa phương, từng giai đoạn. Do gắn liền với
sự phát triển của xã hội mà các loại bánh gạo của người Việt ngày nay rất đa
dạng và hài hòa.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, thì những người sáng tạo đầu tiên, những
sản vật lúa gạo đầu tiên luôn luôn giữ vai trò rất quan trọng trong cộng đồng.
Bởi theo quan niệm của cộng đồng, đức tính tốt đẹp nhất không phải là đạt
được một cái gì đó mà là cho đi một cái gì đó. Nhưng một người không thể
cho đi những gì mà anh ta không tạo ra. Đầu tiên phải có sáng tạo, sau đó mới
là phân phối, nếu không thì chẳng có gì để phân phối cả. Phải có người sáng
tạo trước khi có người hưởng lợi từ sự sáng tạo hay bắt chước sự sáng tạo. Do
đó, những người đầu tiên tìm ra một loại thức ăn mới, họ được ngợi ca là
những anh hùng văn hóa, họ không chỉ làm phong phú cho đời sống vật chất
cộng đồng mà còn mở ra một bước phát triển mới trong văn hóa, trong lối
sống, tạo nên quốc hồn, quốc túy dân tộc. Ở truyện Bánh chưng, bánh giầy,

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status