Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của người Dao ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tính đa dạng của nền văn hoá Việt Nam đƣợc thể hiện bằng những giá
trị văn hoá đặc sắc của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Trong nền văn hoá đa
dạng mà thống nhất ấy, những giá trị văn hoá của cộng đồng các dân tộc ít
ngƣời có vị trí quan trọng. Với điều kiện địa lí tự nhiên khác nhau, mỗi dân
tộc đã tìm ra phƣơng thức ứng xử thiên nhiên khác nhau, hình thành tập quán
sản xuất. Đây có thể đƣợc coi là một lâu đài văn hóa đồ sộ của mỗi tộc
ngƣời, là sản phẩm đƣợc tích lũy, chắt lọc qua hàng ngàn năm lịch sử, tạo
nên bản sắc văn hóa dân tộc, làm thành chuẩn mực để phân biệt dân tộc này
với dân tộc khác. Tuy nhiên, hiện nay, những giá trị văn hoá đã bị mai một,
thậm chí biến mất. Yêu cầu đặt ra là phải có biện pháp giữ gìn, phát huy
những di sản văn hoá đó.
Lục Nam là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang với 8 dân tộc anh
em sinh sống, trong đó ngƣời Dao cƣ trú chủ yếu ở 4 xã Lục Sơn, Bình Sơn,
Vô Tranh, Trƣờng Sơn. Quá trình đấu tranh lâu dài với thiên nhiên, lao động
sản xuất để sinh tồn đã hình thành những kinh nghiệm sản xuất và đƣợc
truyền từ đời này sang đời khác tạo nên bản sắc văn hoá của ngƣời Dao nơi
đây. Tuy nhiên, để hội nhập và phát triển, việc thay đổi tập quán sản xuất và
áp dụng khoa học kĩ thuật mới là yêu cầu cấp thiết đối với nông nghiệp của
ngƣời Dao ở Lục Nam. Trong số kĩ thuật mới đƣợc áp dụng có những kĩ thuật
đem lại hiệu quả sản xuất, nhƣng cũng có kĩ thuật không phù hợp với đặc thù
về nơi cƣ trú, về tập quán và tổ chức xã hội. Điều đó cho thấy tập quán sản
xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc Dao ở Lục Nam có những điểm tích
cực cần đƣợc phát huy. Việc nghiên cứu về những tri thức dân gian trong sản
xuất nông nghiệp sẽ giúp các cơ quan quản lý có thêm cơ sở để giải quyết tốt
vấn đề trên, nhằm tạo ra sự phát triển nông nghiệp bền vững, góp phần xây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

phân biệt các nhóm Dao và địa bàn cƣ trú của họ trong đó có ở huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang.
Cuốn Lịch sử Lục Nam do Ban thƣờng vụ huyện uỷ Lục Nam tổ chức
biên soạn và xuất bản năm 1994 đã trình bày những nét cơ bản về huyện Lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 2 of 166.




Header Page 3 of 166.
3
Nam và ngƣời Dao sống trên địa bàn. Tác phẩm đề cập tới vị trí địa lí, điều
kiện tự nhiên của huyện Lục Nam. Những nội dung không chỉ đề cập tới nghề
sống chính của dân tộc Kinh chiếm đa số mà còn đề cập tới nghề sống chính
của bộ phận ngƣời Dao ở đây, đó là nghề nông nghiệp. Tác phẩm cho thấy
tầm quan trọng của nông nghiệp trong đời sống của ngƣời Dao nơi đây và đặc
biệt với tầm quan trọng nhƣ vậy họ đã có những cách thức sản xuất nhƣ thế
nào để đảm bảo cuộc sống.
Công trình Địa chí Bắc Giang - Địa lí và kinh tế, do Sở văn hoá thông
tin Bắc Giang phối hợp với Trung tâm UNESCO thông tin tƣ liệu lịch sử và
văn hoá Việt Nam, (năm 2003), đã giới thiệu về dân tộc Dao ở Bắc Giang từ
địa vực cƣ trú, truyền thống văn hoá đến tập quán canh tác.
Các công trình Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang (2003) và Lịch sử
Đảng bộ huyện Lục Nam (2003) đã giới thiệu sơ lƣợc về ngƣời Dao nhƣ địa
bàn cƣ trú, tên gọi của các nhóm ngƣời Dao tại địa phƣơng và những truyền
thống của họ trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần. Tác phẩm, là cơ sở
để giải thích và làm rõ quá trình di cƣ và tên gọi các nhóm ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái quát về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và nguồn gốc của ngƣời
Dao của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Hệ thống lại những tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của
ngƣời Dao ở huyện Lục Nam trong truyền thống.
- Làm rõ sự biến đổi của tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp
dƣới tác động của các yếu tố nội sinh và ngoại sinh thời điểm hiện nay. Từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của tri thức dân gian của
ngƣời Dao trong sản xuất nông nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các thôn bản có
đông ngƣời Dao sinh sống, đó là 4 xã Lục Sơn, Bình Sơn, Vô Tranh và
Trƣờng Sơn - huyện Lục Nam.
Về mặt thời gian: Nghiên cứu những tri thức dân gian trong sản xuất
nông nghiệp truyền thống và hiện tại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 4 of 166.




Header Page 5 of 166.
5
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Nguồn tƣ liệu
Nguồn tài liệu chung: Bao gồm một số sách sử và địa chí cổ; các công
trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí đã xuất bản của các nhà khoa học trong và
ngoài nƣớc.
Nguồn tài liệu địa phƣơng: Các công trình nghiên cứu về lịch sử, lịch

người Dao ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang làm sáng tỏ sự biến đổi của tri
thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp dƣới tác động của các yếu tố nội
sinh và ngoại sinh. Đây sẽ là cơ sở ý tƣởng cho các công trình nghiên cứu
khoa học sau này.
Luận văn cũng góp phần vào việc giới thiệu bản sắc văn hoá của dân
tộc Dao ở huyện Lục Nam nói riêng và cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Bắc
Giang nói chung. Luận văn là nguồn tƣ liệu cho dạy học lịch sử địa phƣơng,
giáo dục tƣ tƣởng tình cảm yêu quê hƣơng, đất nƣớc.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc chia
thành 3 chƣơng.
Chƣơng 1. Khái quát về huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang.
Chƣơng 2. Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao
ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang trong truyền thống.
Chƣơng 3. Sự biến đổi của tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp
của ngƣời Dao ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang hiện nay.
Cuối cùng là tài liệu tham khảo, phụ lục bao gồm một số bảng biểu và
ảnh minh họa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 6 of 166.




Header Page 7 of 166.
7
CHƢƠNG 1




Header Page 8 of 166.
8
Đông Hƣng và Tiên Nha; chia xã Yên Sơn B thành 2 xã Bình Sơn và Hùng
Sơn; chia xã Mỹ An thành 2 xã Mỹ An và Trƣờng Giang. Đồng thời theo
Nghị định, xã Mỹ An đƣợc chuyển về huyện Lục Ngạn, còn xã Lan Mẫu
thuộc huyện Yên Dũng đƣợc chuyển về huyện Lục Nam.
Thực hiện chỉ thị số 23-TTg kí ngày 15-4-1963 của Thủ tƣớng Chính
phủ, 2 xã đƣợc trả lại tên cũ là Hoà Bình A thành Chu Điện và Bắc Sơn thành
Vô Tranh, 4 xã đƣợc đổi tên mới là Tân Lập thành Đông Phú, Hùng Sơn
thành Lục Sơn, Thanh Sơn thành Thanh Lâm và Nam Sơn thành Huyền Sơn.
Kể từ đây, huyện Lục Nam có 25 xã và 1 thị trấn: Bảo Đài, Bắc Sơn,
Bắc Lũng, Bình Sơn, Cẩm Lý, Cƣơng Sơn, Chu Điện, Đan Hội, Đông Phú,
Đông Hƣng, Huyền Sơn, Khám Lạng, Lan Mẫu, Lục Sơn, Nghĩa Phƣơng,
Phƣơng Sơn, Tam Dị, Tiên Nha, Tiên Hƣng, Thanh Lâm, Trƣờng Giang,
Trƣờng Sơn, Vũ Xá, Vô Tranh, Yên Sơn và Thị trấn Lục Nam.
Ngày 18-2-1997, Chính phủ ra Nghị định số 19/CP thành lập Thị trấn
Đồi Ngô trên cơ sở tách một phần dân cƣ từ xã Chu Điện, Tiên Hƣng, Tam
Dị. Thị trấn huyện lị Đồi Ngô đƣợc đầu tƣ qui hoạch, xây dựng kết cấu hạ
tầng thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện.
1.2. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
Lục Nam là huyện miền núi, nằm ở phía Đông - Nam của tỉnh Bắc
Giang, có diện tích tự nhiên 59.858 ha. Địa hình của huyện chia thành ba
vùng: vùng núi, vùng trung du và chiêm trũng. Diện tích đất nông nghiệp là
14.800 héc ta, diện tích đất rừng và đồi là 31.170 héc ta.
Huyện Lục Nam nằm ở vị trí từ 21 độ 11 phút đến 21 độ 27 phút vĩ độ
Bắc; từ 106 độ 18 phút đến 106 độ 41 phút kinh độ Đông. Phía Bắc huyện
Lục Nam giáp huyện Lục Ngạn, phía Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam
giáp hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Dƣơng, phía Đông giáp huyện Sơn Động,

Đất đai của huyện Lục Nam rất đa dạng. Đất đồi, đƣợc hình thành chủ
yếu do sự phong hóa của các loại đá mẹ sa thạch và phiến thạch, một phần do
sự phong hoá của đất phù sa cổ, do đó đất đồi của Lục Nam nghèo dinh
dƣỡng. Đất ruộng, loại đất này cũng có nhiều loại nhƣng chủ yếu đƣợc chia
làm 3 nhóm là đất ruộng lúa nƣớc có nguồn gốc Feralit, có nguồn gốc Feralit
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 9 of 166.




Header Page 10 of 166.
10
bạc mầu và lúa nƣớc có nguồn gốc phù sa. Nhìn chung, đất ruộng của Lục
Nam diện tích không lớn, ít dinh dƣỡng.
Toàn huyện có 26.300 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên và rừng tái sinh
là 14.300 ha. Rừng nguyên sinh với hai ba tầng cây, tầng thứ nhất với các loại
hầu hết là gỗ quý nhƣ đinh, lim, sến, táu, dẻ; tầng thứ hai là những cây thấp cây bụi nhƣ tre, nứa, song, mây. Tuy nhiên, do khai thác chƣa hợp lí nên rừng
nguyên sinh diện tích còn lại không nhiều, chủ yếu là rừng tái sinh, khó định
tầng, bề ngoài rậm rạp, độ che tán lớn, nhƣng bên trong rỗng, cây to gỗ lớn
còn lại ít, phần lớn là gỗ tạp hoặc rừng tre, nứa xen gỗ tạp. Nhiều nơi, chân
núi và sƣờn núi vẫn còn rừng cây che phủ nhƣng đến gần đỉnh núi chỉ có cây
bụi hoặc sim, mua, ràng ràng, cỏ gianh. Huyện Lục Nam có mỏ than bùn khá
lớn, tập trung chủ yếu ở 2 xã là Lục Sơn và Trƣờng Sơn. Ngoài ra còn có đất
sét, có hai loại là đất sét chịu lửa và đất sét làm gạch ngói.
Nhìn chung, huyện Lục Nam có điều kiện thuận lợi về đất, nƣớc, rừng
để phát triển nền nông lâm nghiệp đa dạng về cây trồng, vật nuôi đảm bảo
cuộc sống ổn định cho đồng bào các dân tộc tại địa phƣơng.
1.3. Nguồn gốc ngƣời Dao ở huyện Lục Nam

+ Dao Thanh Y (Dao Ban Y, Dao Chàm)
+ Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao Áo Dài, Dao Tẻn) [ 8, tr36]
Về tiếng nói ngôn ngữ dân tộc Dao đƣợc các nhà nghiên cứu xếp vào
ngữ hệ Mông - Dao. Đến nay ngƣời Dao chƣa có chữ viết riêng, từ xa xƣa,
đồng bào dựa vào chữ Hán để phiên âm ra chữ Nôm gọi là chữ Nôm Dao và
sử dụng bộ chữ này để ghi chép gia phả, sách cúng, sáng tác truyện, thơ… Về
tiếng nói, các nhóm Dao đều nói chung một thứ tiếng, đó là tiếng Dao. Sự
khác nhau về tiếng nói giữa các nhóm không nhiều, chỉ trong một số ít từ và
thanh điệu. Cũng nhƣ tiếng Dao trong cả nƣớc, tiếng Dao ở Bắc Giang cũng
gồm hai phƣơng ngữ: phƣơng ngữ thứ nhất gồm hai nhóm Dao là Lô Gang,
Thanh Phán; phƣơng ngữ thứ hai có nhóm Dao Thanh Y. Tại thời điểm hiện
tại, ngƣời Dao sinh sống tại các bản thuộc các xã của Lục Nam vẫn nói tiếng
Dao trong sinh hoạt hàng ngày. Nhƣng khi có khách là ngƣời dân tộc khác họ
cũng có thể nói đƣợc tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp thứ hai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 11 of 166.




Header Page 12 of 166.
12
Ở Bắc Giang, thế kỉ XVII, nhóm Dao Thanh Y từ Quảng Đông và Móng
Cái qua Lục Ngạn, đến Bắc Giang, sang sông Đuống rồi ngƣợc lên Tuyên
Quang. Một bộ phận khác lên Yên Bái và Lào Cai, đƣợc gọi là Dao tuyển.
Thế kỉ XVIII, một bộ phận dân tộc Dao từ Quảng Đông và Quảng Tây vào
Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, đó là nhóm Dao Lô Gang [ 21, tr.10].
Nhƣ vậy, dân tộc Dao ở Bắc Giang chủ yếu thuộc các nhóm Dao Thanh
Y, Dao Thanh Phán và Dao Lô Gang. Hiện nay họ sống thành làng riêng hoặc

Tên tự gọi nữa của đồng bào là Dìu Miền, âm Hán Việt: Dìu là Dao,
Miền là ngƣời; có nghĩa là ngƣời Dao. Tên gọi Dao đƣợc nhắc nhiều trong
các truyện truyền miệng, truyện cổ. Theo tài liệu “Người Dao ở Việt Nam”,
tên gọi Dao còn đƣợc ghi trong các thƣ tịch cổ của Trung Quốc. Chẳng hạn
sách “Thuyết man” viết: “Man bắt đầu từ Ngũ Khê gọi là Bàn Hồ ở rải rác
khắp vùng Sở Việt gọi là Dao, lúc bấy giờ có công nên được miễn giao dịch
gọi là Mạc Dao, về sau gọi sai đi là Dao”. Sách “Quế hải ngu hành chí” viết:
“ Người Dao vốn dòng dõi Bàn Hồ ở Ngũ Khê…”. [28, tr. 8]
Nhƣ vậy, “Dao” là tên tự nhận của ngƣời Dao, nó gắn với lịch sử hình
thành tộc ngƣời và đƣợc họ thừa nhận. vào những thập kỉ 60 – 70 của thế kỉ
trƣớc, các nhà khoa học đã đề xuất và đƣợc Chính phủ công nhận “Dao” là
tên gọi chính thức.
1.3.2. Địa bàn cư trú
Ngƣời Dao ở Việt Nam cƣ trú ở cả ba vùng: vùng cao, vùng giữa, và
vùng thấp. Sống ở vùng cao (trung bình từ 800 - 1000m) phần nhiều là ngƣời
Dao Đỏ, một bộ phận Dao Tiền, Dao Làn Tẻn. Cƣ trú ở vùng giữa (trung bình
từ 400-600m) chủ yếu là ngƣời Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Thanh
Phán. Vùng thấp, chuyển tiếp giữa vùng núi và đồng bằng (độ cao khoảng
200m) là địa bàn cƣ trú của ngƣời Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao
Tiền v.v ...Ở Bắc Giang, dân tộc Dao là một trong 7 thành phần dân tộc chủ
yếu của tỉnh, sinh sống chủ yếu ở Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế.
Tuy số lƣợng không đông lắm, dân số 7.337 ngƣời (số liệu năm 2003), đứng
thứ 7 về dân số trong 7 dân tộc chủ yếu sinh sống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
và quá trình cƣ trú tại Bắc Giang chƣa lâu song đồng bào đã ổn định cuộc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 13 of 166.




Thanh Y

2

Văn Non

Lục Sơn

178

925

Thanh Y

3

Đồng Đỉnh

Bình Sơn

115

480

Thanh Phán

4

Vua Bà


Thanh Phán

Vô Tranh

20

90

Thanh Phán

7

Số hộ Số khẩu

Nhóm

(Phiếu khảo sát về Các giá trị văn hóa truyền thống của gia đình các dân
tộc huyện Lục Nam, tháng 10 năm 2009)
Ngƣời Dao Thanh Phán và Dao Thanh Y sinh sống tại các thôn bản của
huyện Lục Nam đã coi đây là quê hƣơng của mình, đang đóng góp công sức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 14 of 166.




Header Page 15 of 166.
15
xây dựng cuộc sống, xây dựng quê hƣơng ngày càng giàu đẹp. Thôn bản của




Header Page 16 of 166.
16
thôn, đƣợc dân bản tôn trọng. Hiện nay, ngƣời phụ trách các tổ chức đoàn thể
nhƣ Chi hội Phụ nữ, Chi hội Nông dân, Chi hội Cựu chiến binh, chi đoàn
thanh niên, ban công tác mặt trận và nhất là vai trò của chi bộ Đảng ở thôn,
bản có tiếng nói giúp trƣởng thôn, bản làm tốt hơn nhiệm vụ của mình.
Ngoài khu vực cƣ trú, mỗi thôn bản còn có đất canh tác, rừng núi, suối,
ao, đƣờng đi… hợp lại thành đất bản. Ranh giới giữa các bản có tính ƣớc lệ
nhƣng đƣợc tôn trọng. Trong địa vực đất bản, các gia đình đƣợc quyền khai
phá nƣơng rẫy nhƣng không đƣợc khai phá rừng đầu nguồn, rừng cấm, chỗ
đất đã có chủ (đƣợc đánh dấu bằng cọc gỗ nhỏ hoặc gài lá gianh). Hết thời
điểm phát nƣơng mà ngƣời đánh dấu không khai phá, coi nhƣ đất vô chủ. Nếu
tranh chấp nƣơng đã đánh dấu thì cây nêu của ai cắm trên mảnh đất đó lá héo
hơn, đất thuộc về ngƣời đó. Mảnh nƣơng đã canh tác, bỏ hoá hai, ba vụ vẫn
của chủ cũ. Đất công (đƣờng đi, suối, rừng cấm, bãi chăn thả…) do ngƣời
đứng đầu bản quản lý, các hộ dân trong bản có trách nhiệm giữ gìn, tu sửa,
bảo vệ. Nhiều bản ngƣời Dao có quy định về bảo vệ rừng và nguồn nƣớc khá
chặt chẽ. Tiêu biểu nhƣ bản Đồng Vành, xã Lục Sơn, huyện Lục Nam. Mỗi
bản đều có một khu rừng đầu nguồn, ở đó thần rừng trú ngụ, rất thiêng, không
ai đƣợc thu hái măng, vầu, nứa, chặt củi. Nếu để trâu bò vào rừng làm đổ cây,
gẫy măng thì bị phạt khá nặng.
Đối với nguồn nƣớc duy trì sản xuất và sinh hoạt, đồng bào thƣờng
xuyên tu sửa, khơi dòng lấy nƣớc đầu nguồn. Ai thả xác súc vật chết vào
nguồn nƣớc ăn thì phải làm lại máng nƣớc và khơi nguồn nƣớc khác cho
ngƣời bị hại. Đồng bào cũng quy định không đƣợc chôn cất ngƣời chết gần
nguồn nƣớc. Sông suối chảy qua thôn bản nào thì thôn bản đó quản lý. Nguồn
thuỷ sản (cá, tôm, cua, ốc, hến…) dân bản đều đƣợc hƣởng nhƣng không

em dâu, con dâu.
Ngƣời Dao ở Lục Nam có các họ chính: Bàn, Đặng, Triệu, Trƣơng,
Trần, Lã, Lý. Trong các họ Dao, họ Bàn đƣợc coi là gốc. Mỗi dòng họ thƣờng
có một trƣởng họ do các gia đình trong dòng họ cử ra. Nhà trƣởng họ gọi là
nhà lớn, nơi đặt bàn thờ ông tổ, nơi cúng lễ, ăn tết và cấp sắc chung cho các
thành viên trong họ. Trƣởng họ có trách nhiệm chủ trì lễ cấp sắc, lễ cúng bàn
Vƣơng, là đầu mối quán xuyến việc giúp đỡ các gia đình trong tông tộc làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 17 of 166.




Header Page 18 of 166.
18
nhà, tổ chức đám cƣới, chia gia tài, làm ma, chay,.. Ngƣợc lại, các thành viên
trong dòng họ có bổn phận giúp đỡ lẫn nhau tận tình khi có nhà gặp khó khăn,
hoạn nạn.
Bộ nữ phục nhóm Dao Thanh Y gồm có: quần dài (khoa), áo dài (gủi),
mũ (mâu), khăn (plảu mìn), yếm (tùng pàn), thắt lƣng (thỉn làng). Đặc điểm
của nhóm là phụ nữ thƣờng đội chiếc mũ nhỏ có gắn nhiều chiếc cúc tròn
bằng bạc ở vòng quanh mặt ngoài, trên áo thêu hoa văn trang trí hình ngƣời
đội hoa. Phụ nữ nhóm Dao Thanh Y để tóc dài, búi tóc lên đỉnh đầu, đội mũ
hình tròn. Cốt mũ bằng sơ mƣớp, ngoài lợp chỉ đen, quanh thành mũ gắn hai
hàng khuy bạc song song (đƣờng kính mỗi khuy trên 1,5cm), mỗi hàng gồm
40 khuy; đỉnh mũ phẳng, có gắn ngôi sao bạc tám cánh hoặc mƣời cánh,
đƣờng kính của sao xấp xỉ đƣờng kính mặt phẳng tròn của đỉnh mũ. Bên
ngoài mũ phủ chiếc khăn nhỏ mầu đỏ hoặc trắng thêu hoa văn, có hai dải vải,
mỗi dải rộng 4-5cm, mầu đỏ, đính từ hai góc khăn, thả buông hai bờ vai. Áo

ngắn cài khuy bên sƣờn phải nhƣ áo của ngƣời Hoa.
Kể chuyện là hình thức sinh hoạt văn hóa rất độc đáo của ngƣời Dao.
Hầu hết các truyện thần thoại, truyện cổ tích của ngƣời Dao đều đƣợc viết
thành thơ. Do đó có thể vừa đọc, vừa hát khi kể. Thƣờng trong các buổi lễ cầu
mùa, lễ cấp sắc kéo dài nhiều ngày, những ngƣời già thƣờng kể chuyện cho
con cháu nghe bên bếp lửa. Cũng có khi trong cuộc hát, hai bên hát về một
câu chuyện cổ với mục đích thử sự hiểu biết của đối phƣơng. Với cách hát
này, cùng một câu chuyện song mỗi bên lần lƣợt hát từng đoạn sau đó dừng
lại để bên kia phải hát tiếp. Bên nào không tiếp tục hát đƣợc coi nhƣ kém cỏi.
Do đó những câu chuyện cổ đƣợc phổ biến rất rộng trong cộng đồng.
Hát dân ca (báo dung) là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần đã
tồn tại từ lâu đời trong cộng đồng dân tộc Dao ở Lục Nam. Dân ca Dao đƣợc
cất lên trong nhiều trƣờng hợp, nhiều hoàn cảnh khác nhau chứ không đơn
thuần là những lời ca giải trí khi nhàn rỗi, lời hát giao duyên của nam nữ
thanh niên. Hát dân ca đặc sắc nhất là loại hình hát giao duyên. Thời gian tổ
chức hát thƣờng vào lúc nông nhàn, nhất là vào dịp lễ hội.
Cũng nhƣ các tộc ngƣời khác, vào đầu mùa xuân, ngƣời Dao Lục Nam
tổ chức nhiều lễ hội (xíp bịp xuân). Những lễ hội này thƣờng đƣợc tổ chức tại
các ngôi đình, chùa - địa điểm mà đồng bào cho là linh thiêng nhất trong bản,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 19 of 166.




Header Page 20 of 166.
20
nơi cƣ ngụ của các vị thánh thần. Tiêu biểu nhất là lễ hội đền Khe Cát, xã
Trƣờng Sơn đƣợc tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng âm lịch, lễ hội đền Khuôn


Header Page 21 of 166.
21
CHƢƠNG 2

TRI THỨC DÂN GIAN TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP CỦA NGƢỜI DAO HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG TRONG TRUYỀN THỐNG
2.1. Quan niệm về tri thức dân gian
Tri thức dân gian, kiến thức truyền thống (Traditionnal knowledge) hay
kiến thức địa phƣơng (Local knowledge) là hệ thống các kiến thức của các
cộng đồng dân bản địa trên quy mô lãnh thổ khác nhau. Nó đƣợc hình thành,
tồn tại và phát triển lâu dài cùng với lịch sử phát triển cụ thể của cộng đồng,
với sự tham gia của tất cả các thành viên trong cộng đồng [44, tr.23]. Tri thức
dân gian bao hàm tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội nhƣ: nông nghiệp,
sức khỏe, giáo dục… Trong nông nghiệp, tri thức dân gian đƣợc thể hiện
trong trồng trọt và chăn nuôi. Về trồng trọt: các giống cây bản địa, kinh
nghiệm xác định giống nào cây ấy, lịch thời vụ và dự đoán thời tiết, các kinh
nghiệm tƣới tiêu, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, cách thu hoạch và bảo
quản, cất trữ lƣơng thực, các kinh nghiệm sản xuất trên đất dốc, nƣơng rẫy.
Trong chăn nuôi: kinh nghiệm chọn giống gia súc, quản lý bãi chăn thả theo
mùa, các cây lƣơng thực cho gia súc, các cây thuốc cho gia súc…
Kiến thức dân gian đƣợc hình thành và biến đổi liên tục qua nhiều thế
hệ trong một cộng đồng địa phƣơng nhất định. Tri thức dân gian là sản phẩm
đƣợc tạo ra trong quá trình lao động sản xuất của toàn cộng đồng. Theo thời
gian, các kinh nghiệm truyền thống này đƣợc biến cải để ngày càng hoàn
thiện hơn, nghĩa là có hiệu quả và thích ứng cao hơn với các thay đổi của môi
trƣờng tự nhiên và xã hội. Theo dòng lịch sử, nhiều kiến thức cũ đã không
còn ý nghĩa nên mất đi, các kiến thức địa phƣơng mới đang liên tục đƣợc nảy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

do không đƣợc ghi chép thành văn bản, vì vậy mà việc nghiên cứu và bảo tồn
là rất quan trọng. Nghiên cứu tri thức dân gian sẽ nâng cao đƣợc nhận thức về
kho tàng kiến thức bản địa đối với sự phát triển. Quá trình phát triển và sự gia
tăng dân số đã thúc đẩy sự thất lạc của tri thức dân gian. Việc thực hiện các
dự án ở vùng cao là hết sức quan trọng nhƣng để đạt hiện quả cao thì các nhà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 22 of 166.




Header Page 23 of 166.
23
khoa học không thể bỏ qua việc kết hợp giữa kiến thức hiện đại và những tri
thức dân gian, đây cũng là yếu tố tao ra sự phát triển bền vững.
Tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang vừa là những kinh nghiệm của cuộc sống xã hội
do các thế hệ trƣớc để lại, lại vừa là những kinh nghiệm của các thế hệ hôm
nay tích lũy, bổ sung nhƣng nó cũng tiếp thu những kinh nghiệm dân gian
của các thành phần dân tộc khác ở trong và ngoài tỉnh. Do đó, khi nói về
những tri thức dân gian trong sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao ở huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là nói về một địa phƣơng nhƣng nó không thể
không có những nét chung mà các thành phần dân tộc khác, địa phƣơng
khác cũng có. Vì thế việc hiểu tƣờng tận những tri thức dân gian ở Bắc
Giang là hết sức quan trọng.
2.2. Hệ thống tri thức dân gian về sản xuất nông nghiệp của ngƣời Dao
Lục Nam trong truyền thống
Cũng nhƣ các dân tộc khác ở khu vực phía Bắc, hoạt động kinh tế chủ
yếu của ngƣời Dao ở Lục Nam là nông nghiệp. Trồng trọt và chăn nuôi đƣợc

nhất. Do là nguồn nƣớc chính phục vụ cho canh tác nƣơng rẫy nên thời gian
sinh trƣởng của cây lúa nƣơng và các giống cây trồng khác đều phải gắn với
mùa mƣa. Nƣơng chỉ làm một vụ và phải trùng vào mùa mƣa để đảm bảo đủ
nƣớc cho lúa suốt thời gian sinh trƣởng.
Chọn đất
Trƣớc kia đồng bào Dao ở Lục Nam chỉ làm nƣơng du canh với kĩ
thuật “đao canh hỏa chủng” nguyên thủy. Thời gian canh tác ở mỗi mảnh
nƣơng là hết sức hạn chế, khi đất trồng bị bạc mầu, năng suất giảm thì đồng
bào bỏ để tìm nƣơng mới. Việc chọn đất có ý nghĩa quyết định đến sự thành
bại của mỗi vụ mùa sản xuất. Theo các bậc cao niên, khi chọn đất phát nƣơng,
nên chọn các khu rừng già. Đất ở đây thƣờng có mầu vàng sậm hoặc mầu nâu
đen do lớp mùn phân hủy từ lá rừng rụng xuống, phủ lên hết lớp này đến lớp
khác. Kinh nghiệm dân gian cho thấy, đất nƣơng gốc rừng già bao giờ cũng
tơi xốp, độ phì nhiêu cao, giữ ẩm tốt hơn so với các loại đất khác và phù hợp
với nhiều loại cây trồng [56]. Khi chọn nơi để phát nƣơng đồng bào cũng tính
đến khả năng mở rộng diện tích canh tác cho những vụ sau. Vì vậy nƣơng của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 24 of 166.




Header Page 25 of 166.
25
ngƣời Dao thƣờng ở cách xa nhau, mỗi gia đình chiếm cứ một vài vạt đồi
rộng, năm nay chƣa khai thác hết, năm sau tiếp tục khai quang để mở rộng
diện tích. Nƣơng rẫy của ngƣời Dao thƣờng ở xa bản, một mặt là do tập quán
qui định nhƣng mặt khác là do những nơi ở gần thì đều đã đƣợc khai thác cạn
kiệt, không còn khả năng trồng tỉa nữa. Khi tìm đƣợc một mảnh nƣơng vừa ý,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status